Luận văn thạc sĩ giám sát HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện hòa vang, thành phố đà nẵng - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THU HỒNG

GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÒA VANG,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THU HỒNG

GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÒA VANG,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hành chính và Luật Hiến pháp
Mã số

:

60.38.01.02

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Phan Thị Thu Hồng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ ................................ 9
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ...... 9
1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, trình tự giám sát của Hội
đồng nhân dân cấp xã ...................................................................................... 19
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ......... 27
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN CẤP XÃ TẠI HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ... 31
2.1. Một số yếu tố đặc thù của huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng có
ảnh hưởng tới giám sát của HĐND cấp xã ..................................................... 31
2.2. Thực tiễn giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 34
2.3. Đánh giá chung về thực trạng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã
tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ....................................................... 50
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁM
SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ..................................... 57
3.1. Quan điểm tăng cường giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã từ thực
tiễn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ..................................................... 57
3.2. Giải pháp tăng cường giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã từ thực


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

Thống kê số lượng ban hành quyết định chương trình
2.1.

giám sát của HĐND cấp xã tại huyện Hòa Vang năm

35

2011 - 2016
Số liệu thống kê công tác phối hợp, phân công thực
2.2.

hiện việc giám sát của HĐND cấp xã thuộc Huyện

38

Hòa Vang năm 2016-2017
Thống kê số lượng chuyên đề giám sát của 2 ban
2.3.

thuộc các xã của Huyện Hòa Vang trong hai năm

vị hành chính của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền địa
phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính
1


quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc
trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực
thuộc trung ương, phường, thị trấn. Như vậy, theo Điều 33 Luật Tổ chức chính
quyền địa phương năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã, ở khoản
5 có nội dung: “HĐND xã có nhiệm vụ, quyền hạn là giám sát việc tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND
xã; giám sát hoạt động của TT HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND cấp
mình; giám sát VBQPPL của UBND cùng cấp”.
Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động theo chức năng, vị trí, vai trò, đặc
biệt là việc giám sát của HĐND nói chung và HĐND cấp xã nói riêng có
nhiều chuyển biến rõ nét là: trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước ta càng
được khẳng định, thực hiện tốt chức năng là cơ quan đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân địa phương, thay mặt nhân dân địa phương giám
sát và quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế - văn hóa xã hội, quốc
phòng - an ninh, góp phần vào thành tựu chung của sự nghiệp đổi mới và xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân Dân, do Nhân Dân và
vì Nhân Dân. Nhưng theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, nhiều báo cáo
chính thức, hoạt động của HĐND các cấp nói chung và hoạt động của HĐND
cấp xã nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại, hoạt động còn mang tính hình
thức, chưa thực hiện tốt vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ như luật định, đặc
biệt là công tác giám sát; hiệu lực, hiệu quả còn thấp, có nhiều ý kiến trong dư
luận nhân dân cho rằng HĐND chưa có thực quyền. Cụ thể hơn tại địa
phương tôi đang công tác và sinh sống ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà
Nẵng, là một huyện duy nhất của thành phố Đà Nẵng vẫn có HĐND cấp xã từ
khi thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường.

đề nêu trên tôi lựa chọn đề tài “Giám sát HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp
và Luật Hành chính.

3


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tầm quan trọng của HĐND trong cơ chế đảm bảo quyền lực nhân dân và
trong cấu trúc bộ máy nhà nước ta đã tạo nên niềm hứng khởi cho hoạt động
nghiên cứu về chủ đề này. Trong những năm qua đã có nhiều đề tài khoa học,
cuốn sách, bài báo, các luận án, luận văn đề cập vấn đề giám sát và nâng cao
chất lượng, hiệu quả giám sát của HĐND các cấp nói chung, HDND cấp xã
nói riêng. Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu sau:
-Võ Khánh Vinh, 2003, Một số vấn đề chung về hiệu quả và việc nâng
cao hiệu quả giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước, NXB Công an
nhân dân.
-Thái Vĩnh Thắng, 2011, Tổ chức và kiểm soát quyền lực Nhà nước,
NXB Tư pháp.
-Trịnh Thị Xuyến, 2008, Kiểm soát quyền lực Nhà nước, một số vấn đề
lí luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia.
-Trần Ngọc Đường, 2004, Cẩm nang thông tin về kỹ năng nghiệp vụ
hoạt động của đại biểu HĐND và thành viên UBND các cấp, NXB Chính trị
quốc gia Hà Nội.
-PGS.TS. Bùi Xuân Đức, 12/2003, Bàn về tính chất của HĐND trong
điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật.
-Nguyễn Ngọc Kỳ, 2007, Quyền giám sát của HĐND và kỹ năng giám
sát cơ bản, NXB Tư pháp.
-Đặng Đình Tân (chủ biên), 2006, Nhân dân giám sát các cơ quan dân
cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.

Tình hình nghiên cứu nói trên cũng là một trong những lý do khích lệ
học viên lựa chọn chủ đề Giám sát của HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng làm chủ đề luận văn tốt nghiệp của mình với mong
muốn góp thêm luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp xã trên địa bàn huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng nói riêng, ở một số địa bàn cấp huyện có điều
5


kiện tương đồng với huyện Hòa Vang nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho việc
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND cấp xã
huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng nói riêng, ở một số địa bàn cấp huyện
có điều kiện tương đồng với huyện Hòa Vang nói chung.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận về giám sát của HĐND
cấp xã trong bộ máy nhà nước.
- Đánh giá thực trạng, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong
giám sát của HĐND cấp xã tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, giai
đoạn từ 2011 đến nay.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND
cấp xã tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và ở một số địa bàn có điều
kiện tương đồng với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các quan niệm khoa học về giám sát của HĐND các cấp và HĐND cấp
xã.
- Các quy định pháp luật về giám sát của HĐND cấp xã.

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp điều tra, thu
thập thông tin, thống kê; phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh; phương
pháp định tính; phương pháp khảo cứu tài liệu, lượng hóa các số liệu; phương
pháp quan sát thực tiễn.
Các phương pháp trên được sử dụng để hệ thống hóa quan điểm và các
VBQPPL hiện hành về giám sát của HĐND cấp xã, tập hợp và đánh giá số
liệu về giám sát của HĐND cấp xã tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng,
7


xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND cấp xã.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận về giám sát của
HĐND cấp xã như khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát của HĐND, chủ thể,
đối tượng, nội dung, hình thức, trình tự giám sát của HĐND cấp xã cũng như
các yếu tố ảnh hưởng tới giám sát của HĐND cấp xã.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức và hành động trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện hoạt động giám sát của HĐND cấp xã ở huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với yêu cầu
nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND cấp xã ở một số địa bàn có điều kiện
tương đồng với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên
cứu, các nhà tư vấn chính sách, các nhà quản lý và sinh viên các trường đại
học ngành Luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

Tuy HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước nhưng xét về vị trí pháp lý,
HĐND không giống với Quốc hội. Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất. Sự khác biệt ở đây không chỉ ở phạm vi, cấp độ mà ở thẩm quyền.
Quốc hội là cơ quan có quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyền quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà
nước.Trong khi đó, HĐND chỉ có quyền ban hành Nghị quyết trong phạm vi
địa phương và phải dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật.
Tính quyền lực của HĐND thể hiện ở các điểm:
9


- HĐND bầu ra cơ quan chấp hành, là cơ quan hành chính Nhà nước tại
địa phương và có quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh trên.
- HĐND ban hành nghị quyết về các mặt kinh tế, văn hóa xã hội, quốc
phòng, an ninh của địa phương để UBND thực hiện và giám sát việc thực hiện
các nghị quyết đó.
- HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương.
- Tính đại diện
HĐND do cử tri tại địa phương bầu trực tiếp, bỏ phiếu kín trong các
cuộc bầu cử HĐND, chịu sự giám sát của nhân dân. Do đặc thù này, HĐND
với tư cách tập thể và từng cá nhân đại biểu có trách nhiệm trực tiếp trước cử
tri đã bầu ra mình. Biểu hiện của trách nhiệm này trước hết ở vai trò đại diện
của HĐND và các đại biểu HĐND. HĐND có vai trò đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm
chủ thông qua người đại diện là đại biểu HĐND. Bởi vậy, về nguyên tắc,
HĐND bao gồm các đại biểu ưu tú đại diện cho các tầng lớp nhân dân, các
ngành, các lĩnh vực, đơn vị hành chính của địa phương. Bằng các hoạt động
tiếp dân, tiếp xúc cử tri, đại biểu HĐND đã thu thập được nhiều ý kiến,
nguyện vọng, kiến nghị của cử tri để phản ánh và tham gia quyết định tại kỳ
họp HĐND. Một yếu tố khác thể hiện tính đại diện của HĐND là chế độ bãi

HĐND quyết định các vấn đề của địa phương như quyết định ngân
sách; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh trong cơ cấu của chính
quyền địa phương; quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và
pháp luật, các biện pháp bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế, tài
nguyên, môi trường, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông
tin, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng,
an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; giám sát việc tuân theo Hiến pháp,
pháp luật và việc thực hiện các nghị quyết của HĐND trên địa bàn.
- Chức năng bảo đảm thực hiện các quy định và quyết định của cơ quan
nhà nước cấp trên và trung ương ở địa phương
11


Với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là cầu nối giữa
nhân dân với chính quyền trung ương, việc HĐND phải bảo đảm tính thống
nhất quyền lực nhà nước là điều tất yếu, nghĩa là đảm bảo cho quy định của
cấp trên và trung ương được thi hành triệt để ở địa phương, đồng thời phát
huy quyền chủ động, sáng tạo của địa phương. Chức năng này đảm bảo cho
nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam.
- Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã
Điều 113 Hiến pháp 2013 và Điều 87 Luật tổ chức chính quyền địa
phương 2015 quy định HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc
thực hiện nghị quyết của HĐND, các hình thức, nội dung trong thực hiện
chức năng giám sát của HĐND, căn cứ vào kết quả giám sát, HĐND thực
hiện các quyền của mình trong bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
của các cơ quan tại địa phương nhằm mục đích bảo đảm cho mọi hoạt động
của các đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện đúng, đầy đủ các quy định
của pháp luật và nghị quyết của HĐND, kịp thời phát hiện các sai phạm, các
điểm chưa hợp lý trong tính chất và hoạt động quản lý của các cơ quan chịu

của các tổ chức chính trị xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử
lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” (Trong cuốn Tìm hiểu
một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam
(NXB Chính trị Quốc gia, trang 184).
Theo từ điển Luật học thì “giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt mang
tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các pháp
tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám đúng quỹ
đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã định từ trước, bảo cho
pháp luật được tuân theo nghiêm minh.” [39]
Căn cứ các cách hiểu nêu trên, giám sát có những đặc trưng sau:
- Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, có quyền thực hiện việc
theo dõi, xem xét kiểm tra và đưa ra những nhận định, đánh giá về một việc
13


làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc không đúng với những điều kiện đã
quy định, quyết định.
- Giám sát bao giờ cũng cần hai giai đoạn chủ yếu: giai đoạn theo dõi,
xem xét, giám sát, kiểm tra và đánh giá, đưa ra kết luận, trong đó, giai đoạn
theo dõi, xem xét, giám sát, kiểm tra là khâu rất quan trọng.
- Giám sát luôn gắn với một đối tượng cụ thể. Đặc điểm cơ bản này
giúp ta phân biệt giữa giám sát và kiểm tra, vì nói tới kiểm tra thì chủ thể hoạt
động kiểm tra và đối tượng chịu sự tác động này có thể đồng nhất là một. Đó
là việc tự kiểm tra của chủ thể đối với hoạt động của mình, còn trong việc
giám sát thì không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động quan sát, theo dõi
đến chính hành vi của mình mà phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và xem
xét của một chủ thể khác, từ đó đưa ra kết luận và xử lý.
- Giám sát được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì: nếu như thiếu những quy định
này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu

khác thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện quản lý nhất định mà chủ
yếu là ban hành các nghị quyết của HĐND. Chủ thể trong hoạt động giám sát
của HĐND là tập thể HĐND, TT HĐND, các ban của HĐND, đại biểu
HĐND sử dụng quyền lực của mình đối với các chủ thể khác dưới dạng ban
hành các nghị quyết buộc các chủ thể khác phải thực hiện. Ngược lại hoạt
động giám sát của HĐND là chủ thể có quyền lực nhà nước thì hoạt động
giám sát của nhân dân, của các tổ chức xã hội tuy không mang tính quyền lực
nhà nước nhưng đòi hỏi các chủ thể phải đáp ứng các yêu cầu vì đã được pháp
luật thừa nhận.
Thứ hai, giám sát của HĐND cấp xã được thực hiện bởi tập thể HĐND,
TT HĐND, hai Ban của HĐND và các đại biểu HĐND cấp xã.
Theo quy định của Luật hoạt động giám sát Quốc hội và HĐND năm
2015 thì chủ thể thực hiện quyền giám sát của HĐND cấp xã bao gồm:
- HĐND: một tập thể các đại biểu HĐND tại phiên họp Hội đồng.
15


- TT HĐND.
- Các ban của HĐND.
- Đại biểu HĐND.
Như vậy, với các chủ thể được giao quyền thực hiện giám sát trên đã
đảm bảo thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ giám sát theo nhiệm vụ được giao.
Trong quá trình giám sát, các chủ thể giám sát có quyền tổ chức lấy ý kiến,
trưng cầu dân ý khi cần thiết theo quy định của pháp luật. Các cơ quan, cá
nhân có liên quan trong phạm vi, nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách
nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu cho các chủ thể giám sát và chịu trách
nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu cung cấp, tạo điều
kiện thuận lợi cho HĐND, TT HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu
HĐND thi hành nhiệm vụ.
Thứ ba, giám sát của HĐND cấp xã là dân chủ, công khai minh bạch và

loa truyền thanh xã.
Thứ tư, giám sát của HĐND cấp xã gắn liền với các đối tượng giám sát
cụ thể.
Giám sát là nội dung quan trọng của các chủ thể được trao thẩm quyền
nhằm đảm bảo cho hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát chấp hành
nghiêm các quy định của pháp luật cũng như quy định của các cơ quan nhà
nước cấp trên. Mỗi chủ thể được giao thẩm quyền thực hiện giám sát đối với
một số đối tượng nhất định. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2015, đối tượng giám sát của HĐND cấp xã bao gồm:
- TT HĐND, UBND cấp xã và các ban ngành thuộc UBND cấp xã;
- Chủ tịch HĐND, UBND, trưởng ban ngành thuộc UBND cấp xã.
Ngoài ra, khi xét thấy cần thiết, HĐND cấp xã tiến hành giám sát hoạt
động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương
1.1.3. Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.3.1.Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã góp phần đảm bảo
quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ tại địa bàn cơ sở.
17


HĐND cấp xã là đơn vị gần nhân dân nhất, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng
và yêu cầu của nhân dân. Một trong những biểu hiện cụ thể của hình thức
giám sát của HĐND là giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thực hiện
đôn đốc, kiểm tra và và xem xét mọi hoạt động tại đối với đối tượng chịu sự
giám sát. Làm tốt nhiệm vụ này chính là HĐND đã thể hiện được vị trí là cơ
quan đại diện của nhân dân góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân và vì dân, bảo đảm quyền của con người, bảo đảm pháp chế
và phát huy dân chủ trên địa bàn cơ sở.
1.1.3.2. Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã là một kênh quan trọng
để kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng chống quan liêu, tham nhũng, bảo
đảm quyền lực nhân dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status