VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC THỌ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH
QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC THỌ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH
QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. TRƯƠNG BÁ THANH
HÀ NỘI, năm 2019
nay...................................................................................................................59
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất đối với
Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện nay...................................................62
KẾT LUẬN....................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1
2.2
Dân số Th
Lao động
địa bàn thị
2.3
Tăng trưởn
quỹ đất và tổ chức quản lý khai thác quỹ đất tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả
trong mối tương quan với các nguồn lực khác nhằm phục vụ tốt các mục tiêu
phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường - an ninh quốc phòng theo
cấp quốc gia, cấp vùng và các cấp địa phương.
Liên hệ đến Thị xã Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam), những năm gần đây hạ
tầng giao thông được đầu tư đồng bộ, tốc độ phát triển đô thị tương đối nhanh
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã này. Theo đó,
nhu cầu đất để mở rộng các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh thương mại
dịch vụ ngày càng cao, hoạt động khai thác và phát triển quỹ đất
1
diễn ra khá sôi động. Việc thực hiện các dự án đầu tư này tất yếu dẫn đến một
diện tích khá lớn đất nông nghiệp phải thu hồi, làm ảnh hưởng cả hai mặt (tích
cực và tiêu cực) trong công tác quản lý sử dụng đất ở địa phương này, nhất là
ở địa bàn khu đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc: (1) Nhiều diện tích đất đã
giao nhà đầu tư song chậm tiến độ triển khai do các biểu hiện cầm chừng, dở
dang và kéo dài nên phải cho dừng kỹ thuật để chuyển cho chủ đầu tư khác;
(2) Một số dự án thực hiện chưa quan tâm đúng mức các hạng mục hạ tầng kỹ
thuật (thông tin, cấp điện, nước thải,...) và chưa khớp nối tốt hạ tầng giao
thông, hạ tầng công cộng và các hạ tầng xã hội; (3) Một số dự án chưa tính
toán phương án hỗ trợ người dân bị thu hồi đất về sinh kế bền vững;
(4)
Một số nhà đầu tư, sàn giao dịch bất động sản lợi dụng dự án chuyển
nhượng quyền sử dụng đất để đầu cơ đất... Cùng với những vấn đề đô thị hóa
quá nóng bằng chính sách đổi đất lấy hạ tầng đô thị dẫn đến hiện trạng sử
dụng đất khu vực Điện Bàn đang mang tính hình thức phân bổ đất dựa trên cơ
sở đẩy nhanh thủ tục chuyển mục đích quyền sử dụng từ đất nông nghiệp sang
tài liệu nghiên cứu “Đánh giá các loại hình sử dụng đất chủ yếu
trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm
miền núi Bắc bộ Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huy Phồn năm 1996, Viện
Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Hà Nội. Công trình này đưa ra yêu cầu của
sử dụng đất bền vững phải bao hàm các tổ hợp công nghệ, chính sách và hoạt
động để liên hợp hữu cơ giữa nguyên lý kinh tế - xã hội với sự quan tâm về
môi trường nhằm đồng thời: duy trì hoặc nâng cao hiệu quả sản xuất, an toàn
giảm rủi ro sản xuất, bảo vệ lâu bền tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn
ngừa thoái hoá đất và nước và nhận được sự chấp nhận của xã hội.
Đối với công trình “Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp” của tác giả
Đoàn Công Quỳ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2006. Nghiên cứu này
xác định vai trò của đất cần được nhìn nhận là môi trường sống, cơ sở của quá
trình sản xuất, hình thành cân bằng sinh thái, kho tàng lưu trữ và cung cấp
nguồn nước, không gian của sự sống, trung gian để bảo tồn, bảo tàng lịch sử
và là vật mang sự sống.
Các nghiên cứu như: bài “Công tác quản lý đất đai - những vấn đề
đang đặt ra”; của tác giả Phùng Văn Nghệ đăng trên tạp chí tài chính năm
2012; bài “Giải quyết triệt để vấn đề đất đai: một trong những tiền đề của
quá trình tái cơ cấu nền kinh tế” của tác giả Đặng Kim Sơn; bài “Những điểm
mới
3
về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là vấn đề then chốt của công tác quản lý
nhà nước về đất đai” của tác giả Hạ Trương… Họ có cùng quan điểm khi lưu
ý
rằng: bên cạnh cần cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan Nhà nước
đất đai đối với sự phát triển kinh tế xã hội tại huyện Vân Đồn (Quảng Ninh).
Qua đó đưa ra một số giải pháp về chính sách đất đai để tác động tích cực đến
sự phát triển kinh tế xã hội huyện Vân Đồn.
*
Một số công trình nghiên cứu của quốc tế:
Tài liệu nghiên cứu “Land evaluation and farming system analysis for
land use planning. Working document” năm 1990 của FAO. Tổ chức này xác
định: Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái (mà
không làm ảnh hưởng bất lợi đến môi trường) là nguyên tắc cơ bản để đảm
bảo cho khai thác và sử dụng tài nguyên đất bền vững. Do đó, đất nông
nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”. Mặt khác, phải
có các quan điểm tiếp cận đúng và phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể
nhằm tạo cơ sở thực hiện sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao về kinh tế
xã hội.
Trong tài liệu “FESLM An International Framework for Evaluating
Sustainable Land Management” World Soil Report 73, FAO – Rome, năm
1993 của các tác giả Smyth A.J and Dumanski J. xác định và đưa ra 5 nguyên
tắc sử dụng đất bền vững, đó là: Duy trì và nâng cao năng suất các hoạt động
sản xuất; An toàn để giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất; Bảo vệ tiềm năng
các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hóa đất và nước; Tính khả
thi về mặt kinh tế; Phải nhận được sự chấp nhận của xã hội. Các nguyên tắc là
những trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu phải đạt
đến. Nếu thực tế tính đồng bộ diễn ra so với các mục tiêu này thì sẽ đạt được
5
quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện
nay.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi nội dung:
Nghiên cứu quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất.
- Phạm vi không gian:
6
Nghiên cứu quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất tại địa bàn Thị
xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi thời gian:
Nghiên cứu thời gian từ năm 2011 đến năm 2017.
5.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài luận văn được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp
luận khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí
Minh.
7
7. Kết cấu của luận văn
Bên cạnh phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu nội
dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất trên
địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3.Giải pháp hoàn thiện, tăng cường quản lý nhà nước về quy
hoạch sử dụng đất đối với Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện nay
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ
DỤNG ĐẤT
1.1. Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất
1.1.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất
* Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Đất đai, theo tác giả Nguyễn Đình Bồng, “đó là một diện tích cụ thể
của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái
ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa
hình, nước mặt (hồ, sông), nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, trạng
thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong
quá khứ và hiện tại để lại” [4; tr. 35-39]. Vai trò của đất đai luôn được khẳng
định, nếu lao động là cha thì đất đai là mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất trên
thế giới này (Petty, năm 1962). Song, để phát huy vai trò của đất đai cho sự
Thông qua hai chức năng căn bản này, vai trò củauyq hoạch SDĐ có ý nghĩa to lớn
trong công tác quản lý và SDĐ.
Quy hoạch SDĐ trước hết là nhằm tạo cơ sở quản lý thống nhất của nhà nước đối
với đất Bằngđai. quy hoạch SDĐ, nhà nước thực hiện được quyền pháp lý định đoạt về
đất đai, nắm quỹ đất về từng loại đất và đảm b cơ sở cho việc chuyển mục đích SDĐ,
giao, thuêđất đất, tạo sự minh bạch, công bằng và dân chủ khi triển khai thực hiện các
dự án, chủ động phân bổ quỹ đất hợp lý để phát triển các ngành/ lĩnh vực, nhất là lĩnh
vực phát triê cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịchụ, đôv thị.
Các quy định về quy hoạch SDĐ là một bộ phận quan trọng của ngành
luật đất đai, là công cụ quản lý nhà nước mang tính pháp lý quan trọng để
quản lý và SDĐ có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái. Nên đối với Nhà
nước, quy hoạch SDĐ phải đảm bảo việc SDĐ hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục
10
đích nhất định và phù hợp với các quy định của Nhà nước. Theo đó, quy
hoạch SDĐ giúp cho Nhà nước theo dõi, giám sát được quá trình SDĐ.
Quy hoạch SDĐ nhằm thúc đẩy quy trình lập bản đồ SDĐ trên phạm vi toàn
quốcNó. là công cụ cốt lõi quan trọng để đảm bảophân bổ quỹ đất cho
các ngành, lĩnh vực thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của cả nước và các
địa phương để đạt được các mục tiêu kinh –tếxã hội đặt raĐồng. thời, thông
qua quy hoạch SDĐ để định hướng cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng,
đường giao thông, các công trình quan trọng phục vụ cho việc phát triển kinh
tế và lợi ích của cộng đồng. Quy hoạch SDĐ là căn cứ để xác định với mức giá phù
hợp đối với từng loại đất một cách chính xác kịp thời,làcơđồng thời sở định hướng cho
các nhà đầu tư tiếp cận vốn đất đai, đóng góp đắc lực vào sự phát triển kinh tế - xã hội
của quốc gia, vùng và các địa phương.
Quy hoạch SDĐ xác lập ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý
nhà nước về đất đai, tạo cho người SDĐ đúng với quy hoạchvàkhông làm tổn
giải pháp cốt lõi đểtạo điều kiện tối ưu cho việc thiết kế phát triển đô thị bền vững.
Quy hoạch SDĐ là công cụ quản lý nhà nước chặt chẽ và định hướng quá trình
SDĐ tiết kiệm và đúng mục đích, bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường.Quy hoạch
SDĐ đảm bảo độ che phủ thực vật của hệ sinh thái bền vững, góp phần bảo vệ môi
trường và sự đa dạng sinh học.
*
Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất:
Quy hoạch SDĐ do nhà nước lập và phê duyệt trên cơ sở khoa học, thể
hiện sự tính toán kỹ lưỡng, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng và chất lượng, vị
trí, không gian... cho các mục tiêu kinh tế - xã hội. Quy hoạch SDĐ là cơ sở
khoa học của cả quá trình quản lý và SDĐ.
12
Quy hoạch SDĐ được lập theo những nguyên tắc cơ bản đã được quy
định của Luật Đất đai hiện hành, nên nó có đặc điểm là phải đảm bảo phù hợp
với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh; quy hoạch SDĐ của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế
hoạch SDĐ của cấp trên; quy hoạch, kế hoạch SDĐ của cấp trên phải thể hiện
nhu cầu SDĐ của cấp dưới.
Quy hoạch SDĐ là nhiệm vụ quản lý của nhà nước mang tính chiến lược dài
hạn (thường là từ 10 năm trở lên), nó là nền tảng để lập kế hoạch SDĐ một cách phù
hợp với thực trạngtừngcủađịa phương.
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất
Quản lý nhà nước về đất đai là các hoạt động quản lý thuộc thẩm quyền
của nhà nước và Chính phủ về tài nguyên đất và SDĐ, bao hàm cả về ý nghĩa
kinh tế và môi trường với mục đích thúc đẩy quản lý hiệu quả, bền vững.
kinh tế-xã hộidưới góc nhìn quy hoạch; nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch SDĐ là căn
cứ vào yêu cầu phát triển kinh–xãtếhội – môi trường –
an ninh quốc phòng cùng với các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của từng
vùng, địa phương để xác lập, điều chỉnh cơ cấu và phương hướng SDĐ cụ thể
theo hướng thống nhất, hợp lý và tiết kiệm,thiết kế các phương án chi tiết về
quy hoạch SDĐthực hiện có lộ trình dưới sự quản lý điều hành của Nhà
nước. Ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tái cấu trúc nền
kinh tế, việc SDĐ gắn liền với những điều chỉnh lớn giữa nông thôn và thành
thị, giữaông nghiệp và công nghiệp, giữa đất sản xuất và các loại đất chuyê
dùng khác… Do đó, quy hoạch SDĐ là công cụ và giải pháp chiến lược huyết
mạch, tạo lập cơ sở quyết định cho quy hoạch, kế hoạch phát triển các chuyên
ngành, thểhiện ý chí củaNhà nước về sự phát triển, hư: quy hoạch đô thị; quy
hoạch phát triển nông nghiệpnông thôn; và các quy hoạch ngành, lĩnh vực
khác...
Nói cách khác, mối quan hệ chủ yếu giữa quy hoạch SDĐ với quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trong quản lý Nhà nước được thể hiện
tập trung ở chỗ: quy hoạch SDĐlà sự cụ thể hóa quy hoạch tổng thể phát
14
triển kinh tế xã hội;vàcác nội dung củaquy hoạch SDĐ đượcxác lập trên cơ sở
điều hòa thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển– xãkinhhội,tếgóp phần
hiện thực hóa quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế–xã hội.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất
1.2.1. Nội dung chung của quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng
đất
Nhà nước ta quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, nên việc lập
quy hoạch SDĐ và quản lý quy hoạch SDĐ là một trong những nội dung rất
quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai nhằm bảo đảm đất đai
được quản lý thống nhất, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và phục vụ hiệu quả cho
Quản lý quy hoạch SDĐ thông qua các giải pháp tổ chức thực hiện
quy hoạch SDĐ phù hợp với đặc điểm của địa bàn quy hoạch; quản lý việc
giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ; quản lý việc bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất… nhằm bảo đảm cho các quy hoạch
đó có hiệu lực trong thực tế.
Việc quản lý quy hoạch SDĐ được thể hiện bằng việc công bố quy
hoạch SDĐ và kỳ quy hoạch SDĐ là 10 năm. Trong thời hạn không quá 30
ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
hoặc xét duyệt, quy hoạch SDĐ phải được công bố công khai theo quy định
của pháp luật đất đai.
Việc thực hiện hoạt động điều chỉnh quy hoạch SDĐ áp dụng ở các
trường hợp khi: (1) Có sự điều chỉnh mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét
duyệt mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu SDĐ; (2) Do tác động của
thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích SDĐ; (3)
Có sự điều chỉnh quy hoạch SDĐ của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới
quy hoạch SDĐ của cấp mình; (4) Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của
địa phương.
Về nội dung điều chỉnh quy hoạch SDĐ, quy hoạch SDĐ chi tiết gồm:
(1)
Bổ sung, điều chỉnh hoặc huỷ bỏ các công trình, dự án trong kỳ quy
hoạch; (2) Thay đổi cơ cấu các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp; thay đổi
vị trí, diện tích các khu đất đã khoanh định theo chức năng trong nhóm đất phi
nông nghiệp; thay đổi chỉ tiêu đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng; (3) Giải
pháp tổ chức thực hiện điều chỉnh quy hoạch SDĐ. Hồ sơ xét duyệt điều
chỉnh quy hoạch SDĐ và quy hoạch SDĐ chi tiết được nộp tại cơ quan quản
Ở Trung ương:
Quốc hội quyết định quy hoạch SDĐ cấp quốc gia. Chính phủ phê
duyệt quy hoạch SDĐ cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch SDĐ lĩnh vực quốc
phòng và lĩnh vực an ninh.
Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch SDĐ của cả nước;
kiểm tra việc thực hiện quy hoạch SDĐ của cấp tỉnh.
17
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn
bộ tài liệu về quy hoạch SDĐ của cả nước đã được Quốc hội quyết định tại
trụ sở cơ quan Bộ trong suất kỳ quy hoạch SDĐ; đăng Công báo; công bố trên
mạng thông tin quản lý nhà nước của Chính phủ và trích đăng trên một báo
hàng ngày của Trung ương.
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực
hiện kế hoạch SDĐ hàng năm của cả nước để báo cáo Chính phủ trước ngày
15/3 năm sau.
-
Ở cấp tỉnh:
UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp thông qua quy hoạch SDĐ cấp
tỉnh trước khi trình Chính phủ phê duyệt.
UBND cấp tỉnh tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch SDĐ của cấp
mình. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn
bộ tài liệu về quy hoạch SDĐ của cấp tỉnh đã được xét duyệt tại trụ sở cơ
quan mình trong suốt kỳ quy hoạch SDĐ; công bố trên mạng thông tin quản
lý nhà nước của cấp tỉnh và trích đăng trên báo của địa phương.
hiện quy hoạch SDĐ cấp huyện kỳ trước; Nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh
vực, của cấp huyện, của cấp xã; Định mức SDĐ; Tiến bộ khoa học và công
nghệ có liên quan đến việc SDĐ. Về mặt nội dung của quy hoạch SDĐ cấp
huyện phải bao gồm: (a) Định hướng SDĐ 10 năm; (b) Xác định diện tích các
loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch SDĐ cấp tỉnh và diện tích các loại
đất theo nhu cầu SDĐ của cấp huyện và cấp xã; (c) Xác định các khu vực
SDĐ theo chức năng sử dụng đến từng đơn vị hành chính cấp xã; (d) Xác định
diện tích các loại đất đã xác định tại điểm b khoản này đến từng đơn vị hành
chính cấp xã; (đ) Lập bản đồ quy hoạch SDĐ cấp huyện; đối với khu vực quy
hoạch đất trồng lúa, khu vực quy hoạch chuyển mục đích SDĐ quy định tại
các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai 2013 thì thể hiện chi
tiết đến từng đơn vị hành chính cấp xã; (e) Giải pháp thực hiện quy hoạch
SDĐ.
Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai
toàn bộ tài liệu về quy hoạch SDĐ của cấp huyện đã được xét duyệt tại trụ sở
19