MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA
TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG........................................7
1.1. Phần hiện của tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng......................................................................................................7
1.2. Phần ẩn của tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng....................................................................................................25
Tiểu kết Chương 1...........................................................................................31
CHƯƠNG 2. NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH
TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG............................................................................. 34
2.1. Những yếu tố thuộc môi trường sống ở thành phố Đà Nẵng...................34
2.2. Những yếu tố tiêu cực thuộc về chủ thể của tội phạm.............................44
2.3. Các yếu tố tiêu cực thuộc về tình huống tội phạm...................................49
Tiểu kết Chương 2...........................................................................................51
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA
TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG............................................................................. 52
3.1. Dự báo tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng................................................................................................................ 52
3.2. Các giải pháp phòng ngừa tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng..........................................................................................54
Tiểu kết Chương 3...........................................................................................72
KẾT LUẬN.................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT
MTTH
Ma túy tổng hợp
NXB
Nhà xuất bản
PPHS
Phạm pháp hình sự
TAND
Tòa án nhân dân
THTP
Tình hình tội phạm
TNHS
Trách nhiệm hình sự
TTHS
Tố tụng hình sự
TTXH
thành thị 829.400 nhân khẩu và nông thôn 122.260 nhân khẩu, số người từ các
tỉnh, thành phố khác đến tạm trú để làm ăn là 108.627 người. Trong đó, người
Kinh chiếm 99,4%, nữ chiếm khoảng 50.91%, nam 49.09%, tỷ lệ tăng dân số cơ
học hằng năm là 2,62% cao hơn so với cả nước là 1,2%. Cùng với sự phát triển
của cả nước, trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà
Nẵng đã có những bước phát triển đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.
Những đặc điểm về địa lý, tự nhiên, văn hóa, dân cư nêu trên đã góp
phần tạo nên những khả năng, điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ
trong công tác quản lý xã hội, quản lý văn hóa, quản lý con người, được biểu
hiện tập trung ở các dạng tệ nạn xã hội cũng như các loại tội phạm, trong đó
có tệ nạn và tội phạm về ma túy, một loại hiểm họa có sức hủy hoại mọi giá
3
trị xã hội, hủy hoại nòi giống và hủy hoại cả bản thân con người.
Trong nhiều năm qua, Đảng và chính quyền cấp Trung ương cũng như
địa phương (Đà Nẵng) liên tục quan tâm chỉ đạo sát sao công tác phòng,
chống tệ nạn nói chung và tội phạm ma túy nói riêng, song tình hình tội phạm
(THTP) về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn tồn tại và chiếm tỷ
phần không nhỏ. Trong 05 năm (2014 - 2018), Tòa án Nhân dân (TAND) các
cấp thuộc thành phố Đà Nẵng đã tiến hành xét xử hình sự sơ thẩm (HSST)
688 vụ, với 980 bị cáo phạm các tội về ma túy, chiếm 18,8 % số vụ; 15,8% số
bị cáo trong THTP tại thành phố Đà Nẵng. Trong đó, tội mua bán trái phép
chất ma túy (CMT) là 272 vụ, 432 bị cáo, chiếm 39,5% số vụ và 44,1% số bị
cáo, tức là tội phạm này chiếm tỷ phần đặc biệt cao.
Vậy tại sao các tội phạm về ma túy nói chung và tội mua bán trái phép
CMT nói riêng vẫn xảy ra và duy trì ở mức độ cao như vậy? Thực tế này đòi hỏi
CSND, Hà Nội.
+ Ngô Đại Tuấn (2006), Hoạt động phòng ngừa và điều tra các tội phạm
về ma túy của lực lượng Công an cấp huyện, Học viện CSND, Hà Nội.
+ Nguyễn Tuyết Mai (2007), Đấu tranh phòng chống các tội phạm ma
túy ở Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội.
- Ở cấp độ luận văn thạc sỹ, gồm các đề tài sau:
+ Đỗ Tiến Dũng (2013), Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: Tình hình, nguyên nhân và
giải pháp phòng chống, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.
+ Phạm Hồng Thủy (2016), Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy trong Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn xét xử
tại địa bàn thành phố Đà Nẵng), Khoa luật Đại học Quốc gia, Hà Nội.
- Ở cấp độ bài viết về tội phạm và ma túy đăng trên các tạp chí chuyên ngành
như:
+ Nguyễn Tiến Dũng (2018), Thực trạng lo ngại về ma túy, tội phạm ma túy
- những hạn chế, nguyên nhân và một số kiến nghị, Tạp chí TAND, Hà Nội.
+ Lăng Sỉ U Đôm (2018), Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy ở Nước CHDCND Lào, Tạp
chí CSND, Hà Nội.
+ Bùi Thị Quỳnh Phương (2018), Phòng ngừa tội phạm ma túy trong
tiến trình hội nhập Quốc tế, Tạp chí TAND, Hà Nội.
Các đề tài khoa học được nêu trên đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm về ma túy trên phạm vi cả nước
hoặc một địa bàn cụ thể và đều có giá trị kế thừa đối với việc nghiên cứu đề
tài: “Tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:
Tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
chỉnh thể tương thích với đặc thù thành phố Đà Nẵng. Trong đó, các vấn đề đã
nêu trong tên đề tài đã có lý luận tội phạm học dẫn dắt, những lý luận đó phải
được áp dụng để nghiên cứu thực tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;
+ Xét về thời gian và địa bàn (không gian), khi nghiên cứu về hiện trạng,
thì cả ba vấn đề đều được xem xét trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời
gian 05 năm, từ năm 2014 đến năm 2018;
+ Xét về tội danh, đề tài chỉ nghiên cứu tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”, được quy định tại Điều 251 BLHS hiện hành, tức là vào thời gian Bộ
luật này chưa có hiệu lực, việc nghiên cứu phải được thực hiện trên cơ sở số
liệu thống kê thường xuyên của Tòa án về tội: “Tàng trữ, vận chuyển, mua
bán hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy” (Điều 194), bằng phương pháp
thống kê tách riêng tội mua bán trái phép CMT.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Về phương pháp luận, đề tài triệt để vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề do tên
đề tài đặt ra.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như: Biện chứng; Hệ thống; Lô-gich; Kế thừa; Mô tả; Tổng hợp; Phân
tích, so sánh; Chuyên gia; Lịch sử và nghiên cứu điển hình.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài là công trình khoa học, nghiên cứu tội mua bán trái phép CMT
một cách toàn diện, hệ thống và nhất quán dưới góc độ tội phạm học Việt
Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các trường Luật, các trường CAND, Học
viện Khoa học xã hội.
thành phố Đà Nẵng từ 2014 đến 2018. Còn phần ẩn được tạo nên bởi tổng thể
các hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế, song không được phát hiện,
không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống
kê tội phạm [02, tr. 99]. Chương này có nhiệm vụ làm rõ cả hai phần đó của
tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn và thời gian đã định.
1.1. Phần hiện của tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng
1.1.1. Mức độ (tình trạng) của tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy
Mức độ của THTP là đặc điểm định lượng tiêu biểu, cho biết về toàn bộ
số người phạm tội cùng số tội phạm do họ thực hiện trong một đơn vị thời
gian và không gian nhất định [02, tr. 91- 92].
Để nhìn nhận một cách toàn diện về mức độ của THTP, ta cần dựa trên
cả 3 tiêu chí: Mức độ tổng quan tuyệt đối, tổng quan tương đối và tổng quan
so sánh.
* Mức độ tổng quan tuyệt đối
Theo số liệu thống kê của TAND thành phố Đà Nẵng, từ năm 2014 đến
năm 2018, ngành tòa án thành phố đã xét xử HSST 272 vụ, 432 bị cáo phạm
tội mua bán trái phép CMT. Trong đó: Năm 2104: 39 vụ, 66 đối tượng; Năm
2015: 33 vụ, 60 đối tượng; Năm 2016: 53 vụ, 77 đối tượng; Năm 2017: 63 vụ,
99 đối tượng; Năm 2018: 84 vụ, 130 đối tượng. Bình quân mỗi năm ngành
TAND thành phố xét xử HSST 54,4 vụ, 86,4 đối tượng phạm tội mua bán trái
phép CMT (Xem Phụ lục, Bảng 1.1).
Đối tượng của tội phạm mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng là: Ma túy có nguồn gốc tự nhiên (Cần sa), bán tổng hợp (Heroin) và
ma túy tổng hợp (MTTH) (MDMA, Methamphetamin, Ketamin). Trong đó,
phổ biến và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây là MTTH. Trong
05 năm, lực lượng chuyên trách phòng chống ma túy đã thu giữ 19.602,06 g
MTTH các loại (Xem Phụ lục, Bảng 1.2).
- Mức độ tổng quan tương đối của tình hình tội mua bán trái phép CMT và
THTP về ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:
Trong 05 năm (2014 - 2018), ngành Tòa án thành phố đã xét xử HSST
688 vụ, 980 bị cáo phạm các tội về ma túy. Trong đó, tội mua bán trái phép
CMT chiếm bình quân 39,5% số vụ và 44,1% bị cáo (Xem Phụ lục, Bảng
1.6). Số liệu trên cho thấy tính tương quan giữa tội mua bán trái phép CMT
với các tội về ma túy khác quy định tại Chương XX của BLHS 2015.
* Mức độ tổng quan so sánh
Kết quả phân tích tại Bảng 1.7 cho thấy: So với các địa phương lân cận
là Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi, tội mua bán trái phép
CMT tại thành phố Đà Nẵng chiếm 40,9% số vụ; 42,1% số đối tượng trên
tổng số, cao khoảng 02 lần so với các địa phương được so sánh. Tuy nhiên, sự
so sánh này chỉ mang tính tham khảo vì điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
những đơn vị hành chính này vẫn còn khác nhau ở nhiều phương diện.
Những con số được nêu và phân tích trên đây cho chúng ta thấy rõ tình
trạng (mức độ) của tội mua bán trái phép CMT, trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018.
1.1.2. Động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm mua bán trái phép
CMT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Động thái của THTP là sự vận động một cách tự nhiên của THTP theo
thời gian. Đo lường được sự vận động này là một bài toán vô cùng phức tạp.
Để bảo đảm tính khả thi, động thái của THTP cần được hiểu một cách đơn
giản là sự vận động của mức độ và cơ cấu của THTP theo thời gian, kèm theo
đó là lời giải thích sự vận động đó trên cơ sở của thực tiễn đời sống xã hội
[02, tr.94].
Việc đánh giá diễn biến của THTP không thể căn cứ và số vụ án, bị can
đã khởi tố hằng năm, vì không phải tất cả các vụ án thụ lý đều được đưa ra xét
xử mà còn có thể xử lý ở dưới nhiều hình thức khác nhau như, đình chỉ điều
nạn ma túy diễn biến hết sức phức tạp và thể hiện xu hướng biến động tăng cả
về số vụ án và đối tượng. Cụ thể, năm 2016 lực lượng chuyên trách phòng
chống ma túy cả nước đã phát hiện, bắt giữ 19.315 vụ, 31.001 nghi can; Năm
2017 là 22.346 vụ, 34.494 nghi can; Năm 2018 là 24.500 vụ, 38.000 nghi can.
Số lượng vật chứng thu giữ cũng tăng hơn 100% trong 03 năm nghiên cứu.
Số liệu từ VKSND Tối cao cũng chỉ ra rằng, trong 10 năm (2007 - 2017),
án ma túy liên tục tăng cả về số vụ và số bị can. Năm 2007, cả nước có
hơn 10.900 vụ án, với gần 15.000 bị can, thì đến năm 2017, con số này đã
tăng gấp 10 lần với hơn 19.800 vụ và 24.800 bị can. Trong 05 năm (2014 2018), ngành TAND cả nước cũng đã xét xử HSST 79.843 vụ, 101.174 bị cáo
phạm các tội về ma túy. Trong đó, các tội tàng trữ trái phép CMT, vận chuyển
trái phép CMT và mua bán trái phép CMT chiếm đến 99% tổng số. Trong 05
năm, tội phạm về ma túy cả nước chỉ có 01 biến động giảm duy nhất vào năm
2015. Theo thống kê từ TAND tối cao, năm 2015, số vụ án về ma túy giảm
13,3%, số đối tượng giảm 16,2% so với cùng kì năm 2014.
Tại thành phố Đà Nẵng, THTP về ma túy cũng biến động tăng và diễn
biến phức tạp. Từ năm 2014 đến năm 2018, ngành TAND thành phố đã xét xử
HSST 688 vụ, 980 đối tượng phạm các tội về ma túy. Tính đến năm 2018 đã
tăng 90,4% số vụ; 89,4% số đối tượng với mốc nghiên cứu là năm 2014.
Trong giai đoạn nghiên cứu, chỉ có một biến động giảm vào năm 2015 (giảm
1,92% số vụ; 2,65% số đối tượng). Riêng tội mua bán trái phép CMT giảm
15,4% số vụ; 9,1% bị cao so với cùng kì năm 2014.
THTP và tệ nạn ma túy cả nước và thành phố Đà Nẵng gia tăng và diễn
biến phức tạp đã tác động đến tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng, làm tình hình tội này có biến động tăng trong các
năm 2014, 2016, 2017, 2018 và biến động giảm trong năm 2015.
- Sự điều chỉnh của chính sách pháp luật trong việc giám định hàm lượng CMT
có trong tang vật thu được.
Công văn 234/TANDTC-HS, ngày 17/09/2014 của TAND Tối cao nêu
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT so với THTP nói chung trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018.
Tội mua bán trái phép CMT tại thành phố Đà Nẵng bình quân chiếm
7,43% số vụ; 6,98% số bị cáo trong tổng THTP tại thành phố Đà Nẵng. Vào
năm 2018 chỉ số này tăng lên 10,66% số vụ; 9,66% số bị cáo (Xem Phụ lục,
Bảng 1.5). Theo thống kê của Văn phòng Cơ quan CSĐT - Công an thành phố
Đà Nẵng, các tội chiếm tỷ lệ cao trong THTP là: Trộm cắp tài sản (bình quân
chiếm 31,6% số vụ; 26,9% số đối tượng); Cố ý gây thương tích (bình quân
chiếm 13,2% số vụ; 14,3% số đối tượng); Tàng trữ trái phép CMT (bình quân
chiếm 12,1% số vụ; 9,3% số đối tượng); Mua bán trái phép CMT (bình quân
chiếm 10,4 % số vụ và 8,9 % số đối tượng). Như vậy, mua bán trái phép CMT
là loại tội phạm hết sức phổ biến tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT so với tình hình các tội về
ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tội phạm về ma túy chủ yếu là tàng trữ
trái phép CMT (chiếm 57% số vụ, 53% bị cáo); Mua bán trái phép CMT
(chiếm 39,5% số vụ, 44,1% bị cáo); Vận chuyển trái phép CMT (chiếm 3,5%
số vụ và 2,9% bị cáo) (Xem Phụ lục, Bảng 1.11). Trong đó, tội tàng trữ trái
phép CMT tuy chiếm tỷ lệ cao nhưng tính chất, mức độ ít nghiêm trọng hơn so
với tội mua bán trái phép CMT và vận chuyển trái phép CMT. Riêng tội mua
bán trái phép CMT, đây là loại tội phạm hết sức nguy hiểm, là nguồn cung ma
túy cho tội tàng trữ trái phép CMT. Các đối tượng phạm tội này thường hết sức
tinh vi, xảo quyệt, chỉ giao dịch thông qua hệ thống chân rết, thuê mướn những
người khác để thực hiện tội phạm nên rất khó thu thập tài liệu để chứng minh
hành vi phạm tội của chúng. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu và hoạch định các
giải pháp phòng ngừa tội phạm mua bán trái phép CMT là hết sức cần thiết.
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018 theo đơn vị hành chính cấp huyện.
xét xử để tuyên phạt 13 trường hợp dưới 02 năm tù, chiếm 03%; Từ 07 - 15
năm tù (206 trường hợp, chiếm 47,8%); Từ 15 - 20 năm tù (104 trường hợp,
chiếm 24%); Từ 02 - 7 năm tù (103 trường hợp, chiếm 23,9%); Chung thân
(06 trường hợp, chiếm 1,3%) (Xem Phụ lục, Bảng 1.13). Điều đó thể hiện tính
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cần được chú trọng khi đề
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa.
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT, trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018 theo động cơ, mục đích phạm tội.
Động cơ phạm tội là những nguyên nhân tâm lý bên trong; những
nguyên nhân này thôi thúc, thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi phạm tội. Mỗi
cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội của mình đều có những động cơ thúc
đẩy khác nhau. Việc xác định đúng động cơ, mục đích của từng nhóm đối
tượng là cơ sở đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm một cách căn cơ nhất.
Trong 432 bị cáo phạm tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng, có 267 bị cáo (chiếm 61,8%) phạm tội vì lợi ích vật chất. Đứng
thứ 2 là nhóm đối tượng thực hiện tội phạm để thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái
phép CMT (95 bị cáo, chiếm 22%). Cuối cùng, chiếm tỷ lệ nhỏ (70 bị cáo,
chiếm 16,2%), phạm tội vì bị dụ dỗ, lôi kéo, kích động, thích thể hiện mình...
(Xem Phụ lục, Bảng 1.14). Những động cơ, mục đích trên cho thấy tính tiêu
cực trong đặc điểm đạo đức, tâm lý của người phạm tội, là một trong những
nguyên nhân thuộc về chủ thể của tội phạm mua bán trái phép CMT.
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018 theo phương thức, thủ đoạn gây án.
Để hệ thống hóa một cách chi tiết phương thức, thủ đoạn gây án của tội
phạm mua bán trái phép CMT là một việc không dễ dàng. Bởi các đối tượng
thường cùng lúc sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau, đồng thời
thường xuyên thay đổi nhằm đối phó với hoạt động phòng ngừa, đấu tranh
của lực lượng chức năng. Qua nghiên cứu 272 bản án xét xử HSST của TAND
hàng hóa gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý tội phạm. Điển hình: Ngày
30/3/2018, tại địa chỉ K32/8 Phạm Văn Nghị, P. Thạc Gián, Q. Thanh Khê,
thành phố Đà Nẵng, tổ công tác phòng CSĐTTP về ma túy – Công an thành
phố Đà Nẵng bắt quả tang đối tượng Nguyễn Thanh Duy khi Duy đang nhận
500 viên ma túy tổng hợp, dạng “thuốc lắc”, được gửi từ thành phố Hồ Chí
Minh về thành phố Đà Nẵng dưới dạng bưu phẩm thông qua nhà xe Phương
Trang. Khi nhận được tin nhắn từ nhà xe là bưu phẩm đã về đến bến, đối
tượng không trực tiếp đến địa điểm được thông báo để nhận, mà thông qua
01 nhân viên làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa tên Nguyễn Duy Bửu để nhận
và chuyển gói bưu phẩm đến nơi cư trú của mình thì bị phát hiện, bắt giữ.
- Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ nhằm chống đối lực lượng chức năng khi bị
phát hiện, bắt giữ.
Việc xác định phương thức, thủ đoạn gây án của tội phạm có ý nghĩa đặc
biệt trong việc đề xuất các biện pháp ngăn chặn tội phạm, không để tội phạm
được thực hiện đến cùng.
* Cơ cấu của tình hình tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2014 đến năm 2018 theo đặc điểm nhân thân người phạm tội.
Dưới góc độ tội phạm học, khi nghiên cứu tình hình tội phạm để làm
sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm và nhất là để thiết lập
hệ thống là biện pháp phòng ngừa thì không thể không nghiên cứu về chính
những con người đã tạo nên tình hình tội phạm đó- tức những người có hành
vi lệch chuẩn xã hội, còn gọi là: Người phạm tội. Nhân thân người phạm tội
chính là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con
người đã thực hiện tội phạm.
- Đặc điểm về độ tuổi
Người phạm tội mua bán trái phép CMT chủ yếu nằm trong độ tuổi 18 -
báo động cần phải được chú trọng khi đề xuất các giải pháp phòng ngừa.
- Đặc điểm về nơi cư trú
Đối tượng hoạt động phạm tội mua bán trái phép CMT, trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng chủ yếu là người địa phương (372 đối tượng, chiếm
79,6%). Tuy nhiên, số đối tượng ngoại tỉnh đến Đà Nẵng để hoạt động phạm
tội cũng chiếm tỷ lệ đương đối cao (88 đối tượng, chiếm 20,4%) (Xem Phụ
lục, Bảng 1.19). Thực tế trên đặt ra thách thức không nhỏ cho công tác quản
lý quản lý nhà nước về ANTT trong đó có quản lý nhân hộ khẩu, quản lý tạm
trú, tạm vắng.
- Đặc điểm thành phần dân tộc
Đối tượng mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chủ
yếu là người dân tộc Kinh (416 đối tượng, chiếm 96,3%); Dân tộc thiểu số
chiếm tỷ lệ 3,7% (Xem Phụ lục, Bảng 1.20). Đây đa phần là người dân tộc Cơ
Tu sống ở một số xã miền núi thuộc huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và
vùng giáp ranh thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, có điều kiện sống khó khăn, bị
các đối tượng chủ mưu cầm đầu lôi kéo, tham gia vào các đường dây vận
chuyển trái phép CMT từ những vùng giáp ranh về địa bàn thành phố Đà
Nẵng để tiêu thụ. Vì vậy, các giải pháp về mặt kinh tế cần được chú trọng khi
thiết lập các biện pháp phòng ngừa tội phạm mua bán trái phép CMT.
- Đặc điểm về quốc tịch
Tội mua bán trái phép CMT tại thành phố Đà Nẵng chủ yếu do các đối
tượng người Việt Nam thực hiện (425 đối tượng, chiếm 98,4%). Số đối tượng
người nước ngoài/ người Việt Nam có Quốc tịch nước ngoài chiếm tỷ lệ thấp
(07đối tượng, chiếm 1,6%) (Xem Phụ lục, Bảng 1.21).
Theo thống kê của Công an thành phố Đà Nẵng, thời gian qua, người
nước ngoài đến Đà Nẵng có xu hướng gia tăng nhanh. Năm 2017, có 1,4 triệu
lượt, tăng 47% so với năm 2016. Năm 2018, tăng 93% so với năm 2017. Dự
kiến năm 2019, con số này còn tăng thêm 70 - 80% so với cùng kì năm 2018.
chiếm 12%, số sử dụng lần đầu chiếm 66%. Số đối tượng không sử dụng
CMT chiếm 22%. Cơ cấu trên đặt ra trách nhiệm hết sức nặng nề cho các cơ
quan làm công tác quản lý người nghiện, cai nghiện và áp dụng các giải pháp
sau cai, tái hòa nhập cộng đồng.
- Đặc điểm hoàn cảnh gia đình
Trong 432 bị cáo được phân tích, có 120 bị cáo, chiếm 27,8% có đặc
điểm hoàn cảnh gia đình có kết cấu hoàn thiện; 312 bị cáo, chiếm 72,2% có
hoàn cảnh gia đình có kết cấu không hoàn thiện. Trong đó: 142 bị cáo, chiếm
32,9% có bố mẹ thiếu gương mẫu, vi phạm pháp luật; 87 bị cáo, chiếm 32,9%
có bố mẹ mâu thuẫn, ly hôn hoặc chết; 83 bị cáo, chiếm 19,2% bị cáo có hoàn
cảnh sống khó khăn (Xem Phụ lục, Bảng 1.24).
Những đặc điểm hoàn cảnh gia đình trên cho thấy các yếu tố tiêu cực
trong môi trường gia đình chính là một trong những nguyên nhân và điều kiện
của tội mua bán trái phép CMT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cần được chú
trọng trong thiết lập các biện pháp phòng ngừa tội phạm.
1.1.4. Tính chất của tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy, trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tính chất của THTP phản ánh mức độ nguy hiểm, mức độ nghiêm trọng
khác nhau của THTP ở từng thời gian và không gian khác nhau, thông qua
tương quan và tỷ lệ giữa các thành phần tạo nên cơ cấu thành phần tội phạm.
Tính chất của THTP được thể hiện cụ thể ở:
- Số lượng tội phạm và số bị cáo;
- Diễn biến của tình hình tội phạm;
- Phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội;
- Mức độ nghiêm trọng của tội phạm;
- Tỷ lệ tái phạm;
- Đặc điểm nhân thân người phạm tội;
- Thiệt hại gây ra do hành vi phạm tội [20, tr.34].