Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa - Pdf 25


1

2

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ XUN MINH Bng 1. QUN Lí NH NC V KHOA
HC V CễNG NGH
TRấN A BN TNH THANH HểA

Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s : 60 38 01
TểM TT LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2012
Cụng trỡnh c hon thnh
ti Khoa Lut - i hc Quc gia H Ni


Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
6
1.1.
Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
6
1.1.1.
Hoạt động khoa học và công nghệ - đối tượng quản lý nhà
nước về khoa học và công nghệ
6

5
2.1.
Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa
24
2.1.1.
Đặc điểm tự nhiên
24
2.1.2.
Đặc điểm xã hội
24
2.1.3.
Đặc điểm kinh tế
26
2.2.
Quá trình phát triển của quản lý nhà nước về khoa học và
công nghệ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
27
2.2.1.
Giai đoạn Ban Kỹ thuật, Ban Khoa học kỹ thuật (1960-1983)
27
2.2.2.
Giai đoạn Ủy ban Khoa học Kỹ thuật (1983-1994)
30
2.2.3.
Giai đoạn Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1994-2003)
31
2.2.4.
Giai đoạn Sở Khoa học và Công nghệ (từ 2003 đến nay)
33
2.3.

Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH THANH HÓA
84
3.1.
Nhu cầu tăng cường quản lý hoạt động khoa học và công
nghệ trên địa bàn tỉnh
84
3.1.1.
Đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ đã được xác định
84 6
là một giải pháp quan trọng để tỉnh Thanh Hóa đạt được các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
3.1.2.
Để đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ cần phải tăng
cường quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
87
3.2.
Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
87
3.2.1.
Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch khoa học và công nghệ
87
3.2.2.
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý
khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh
88
3.2.3.

: Khoa học, công nghệ và môi trường
KHKT
: Khoa học - kỹ thuật
KH&CN
: Khoa học và công nghệ
KT-XH
: Kinh tế - xã hội
QLNN
: Quản lý nhà nước
UBND
: Ủy ban nhân dân 8
DANH MỤC CÁC BẢNG

Sè hiÖu
b¶ng
Tªn b¶ng
Trang
1.1
Tỷ suất giữa thành công và thất bại đối với nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu ứng dụng nghiên cứu triển khai và
nghiên cứu cải tiến kỹ thuật
10
2.1
Kinh phí sự nghiệp khoa học giai đoạn 2006-2010 ở tỉnh

kịp so với yêu cầu chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Thanh Hóa là tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ, có diện tích lớn (thứ năm
toàn quốc), dân số đông (thứ ba toàn quốc), có vị trí địa lý thuận lợi và tiềm
năng tương đối phong phú, song đến nay vẫn là một tỉnh nghèo. Nghị quyết Đại
hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã xác định mục tiêu đến năm 2020
Thanh Hóa trở thành tỉnh tiên tiến. Để đạt được mục tiêu đó, phát triển KH&CN
đã được tỉnh Thanh Hóa xác định là một trong những giải pháp quan trọng.
Để KH&CN của tỉnh phát triển, góp phần tích cực vào sự phát triển
KT-XH của địa phương thì việc đổi mới QLNN về KH&CN là rất cần thiết.
Hoạt động QLNN về KH&CN ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua, nhất là
sau khi có Luật KH&CN (năm 2000), bên cạnh những kết quả quan trọng đã
đạt được, cũng bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập cả về xây dựng và ban hành
pháp luật, thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về KH&CN. 10
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực KH&CN
mới chỉ tập trung vào việc quản lý các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh. Hầu hết
các nội dung khác về quản lý KH&CN không có văn bản quy phạm pháp luật
của Tỉnh để điều chỉnh.
Việc thực hiện pháp luật về KH&CN còn nhiều hạn chế, bất cập: Bộ
máy QLNN về KH&CN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chưa được hoàn thiện
theo quy định; thiếu nhiều cơ chế, chính sách để có thể thực hiện có hiệu quả
hoạt động QLNN về KH&CN; mới tập trung vào quản lý hoạt động nghiên
cứu triển khai, chủ yếu là quản lý các nhiệm vụ KH&CN, các nội dung quản
lý khác hầu như chưa được triển khai thực hiện hoặc triển khai thực hiện thiếu
hiệu quả; chỉ quản lý được các nhiệm vụ KH&CN có vốn đầu tư từ ngân sách
nhà nước; không thực hiện phân cấp trong quản lý KH&CN; cơ chế xin - cho
trong hoạt động nghiên cứu triển khai vẫn tồn tại; thủ tục hành chính trong hoạt
động KH&CN còn phức tạp; việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang hoạt

triển công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa; trên cơ sở đó đề xuất
phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt
động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ trong nông nghiệp ở Thanh
Hóa. Tuy nhiên, luận văn cũng mới chỉ tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc
độ khoa học kinh tế, không tiếp cận, nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp
lý. Bên cạnh đó, luận văn cũng mới chỉ nghiên cứu một nội dung của QLNN
về KH&CN là hoạt động nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp.
Như vậy, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện về QLNN về KH&CN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa dưới góc độ khoa
học pháp lý.
3. Mục đích đề tài và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: tìm ra các giải pháp tăng cường QLNN về
KH&CN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. 12
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu: QLNN về KH&CN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
+ Thời gian nghiên cứu: từ năm 2001-2010, tập trung vào giai đoạn
2006-2010.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu đặc điểm, nội dung QLNN về KH&CN trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu thực trạng QLNN về KH&CN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Nghiên cứu các giải pháp tăng cường QLNN về KH&CN trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, trong luận văn sử dụng kết hợp các
phương pháp: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp phân tích, tổng
hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp chuyên gia.


14
Chương 1
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1.1. Hoạt động khoa học và công nghệ - đối tượng quản lý nhà
nước về khoa học và công nghệ
1.1.1.1. Khoa học
Lúc đầu, thuật ngữ "khoa học" được sử dụng để chỉ một phương
hướng nghiên cứu triết lý tự nhiên (natural philosophy) trong triết học. Đến
đầu thế kỷ XIX, phương hướng nghiên cứu triết lý tự nhiên mới thực sự tách
khỏi triết học để hình thành khái niệm tương tự khái niệm "khoa học" ngày
nay. Từ đó đến nay có rất nhiều khái niệm về "khoa học" đã xuất hiện.
- Theo Từ điển Larousse của Pháp (năm 2002), "khoa học" là một tập
hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và
hiện tượng tuân theo một quy luật xác định.
- Theo Từ điển Triết học của Liên Xô (bản tiếng Việt, năm 1975),
"khoa học" là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức
mới về tự nhiên, xã hội và tư duy, bao gồm tất cả những điều kiện và những
yếu tố của sự sản xuất này.
- Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (năm 1986), "khoa
học" là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa
về mặt lý thuyết các tri thức khách quan; "khoa học" là một trong những hình
thái ý thức xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các
kiến thức mới, và cả những kết quả của các hoạt động đó.
- Theo Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners,
(năm 2006), "khoa học" là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới


16
trình, phương pháp…). Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ
năng, bí quyết, công cụ, phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản
phẩm, dịch vụ mong muốn.
Công nghệ bao gồm 4 yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và cùng thực
hiện quá trình sản xuất như sau:
+ Công cụ hay còn gọi là phần cứng (kỹ thuật), gồm: trang thiết bị,
khí cụ, nhà xưởng.
+ Con người: gồm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề, kinh nghiệm,
thói quen…
+ Thông tin (các bí quyết, quy trình, quy tắc), phương pháp, dữ liệu,
bản thiết kế…
+ Tổ chức, quản lý: thể hiện trong bố trí sắp xếp, điều động, quản lý
các yếu tố trên.
Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000) của nước ta định nghĩa:
"Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm
công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm" [23].
1.1.1.3. Hoạt động khoa học và công nghệ
Theo UNESCO, hoạt động KH&CN là tất cả các hoạt động có hệ
thống liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng
các kiến thức KH&CN trong thực tiễn sản xuất và đời sống. Chính trong hoạt
động KH&CN mà các kiến thức KH&CN được sản xuất ra, được thu thập,
truyền bá, được sửa đổi, thích nghi cho phù hợp với nhu cầu và cho việc sử
dụng. Nó bao gồm một diện rộng các hoạt động từ nghiên cứu cho đến dịch
vụ KH&CN trong sản xuất, đào tạo kỹ năng vận hành công nghệ phục vụ cho
việc phát triển công nghệ.
Theo Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000) thì hoạt động KH&CN
gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ
18
Theo UNESCO, tỷ suất giữa thành công và thất bại đối với nghiên cứu
cơ bản, nghiên cứu ứng dụng nghiên cứu triển khai và nghiên cứu cải tiến kỹ
thuật như sau:
Bảng 1.1: Tỷ suất giữa thành công và thất bại đối với nghiên cứu cơ bản,
nghiên cứu ứng dụng nghiên cứu triển khai và nghiên cứu cải tiến kỹ thuật

Xác suất
thành công
Xác suất không
thành công
+ Nghiên cứu cấu trúc của tâm lý
0,20
0,80
+ Nghiên cứu cơ bản
0,25
0,75
+ Nghiên cứu ứng dụng
0,40
0,60
+ Nghiên cứu triển khai thực nghiệm
0,60
0,40
+ Cải tiến kỹ thuật nhỏ
0,90
0,10
Nguồn: [53].
- Tính kế thừa: Hoạt động nghiên cứu khoa học hiện đại đều không
tách khỏi sự kế thừa thành quả lao động KH&CN của người đi trước, nó đều
được tiến hành trên cơ sở sáng tạo của người khác hoặc người đi trước. Đồng

thì quản lý gồm có các dạng sau:
- Quản lý giới vô sinh (hay quản lý kỹ thuật): đối tượng quản lý là các
vật vô tri, vô giác (như nhà xưởng, thiết bị, máy móc ).
- Quản lý giới sinh vật: đối tượng quản lý là các vật hữu sinh (như cây
trồng, vật nuôi ).
- Quản lý xã hội con người: đối tượng quản lý là con người (trong các
tổ chức, đoàn thể, xã hội và trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, KH&CN).
Trong quản lý xã hội con người, nếu xét từ góc độ chủ thể quản lý thì sẽ
có các dạng cụ thể của quản lý xã hội như QLNN, quản lý doanh nghiệp vv
QLNN là một dạng của quản lý xã hội con người. Đây là dạng quản lý
xã hội mà nhà nước là chủ thể quản lý. 20
1.1.2.1. Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
QLNN về KH&CN là dạng quản lý mà trong đó chủ thể quản lý là
nhà nước. Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử
dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt
động của con người trong lĩnh vực hoạt động KH&CN.
Quản lý KH&CN ra đời nhờ sự thích ứng với nhu cầu của thực tiễn
phát triển hoạt động KH&CN. Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, sự ra đời
và phát triển của quản lý KH&CN cho tới nay có thể được phân thành 4 thời kỳ:
- Giai đoạn quản lý ban đầu - nhà nghiên cứu KH&CN cũng là nhà
quản lý KH&CN.
Giai đoạn này được tính từ cuối thế kỷ 19 trở về trước. Đây là thời kỳ
mà nghiên cứu khoa học mang đậm tính cá nhân, phân tán. Trong giai đoạn
này, nghiên cứu khoa học hoàn toàn là do sự yêu thích và cảm hứng của cá
nhân các nhà khoa học. Nhà nước không có tổ chức và hỗ trợ đối với những
hoạt động nghiên cứu khoa học. Chính vì vậy, bản thân nhà nghiên cứu khoa
học cũng chính là người quản lý khoa học.

vào các lĩnh vực KT-XH. Nghiên cứu KH&CN không chỉ là vấn đề bản thân
của KH&CN mà còn là sản phẩm của sự tác động đa nhân tố phức tạp. Điều
này cần thiết phải có đội ngũ lãnh đạo tập thể, chuyên môn hóa, được trang bị
bằng lý luận quản lý KH&CN hiện đại để thống nhất giải quyết những vấn đề
quản lý KH&CN trọng đại.
Trong giai đoạn này, ở các cấp quản lý tại nhiều nước đều có một hội
đồng chuyên gia quản lý chuyên nghiệp, có nơi gọi là tổ cố vấn KH&CN, có
nơi gọi là Hội đồng tư vấn KH&CN. Hằng năm, việc hoạch định phương
hướng nghiên cứu đề tài KH&CN, việc đánh giá sau khi đề tài được thực thi,
việc giám định các thành quả, cùng những kiến nghị áp dụng rộng rãi các
thành quả vv đều thông qua những ý kiến thảo luận của họ. 22
Trên thực tế, thể chế quản lý này đã khắc phục được tính phiến diện vi
mô và tính hạn chế tầm nhìn về nghiên cứu khoa học của cá nhân các nhà khoa
học. Do có thể thông qua quyết sách chính xác để thực hiện những mục tiêu
xã hội hợp lý nhằm tìm kiếm sự phát triển nhịp nhàng, hài hòa giữa KH&CN
với KT-XH nên thể chế này không ngừng được tăng cường và hoàn thiện.
Ở các nước công nghiệp phát triển, từ lâu nhà nước đã can thiệp vào
sự phát triển KH&CN. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực
hiện QLNN về KH&CN.
Ở Việt Nam, sự ra đời của QLNN về KH&CN được đánh dấu bằng
Sắc lệnh số 016-SL ngày 03/4/1959 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa về việc thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước.
Giai đoạn 1959 - 1965, Ủy ban Khoa học Nhà nước có chức năng bảo
đảm hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật, đưa
nền khoa học và kỹ thuật Việt Nam lên trình độ tiên tiến nhằm phục vụ sản
xuất, dân sinh, quốc phòng, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước
ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

quyết kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XI. Bộ KH&CN có chức năng QLNN
về hoạt động KH&CN, phát triển tiềm lực KH&CN; tiêu chuẩn đo lường chất
lượng; sở hữu trí tuệ; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân;
QLNN các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý; thực hiện đại diện
chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thuộc Bộ quản lý.
Trong quá trình cải cách KT-XH, mà đặc trưng cơ bản là chuyển từ
nền kinh tế chỉ huy tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường, QLNN về
KH&CN ở nước ta đã có những chuyển biến rất sâu sắc:
- Sau Quyết định 175/CP ngày 29/4/1981 của Hội đồng Chính phủ về
việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển
khai kỹ thuật: đã diễn ra sự bùng phát thứ nhất của việc ký kết hợp đồng giữa
cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) với sản xuất, 24
bước đầu tháo gỡ cơ quan R&D khỏi sự trói buộc của cơ chế chỉ huy tập
trung quan liêu.
- Sau Nghị quyết 51/HĐBT ngày 17/5/1983 của Hội đồng Bộ trưởng
về một số vấn đề công tác khoa học và kỹ thuật năm 1983 và những năm tiếp
theo: đã diễn ra sự bùng phát thứ hai, là sự bùng phát hoạt động sản xuất của
các viện nghiên cứu dựa trên kết quả của hoạt động KH&CN vượt khỏi khung
khổ các ràng buộc hàn lâm.
- Sau Quyết định 134/HĐBT ngày 31/8/1987 của Hội đồng Bộ trưởng:
về một số biện pháp khuyến khích công tác khoa học và kỹ thuật: đã diễn ra
sự bùng phát thứ ba, là sự liên kết các tập thể KH&CN vượt khỏi khung khổ
các ràng buộc hành chính, đồng thời là quá trình thị trường hóa kết quả
nghiên cứu.
- Sau Nghị định 35/HĐBT ngày 28/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng
về công tác quản lý khoa học và công nghệ: đã diễn ra sự bùng phát thứ tư, là
sự thành lập các tổ chức KH&CN.

ban hành các quyết định quản lý. Điều quan trọng là những văn bản, quyết
định đó được thực hiện như thế nào trong cuộc sống. Để đảm bảo được điều
này phải dựa vào quyền lực nhà nước. Chỉ có quyền lực nhà nước mới đảm
bảo cho các cơ quan quản lý thực hiện việc tổ chức, điều chỉnh bằng các biện
pháp cưỡng chế khác nhau.
Quyền lực nhà nước và QLNN là hai mặt của một vấn đề, không tách
rời nhau. Thực hiện quyền lực chính là quản lý. Trong quá trình thực hiện
quản lý, quyền lực được xem như là một trong các công cụ quan trọng nhất.
Quyền lực nhà nước được thể hiện trước hết trong các văn bản quy
phạm pháp luật. Do vậy, các văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình thực
hiện đã đảm bảo cho QLNN. Về phần mình QLNN lại phải đảm bảo sao cho
các quy phạm pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ trong cuộc sống. Bởi
vậy, không thể tách rời quyền lực nhà nước với QLNN. 26
- QLNN mang tính khoa học, tính liên tục:
QLNN thể hiện khả năng tổ chức, điều chỉnh xã hội một cách có ý
thức. Để đạt được hiệu quả cao, QLNN phải tuân theo các quy luật tự nhiên
và xã hội. Bởi vậy có thể nói rằng, tác động QLNN là một hình thức tác động
có căn cứ khoa học.
Tính liên tục của QLNN được thể hiện rõ nét trong mối liên hệ giữa
quyền lực và quản lý. Tính liên tục của quản lý thể hiện ở chỗ: khi Quốc hội đã
thông qua một đạo luật nào đó, và để cho đạo luật này được thực hiện trong
cuộc sống, thì cần phải có sự tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước ở
các cấp, các ngành, thậm chí cả cư dân. Chính điều này tạo ra sự liên tục của
QLNN. Tính liên tục là một đặc điểm quan trọng của các quá trình quản lý.
1.2.2. Các đặc trưng của quản lý khoa học và công nghệ
Các đặc trưng của quản lý KH&CN là: tính linh hoạt lớn; tính tổng thể
và điều hòa, phối hợp; tính dự báo và tính lâu dài.

- Tính dự báo và tính lâu dài
Quản lý KH&CN, bất luận là đối với một quốc gia hay một cơ quan
nghiên cứu khoa học cụ thể đều phải có mục tiêu chiến lược lâu dài và quy
hoạch dài hạn; phải tiến hành công việc dự báo khoa học.
Thông thường, đặc điểm của tính lâu dài, tính dự báo thể hiện ở chỗ dự
đoán một cách đầy đủ đối với xu thế phát triển KH&CN, phải có chiến lược phát
triển KH&CN và đột phá khẩu của mình. Đồng thời, phải bám sát, theo kịp
những định hướng mới của phát triển KH&CN, sắp xếp tốt công tác KH&CN
trước mắt và ngắn hạn, hình thành sự phân bố bậc thang hợp lý, cấu thành
mạng lưới phát triển KH&CN hoàn chỉnh, kết hợp giữa trước mắt và lâu dài.
Tóm lại, QLNN về KH&CN có các đặc trưng là: tính tổ chức, điều
chỉnh; tính quyền lực; tính khoa học, liên tục; tính linh hoạt lớn; tính tổng thể
và điều hòa, phối hợp; tính dự báo và tính lâu dài.

Trích đoạn Tổ chức bộ mỏy quản lý khoa học và cụng nghệ Tỡnh hỡnh hoạt động khoa học và cụng nghệ trờn địa bàn huyện Phương hướng, mục tiờu phỏt triển kinh tế xó hội tỉnh Thanh Húa đến năm Về đỏnh giỏ nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và cụng nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status