Tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố đà nẵng tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM PHÚ HƯNG

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG: TÌNH HÌNH,
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN, PHÒNG NGỪA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM PHÚ HƯNG

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG: TÌNH HÌNH,
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN, PHÒNG NGỪA

Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM VĂN TỈNH

HÀ NỘI, năm 2019


Tiểu kết Chương 2 ........................................................................................... 51
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA
TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................. 52
3.1. Dự báo tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.................................................................................................... 52
3.2. Các giải pháp phòng ngừa tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng ................................................................................... 54
Tiểu kết Chương 3 ........................................................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT

An ninh trật tự

BLHS

Bộ luật hình sự

CAND

Công an nhân dân

CHXHCN

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa


Tòa án nhân dân

THTP

Tình hình tội phạm

TNHS

Trách nhiệm hình sự

TTHS

Tố tụng hình sự

TTXH

Trật tự xã hội

UBND

Ủy ban Nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát Nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

1


trị xã hội, hủy hoại nòi giống và hủy hoại cả bản thân con người.
Trong nhiều năm qua, Đảng và chính quyền cấp Trung ương cũng như
địa phương (Đà Nẵng) liên tục quan tâm chỉ đạo sát sao công tác phòng,
chống tệ nạn nói chung và tội phạm ma túy nói riêng, song tình hình tội phạm
(THTP) về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn tồn tại và chiếm tỷ
phần không nhỏ. Trong 05 năm (2014 - 2018), Tòa án Nhân dân (TAND) các
cấp thuộc thành phố Đà Nẵng đã tiến hành xét xử hình sự sơ thẩm (HSST)
688 vụ, với 980 bị cáo phạm các tội về ma túy, chiếm 18,8 % số vụ; 15,8% số
bị cáo trong THTP tại thành phố Đà Nẵng. Trong đó, tội mua bán trái phép
chất ma túy (CMT) là 272 vụ, 432 bị cáo, chiếm 39,5% số vụ và 44,1% số bị
cáo, tức là tội phạm này chiếm tỷ phần đặc biệt cao.
Vậy tại sao các tội phạm về ma túy nói chung và tội mua bán trái phép
CMT nói riêng vẫn xảy ra và duy trì ở mức độ cao như vậy? Thực tế này đòi hỏi
phải có nghiên cứu chuyên sâu trên nền tảng hướng dẫn của khoa học chuyên
ngành, hoặc theo hướng chống, hoặc theo hướng phòng ngừa. Và ở đây, đề tài
được chọn theo hướng phòng ngừa với tên gọi cụ thể là: “Tội mua bán trái phép
chất ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Tình hình, nguyên nhân và điều
kiện, phòng ngừa”, tức là đề tài lấy chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa
tội phạm làm cơ sở lý luận để thực hiện việc nghiên cứu trên một địa bàn cụ thể thành phố Đà Nẵng, trong thời gian 05 năm (từ 2014 đến 2018).
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Các công trình lý luận tội phạm học
Để có cơ sở thực hiện đề tài, các công trình khoa học sau đây đã được
nghiên cứu:
- “Tội phạm học, Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” Nxb.
Chính trị quốc gia, 1994;
- “Tội phạm học Việt nam-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Viện
Nhà nước và Pháp luật, Nxb. CAND, năm 2000;

ngành như:

3


+ Nguyễn Tiến Dũng (2018), Thực trạng lo ngại về ma túy, tội phạm ma túy
- những hạn chế, nguyên nhân và một số kiến nghị, Tạp chí TAND, Hà Nội.
+ Lăng Sỉ U Đôm (2018), Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy ở Nước CHDCND Lào, Tạp
chí CSND, Hà Nội.
+ Bùi Thị Quỳnh Phương (2018), Phòng ngừa tội phạm ma túy trong
tiến trình hội nhập Quốc tế, Tạp chí TAND, Hà Nội.
Các đề tài khoa học được nêu trên đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm về ma túy trên phạm vi cả nước
hoặc một địa bàn cụ thể và đều có giá trị kế thừa đối với việc nghiên cứu đề
tài: “Tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:
Tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc làm rõ tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng (từ năm 2014 đến năm 2018) để xác định nguyên nhân và
điều kiện của tình hình tội phạm này, từ đó đưa ra các dự báo và kiến nghị
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm mua
bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả đặt ra và thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018;
+ Phân tích, xác định nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội mua bán
trái phép CMT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018;

liệu thống kê thường xuyên của Tòa án về tội: “Tàng trữ, vận chuyển, mua
bán hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy” (Điều 194), bằng phương pháp
thống kê tách riêng tội mua bán trái phép CMT.

5


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Về phương pháp luận, đề tài triệt để vận dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề do
tên đề tài đặt ra.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Biện chứng; Hệ thống; Lô-gich; Kế thừa; Mô tả; Tổng
hợp; Phân tích, so sánh; Chuyên gia; Lịch sử và nghiên cứu điển hình.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài là công trình khoa học, nghiên cứu tội mua bán trái phép CMT
một cách toàn diện, hệ thống và nhất quán dưới góc độ tội phạm học Việt
Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các trường Luật, các trường CAND, Học
viện Khoa học xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm mua bán trái phép CMT nói
riêng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được cấu trúc thành 3 chương, gồm:
Chương 1: Tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn

1.1. Phần hiện của tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
1.1.1. Mức độ (tình trạng) của tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy
Mức độ của THTP là đặc điểm định lượng tiêu biểu, cho biết về toàn bộ
số người phạm tội cùng số tội phạm do họ thực hiện trong một đơn vị thời
gian và không gian nhất định [02, tr. 91- 92].

7


Để nhìn nhận một cách toàn diện về mức độ của THTP, ta cần dựa trên
cả 3 tiêu chí: Mức độ tổng quan tuyệt đối, tổng quan tương đối và tổng quan
so sánh.
* Mức độ tổng quan tuyệt đối
Theo số liệu thống kê của TAND thành phố Đà Nẵng, từ năm 2014 đến
năm 2018, ngành tòa án thành phố đã xét xử HSST 272 vụ, 432 bị cáo phạm
tội mua bán trái phép CMT. Trong đó: Năm 2104: 39 vụ, 66 đối tượng; Năm
2015: 33 vụ, 60 đối tượng; Năm 2016: 53 vụ, 77 đối tượng; Năm 2017: 63 vụ,
99 đối tượng; Năm 2018: 84 vụ, 130 đối tượng. Bình quân mỗi năm ngành
TAND thành phố xét xử HSST 54,4 vụ, 86,4 đối tượng phạm tội mua bán trái
phép CMT (Xem Phụ lục, Bảng 1.1).
Đối tượng của tội phạm mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng là: Ma túy có nguồn gốc tự nhiên (Cần sa), bán tổng hợp (Heroin) và
ma túy tổng hợp (MTTH) (MDMA, Methamphetamin, Ketamin). Trong đó,
phổ biến và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây là MTTH. Trong
05 năm, lực lượng chuyên trách phòng chống ma túy đã thu giữ 19.602,06 g
MTTH các loại (Xem Phụ lục, Bảng 1.2).
* Mức độ tổng quan tương đối
- Mức độ tổng quan tương đối dựa trên cơ số tội mua bán trái phép CMT
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, trong giai đoạn nghiên cứu:

và THTP về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:
Trong 05 năm (2014 - 2018), ngành Tòa án thành phố đã xét xử HSST
688 vụ, 980 bị cáo phạm các tội về ma túy. Trong đó, tội mua bán trái phép
CMT chiếm bình quân 39,5% số vụ và 44,1% bị cáo (Xem Phụ lục, Bảng
1.6). Số liệu trên cho thấy tính tương quan giữa tội mua bán trái phép CMT
với các tội về ma túy khác quy định tại Chương XX của BLHS 2015.
* Mức độ tổng quan so sánh
Kết quả phân tích tại Bảng 1.7 cho thấy: So với các địa phương lân cận

9


là Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi, tội mua bán trái phép
CMT tại thành phố Đà Nẵng chiếm 40,9% số vụ; 42,1% số đối tượng trên
tổng số, cao khoảng 02 lần so với các địa phương được so sánh. Tuy nhiên, sự
so sánh này chỉ mang tính tham khảo vì điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
những đơn vị hành chính này vẫn còn khác nhau ở nhiều phương diện.
Những con số được nêu và phân tích trên đây cho chúng ta thấy rõ tình
trạng (mức độ) của tội mua bán trái phép CMT, trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018.
1.1.2. Động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm mua bán trái phép
CMT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Động thái của THTP là sự vận động một cách tự nhiên của THTP theo
thời gian. Đo lường được sự vận động này là một bài toán vô cùng phức tạp.
Để bảo đảm tính khả thi, động thái của THTP cần được hiểu một cách đơn
giản là sự vận động của mức độ và cơ cấu của THTP theo thời gian, kèm theo
đó là lời giải thích sự vận động đó trên cơ sở của thực tiễn đời sống xã hội
[02, tr.94].
Việc đánh giá diễn biến của THTP không thể căn cứ và số vụ án, bị can đã
khởi tố hằng năm, vì không phải tất cả các vụ án thụ lý đều được đưa ra xét xử

yếu sau:
- Tác động bởi THTP và tệ nạn ma túy
Theo thống kê từ Bộ Công an, trong những năm gần đây, THTP và tệ
nạn ma túy diễn biến hết sức phức tạp và thể hiện xu hướng biến động tăng cả
về số vụ án và đối tượng. Cụ thể, năm 2016 lực lượng chuyên trách phòng
chống ma túy cả nước đã phát hiện, bắt giữ 19.315 vụ, 31.001 nghi can; Năm
2017 là 22.346 vụ, 34.494 nghi can; Năm 2018 là 24.500 vụ, 38.000 nghi can.
Số lượng vật chứng thu giữ cũng tăng hơn 100% trong 03 năm nghiên cứu.
Số liệu từ VKSND Tối cao cũng chỉ ra rằng, trong 10 năm (2007 2017), án ma túy liên tục tăng cả về số vụ và số bị can. Năm 2007, cả nước có

11


hơn 10.900 vụ án, với gần 15.000 bị can, thì đến năm 2017, con số này đã
tăng gấp 10 lần với hơn 19.800 vụ và 24.800 bị can. Trong 05 năm (2014 2018), ngành TAND cả nước cũng đã xét xử HSST 79.843 vụ, 101.174 bị cáo
phạm các tội về ma túy. Trong đó, các tội tàng trữ trái phép CMT, vận chuyển
trái phép CMT và mua bán trái phép CMT chiếm đến 99% tổng số. Trong 05
năm, tội phạm về ma túy cả nước chỉ có 01 biến động giảm duy nhất vào năm
2015. Theo thống kê từ TAND tối cao, năm 2015, số vụ án về ma túy giảm
13,3%, số đối tượng giảm 16,2% so với cùng kì năm 2014.
Tại thành phố Đà Nẵng, THTP về ma túy cũng biến động tăng và diễn
biến phức tạp. Từ năm 2014 đến năm 2018, ngành TAND thành phố đã xét xử
HSST 688 vụ, 980 đối tượng phạm các tội về ma túy. Tính đến năm 2018 đã
tăng 90,4% số vụ; 89,4% số đối tượng với mốc nghiên cứu là năm 2014.
Trong giai đoạn nghiên cứu, chỉ có một biến động giảm vào năm 2015 (giảm
1,92% số vụ; 2,65% số đối tượng). Riêng tội mua bán trái phép CMT giảm
15,4% số vụ; 9,1% bị cao so với cùng kì năm 2014.
THTP và tệ nạn ma túy cả nước và thành phố Đà Nẵng gia tăng và diễn
biến phức tạp đã tác động đến tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng, làm tình hình tội này có biến động tăng trong các

năm 2014 đến năm 2018 được thể hiện qua những loại cơ cấu sau đây:
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng so với THTP về ma túy cả nước từ năm 2014 đến năm 2018.
Trong 05 năm ngành Tòa án thành phố Đà Nẵng đã xét xử HSST 272 vụ,
432 bị cáo phạm tội mua bán trái phép CMT, chiếm 0,34% số vụ và 0,42% số
bị cáo so với THTP về ma túy cả nước (Xem Phụ lục, Bảng 1.10).
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT so với THTP nói
chung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018.
Tội mua bán trái phép CMT tại thành phố Đà Nẵng bình quân chiếm
7,43% số vụ; 6,98% số bị cáo trong tổng THTP tại thành phố Đà Nẵng. Vào

13


năm 2018 chỉ số này tăng lên 10,66% số vụ; 9,66% số bị cáo (Xem Phụ lục,
Bảng 1.5). Theo thống kê của Văn phòng Cơ quan CSĐT - Công an thành phố
Đà Nẵng, các tội chiếm tỷ lệ cao trong THTP là: Trộm cắp tài sản (bình quân
chiếm 31,6% số vụ; 26,9% số đối tượng); Cố ý gây thương tích (bình quân
chiếm 13,2% số vụ; 14,3% số đối tượng); Tàng trữ trái phép CMT (bình quân
chiếm 12,1% số vụ; 9,3% số đối tượng); Mua bán trái phép CMT (bình quân
chiếm 10,4 % số vụ và 8,9 % số đối tượng). Như vậy, mua bán trái phép CMT
là loại tội phạm hết sức phổ biến tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT so với tình hình các
tội về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tội phạm về ma túy chủ yếu là tàng trữ
trái phép CMT (chiếm 57% số vụ, 53% bị cáo); Mua bán trái phép CMT
(chiếm 39,5% số vụ, 44,1% bị cáo); Vận chuyển trái phép CMT (chiếm 3,5%
số vụ và 2,9% bị cáo) (Xem Phụ lục, Bảng 1.11). Trong đó, tội tàng trữ trái
phép CMT tuy chiếm tỷ lệ cao nhưng tính chất, mức độ ít nghiêm trọng hơn so
với tội mua bán trái phép CMT và vận chuyển trái phép CMT. Riêng tội mua

Gián, Vĩnh Trung, Tân Chính, khu vực Núi Cùng - Phường Thạc Gián, khu
vực chung cư Thanh Khê Tây (Quận Thanh Khê) và một số khu vực mới nổi
thuộc Phường Thọ Quang, Mân Thái, An Hải Bắc (Quận Sơn Trà).
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018 theo khung hình phạt.
Theo quy định của BLHS 1999 và BLHS 2015, tội mua bán trái phép
CMT có khung hình phạt thấp nhất là 2 - 7 năm tù, cao nhất là tử hình. Tuy
nhiên, trong 05 năm qua, chưa có trường hợp phạm tội mua bán trái phép
CMT nào bị hội đồng xét xử TAND thành phố tuyên án tử hình. Ngành tư
pháp thành phố Đà Nẵng cũng đã vận dụng điều 47 BLHS 1999 vào thực tế
xét xử để tuyên phạt 13 trường hợp dưới 02 năm tù, chiếm 03%; Từ 07 - 15
năm tù (206 trường hợp, chiếm 47,8%); Từ 15 - 20 năm tù (104 trường hợp,

15


chiếm 24%); Từ 02 - 7 năm tù (103 trường hợp, chiếm 23,9%); Chung thân
(06 trường hợp, chiếm 1,3%) (Xem Phụ lục, Bảng 1.13). Điều đó thể hiện tính
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cần được chú trọng khi đề
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa.
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT, trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018 theo động cơ, mục đích phạm tội.
Động cơ phạm tội là những nguyên nhân tâm lý bên trong; những
nguyên nhân này thôi thúc, thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi phạm tội. Mỗi
cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội của mình đều có những động cơ thúc
đẩy khác nhau. Việc xác định đúng động cơ, mục đích của từng nhóm đối
tượng là cơ sở đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm một cách căn cơ nhất.
Trong 432 bị cáo phạm tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng, có 267 bị cáo (chiếm 61,8%) phạm tội vì lợi ích vật chất. Đứng
thứ 2 là nhóm đối tượng thực hiện tội phạm để thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái

trái phép CMT, Sơn đã liên lạc với một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân
lai lịch) để đặt mua 20gram ma túy tổng hợp dạng đá mang về tiêu thụ.
Phương thức thanh toán là Sơn chuyển tiền cho thanh niên này qua ứng dụng
ví Momo. Sau đó, người này sẽ dùng ứng dụng Grab chuyển hàng đến địa
điểm nhà văn hóa Quận Thanh Khê để Sơn ra nhận.
- Sử dụng các ứng dụng di động để liên lạc, trao đổi thông tin, gây khó
khăn cho việc triển khai các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng công an. Thực
tế trong các vụ án ma túy hiện nay, các đối tượng chủ yếu trao đổi thông tin
qua điện thoại di động và các ứng dụng như Zalo, Viber, Facebook,
Whatsapp... Hiện nay, máy chủ của các ứng dụng này đặt ở nước ngoài.
Ngoài ra, các ứng dụng trên đều có chương trình chủ động xóa tin nhắn và
cuộc gọi sau khi liên lạc, hạn chế tối đa việc lưu trữ thông tin trên điện thoại.
- Sử dụng dịch vụ vận chuyển để giao nhận ma túy. Giao nhận qua nhiều
điểm trung gian. Nhân viên giao nhận thường không biết về số ma túy trong

17


hàng hóa gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý tội phạm. Điển hình: Ngày
30/3/2018, tại địa chỉ K32/8 Phạm Văn Nghị, P. Thạc Gián, Q. Thanh Khê,
thành phố Đà Nẵng, tổ công tác phòng CSĐTTP về ma túy – Công an thành
phố Đà Nẵng bắt quả tang đối tượng Nguyễn Thanh Duy khi Duy đang nhận
500 viên ma túy tổng hợp, dạng “thuốc lắc”, được gửi từ thành phố Hồ Chí
Minh về thành phố Đà Nẵng dưới dạng bưu phẩm thông qua nhà xe Phương
Trang. Khi nhận được tin nhắn từ nhà xe là bưu phẩm đã về đến bến, đối
tượng không trực tiếp đến địa điểm được thông báo để nhận, mà thông qua 01
nhân viên làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa tên Nguyễn Duy Bửu để nhận và
chuyển gói bưu phẩm đến nơi cư trú của mình thì bị phát hiện, bắt giữ.
- Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ nhằm chống đối lực lượng chức năng
khi bị phát hiện, bắt giữ.

phố Đà Nẵng chủ yếu là thành phần không nghề nghiệp (165 bị cáo; 38,2%);
Nghề nghiệp không ổn định (142 bị cáo; 32,9%) (Xem Phụ lục, Bảng 1.17).
Bên cạnh đó, một số đối tượng có nghề nghiệp nhưng lợi dụng đặc thù nghề
nghiệp liên quan đến lĩnh vực kinh doanh có điều kiện về ANTT để mua bán
trái phép CMT. Điển hình: Ngày 24/11/2017, Phòng CSĐTTP về ma túy bắt
quả tang đối tượng Ngô Đức Vinh (22 tuổi, quê Nam Lý, Đồng Hới, Quảng
Bình) về hành vi mua bán trái phép CMT. Lợi dụng vị trí nhân viên bảo vệ
quán bar Phương Đông, thành phố Đà Nẵng, Vinh đã liên hệ một số đầu nậu ở
các tỉnh phía Nam mua ma túy về tiêu thụ. Vì vậy, cơ cấu này cần được chú ý
trong quá trình nghiên cứu, xác định nguyên nhân và điều kiện của THTP này.
- Đặc điểm về trình độ học vấn
Trong 432 bị cáo phạm tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018, có 161 bị cáo có trình độ tiểu học,
trung học cơ sở, chiếm 37,3%; 259 bị cáo có trình độ phổ thông trung học,
chiếm 60%; Số bị cáo không biết chữ và có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại
học chiếm tỷ lệ thấp (xem Phụ lục, Bảng 1.18). Việc số bị cáo là người có

19


trình độ cao đẳng, đại học phạm tội mua bán trái phép CMT là thực tế đáng
báo động cần phải được chú trọng khi đề xuất các giải pháp phòng ngừa.
- Đặc điểm về nơi cư trú
Đối tượng hoạt động phạm tội mua bán trái phép CMT, trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng chủ yếu là người địa phương (372 đối tượng, chiếm
79,6%). Tuy nhiên, số đối tượng ngoại tỉnh đến Đà Nẵng để hoạt động phạm
tội cũng chiếm tỷ lệ đương đối cao (88 đối tượng, chiếm 20,4%) (Xem Phụ
lục, Bảng 1.19). Thực tế trên đặt ra thách thức không nhỏ cho công tác quản
lý quản lý nhà nước về ANTT trong đó có quản lý nhân hộ khẩu, quản lý tạm
trú, tạm vắng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status