Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cấp huyện ở Tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2012 - Pdf 25

2
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 5
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 5
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
3. Mục tiêu nghiên cứu 8
4. Phạm vi nghiên cứu 8
4.1. Phạm vi về không gian 8
4.2. Phạm vi về thời gian 9
4.3. Về nội dung 9
5. Mẫu khảo sát 9
6. Vấn đề nghiên cứu 9
7. Giả thuyết nghiên cứu 10
8. Phương pháp nghiên cứu 10
9. Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1. Khái lược về một số quan niệm về quản lý 12
1.2. Khái niệm về quản lý 12
1.2.1. Các yếu tố cấu thành hoạt động quản lý 12
1.2.2. Bản chất của quản lý 13
1.2.3. Quản lý và lãnh đạo 15
1.2.4. Vai trò của quản lý 16
1.3. Quản lý nhà nước 17
1.4. Khái niệm về quản lý hành chính nhà nước 18
1.4.1. Khái niệm 18
1.4.2.Hình thức quản lý hành chính nhà nước 19
1.5. Môi trường quản lý 19
3

4
2.3. Thực trạng hoạt động Khoa học và Công nghệ cụ thể của từng
huyện giai đoạn 2006 – 2010 53
2.3.1.Huyện Bắc Hà 53
2.3.2. Huyện Mường Khương 55
2.4. Đánh giá chung 76
2.4.1. Những kết quả đạt được (theo 9 nhiệm vụ của thông tư 05 đã
hướng dẫn) 76
2.4.2. Những hạn chế tồn tại 77
Kết luận Chương 2 78
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG KH&CN CƠ SỞ TẠI TỈNH LÀO CAI 81
3.1. Xác lập triển vọng hoạt động KH&CN của từng huyện trong giai
đoạn 2011 -2020 theo định hướng phát triển của tỉnh 81
3.1.1. Nhu cầu về KH&CN 81
3.1.2. Nhu cầu về công nghệ (dây chuyền công nghệ, đổi mới công
nghệ, chuyển giao công nghệ) 82
3.1.3. Về xuất nhập khẩu thiết bị KH&CN qua biên giới Lào Cai 82
3.2. Phân tích, so sánh, xác lập về giải pháp các nguồn lực cho giai đoạn
2011 – 2020. Trước mắt cho giai đoạn: 2011 -2015 83
3.3. Giải pháp về tổ chức 84
3.4. Giải pháp về nhân lực quản lý 89
3.5. Giải pháp về nguồn tài chính 91
3.6. Giải pháp về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật (có thông tin liên
lạc) 92
3.7. Giải pháp về đổi mới cơ chế chính sách, môi trường hoạt động 94
3.8. Tổng kết xác lập giải pháp đột phá 95
Kết luận Chương 3 96
KẾT LUẬN 98
KHUYẾN NGHỊ 100

4- QLNN - Quản lý nhà nước
5- TCĐLCL – Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng
6- TTN&NĐ – Thanh thiếu niên và nhi đồng
7- UBND - Ủy ban nhân dân
8- UNESCO - Tổ chức khoa học – giáo dục của Liên Hợp Quốc
9- XH&NV – Xã hội và nhân văn

5
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Việc quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở nước ta có thể nói
cũng mới chỉ là bắt đầu, mặc dù tầm quan trọng của khoa học và công nghệ
đã được xác định từ lâu, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Minh chứng cho điều đó là công tác quản lý nhà nước về KH&CN mới
chỉ được luật hóa cách đây khoảng 10 năm (9/6/2000). Công việc này cho đến
hiện nay vẫn còn nhiều điều phải bàn thảo, nghiên cứu bổ sung hoặc thay thế.
Việc quản lý khoa học và công nghệ cấp huyện, vì thế, còn là một vấn đề mới
mẻ hơn nữa. Một mặt, vì sự phát triển của KH&CN cấp huyện ở các vùng,
miền trên đất nước ta không như nhau. Mặt khác, sự phát triển kinh tế của
nước ta chưa thỏa mãn được đầy đủ các yếu tố về cơ sở vật chất - kỹ thuật và
kinh phí cho việc quản lý.
Cụ thể tại địa phương tỉnh Lào Cai trong thời gian vừa qua công tác quản
lý KH&CN cấp huyện ở tỉnh Lào Cai đã có một số kết quả nhất định đã góp
phần tích cực thúc đẩy việc ứng dụng KH&CN tại các huyện, thúc đẩy việc
mua bán và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội các
huyện nói riêng và của tỉnh nói chung. Tuy nhiên, mọi công tác quản lý
KH&CN hoàn toàn do các ngành chuyên môn và Sở KH&CN thực hiện trên
địa bàn, điều đó không tránh khỏi có các khoảng trống lớn trong quản lý
KH&CN tại huyện.
Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIV đã đề ra mục tiêu tổng

năm 2003, điều đó được ghi lại tại điều 103 Luật tổ chức HĐND và UBND
các cấp.
7
Nghị định 14/2008/NĐ – CP và Thông tư 05/2008/TTLB – BKH&CN –
BNV, ngày 18/6/2008 của Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế cho việc quản lý KH&CN
cấp huyện ra đời, đánh dấu một mốc lớn trong nhận thức về quản lý KH&CN
cấp huyện. Đã có nhiều cuộc hội thảo, trao đổi và nghiên cứu minh chứng cho
các điều nói trên đây:
Năm 2000, Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN đã tiến
hành đề tài:“nghiên cứu, phân tích tổ chức quản lý nhà nước về KH&CN ở
cấp huyện trong quá trình đổi mới do Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thịnh làm chủ
nhiệm.
Năm 2004, Vụ Tổ chức và cán bộ - Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng đã
có nghiên cứu: “Mô hình Quản lý KH&CN cấp huyện”, với mục tiêu tìm các
căn cứ khoa học cho việc soạn thảo nghị định quy định về mô hình tổ chức
quản lý KH&CN cấp huyện thống nhất toàn quốc - (Nghị định 172,
29/9/2004)
Đặc biệt, một nghiên cứu điển hình ở cấp nhà nước là đề tài: “Nâng cao
chất lượng và hiệu quả công tác quản lý KH&CN địa phương„ do Ban Tuyên
giáo Trung ương chủ trì và Giaó sư-Tiến sĩ Đỗ Nguyên Phương làm chủ
nhiệm đề tài – (từ 2003 - đến 2006). trong đó nêu ra các kiến nghị các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý KH&CN ở
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong nghiên cứu này đã đề cập
đến việc quản lý khoa học công nghệ cấp huyện. Một nghiên cứu công phu và
đã có các kết luận và kiến nghị thuyết phục. Các kết luận và kiến nghị của
nghiên cứu, sau này, đã được thể chế hóa một phần quan trọng trong nghị
định 14/2008/NĐ – CP và thông tư 05/2008/TTLB – BKH&CN – BNV.
Năm 2007, Nguyễn Thị Thúy Hiền đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Nhận
dạng hoạt động quản lý KH&CN cấp huyện. Đây là một nghiên cứu rất thú vị

huyện, thành phố trong tỉnh.
4.2. Phạm vi về thời gian
Nghiên cứu sẽ tiến hành trong vòng 1 năm (2011); các số liệu về thực
trạng sẽ được khảo sát và thu tập vào những năm gần nhất, song không quá 5
năm so với năm 2011. Các giải pháp sẽ thảo luận cho giai đoạn đến 2015 và
đến 2020.
4.3. Về nội dung
Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc tìm các giải pháp chính phục vụ
việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý KH&CN cấp huyện của Lào Cai:
- Giải pháp về tổ chức và nhân lực.
- Giải pháp về nguồn tài chính phục vụ cho công tác quản lý.
- Giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý (nhà
cửa, phương tiện đi lại, thiết bị kỹ thuật).
- Giải pháp về cơ chế chính sách về thông tin liên lạc và các quy định
đặc thù địa phương.
5. Mẫu khảo sát
6. huyện và thành phố trong tỉnh, cụ thể là
UBND Huyện Mường Khương.
UBND Huyện Bát Xát.
UBND Huyện Bắc Hà.
UBND Huyện Si Ma Cai.
UBND Huyện Sa Pa.
UBND Huyện Bảo Thắng.
UBND Huyện Văn Bàn, và Thành phố Lào Cai để so sánh.
6. Vấn đề nghiên cứu
10
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý các hoạt động khoa học và công
nghệ ở các huyện, đặc biệt là các huyện vùng biên giới của tỉnh Lào Cai, giai
đoạn 2011-2020, cần phải có những giải pháp cụ thể nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu

Lào Cai.
12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái lược về một số quan niệm về quản lý
Người ta cho rằng, những tư tưởng về quản lý đã xuất hiện song hành với
sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, song khoa học quản lý với
tư cách là một khoa học độc lập, một hệ thống tri thức về quản lý chỉ mới ra
đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong các điều kiện nhất định. Lý
thuyết quản lý hình thành trên cơ sở xuất hiện các điều kiện kinh tế - xã hội
và sự tích lũy về tri thức nhất định. Ban đầu là trong sản xuất kinh doanh, sau
này phát triển mạnh sang các lĩnh vực khác và cho đến nay không thể không
có quản lý trong bất kỳ lĩnh vực nào, một trình độ kinh tế nào và ở bất kỳ cấp
độ nào của bất kỳ một chế độ nào. Một điều cơ bản dễ thấy là các nhà nghiên
cứu về quản lý đều nghiên cứu quản lý từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
chưa có một nghiên cứu nào lấy xuất phát từ hệ thống tổ chức hành chính nhà
nước để nghiên cứu. Điều đáng quan tâm đối với những người làm quản lý
thực tiễn là nội dung cụ thể của từng thuyết quản lý, bất kể thuộc trường phái
nào miễn là có thể vận dụng có hiệu quả với điều kiện cụ thể của môi trường
quản lý nhất định.
1.2. Khái niệm về quản lý
Trước khi đi đến một định nghĩa khái quát về quản lý, chúng ta cùng xem
xét các yếu tố cấu thành hoạt động quản lý.
1.2.1. Các yếu tố cấu thành hoạt động quản lý
Từ những khái niệm do các trường phái khác nhau nêu trên ta rút ra được
rằng, mọi hoạt động quản lý đều phải do 5 yếu tố cơ bản sau cấu thành:
- Chủ thể quản lý: trả lời câu hỏi: do tổ chức nào, do ai quản lý?
13
- Khách thể quản lý (đối tượng quản lý): trả lời câu hỏi: quản lý tổ chức
nào, quản lý ai, quản lý cái gì?

hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu nhất định. Bất kỳ hoạt động nào cũng
được tiến hành theo quy trình: Chủ thể (con người có ý thức) sử dụng những
công cụ, phương tiện và các cách thức nhất định để tác động vào đối tượng
(tự nhiên, xã hội, tư duy) trong một môi trường nhất định, ở một phạm vi
không gian và thời gian nhất định, nhằm đạt tới mục tiêu xác định với hiệu
quả mong muốn.
Tính đặc thù của hoạt động quản lý so với hoạt động sản xuất vật chất
biểu hiện trên tất cả các phương diện: Chủ thể; Đối tượng; Công cụ, phương
tiện; Cách thức tác động và mục tiêu.
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất vật
chất là có ý nghĩa tương đối và chỉ tồn tại trong lĩnh vực nhận thức. Quản lý
là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động chung của con
người và vì vậy, nó là hoạt động mang tính phổ quát.
Từ xuất phát điểm như đã trình bày ở trên, kế thừa những nhân tố hợp lý
của các tiếp cận và quan niệm về quản lý trong lịch sử tư tưởng quản lý, có
thể hiểu về quản lý, đó là các tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy
trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực
nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi.
Như vậy có thể thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến.
Thứ hai: Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con người với
con người.
Thứ ba: Quản lý là tác động có ý thức.
15
Thứ tư: Quản lý là tác động bằng quyền lực.
Thứ năm: Quản lý là tác động theo quy trình.
Các hoạt động quản lý được tiến hành theo một quy trình bao gồm: Lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra.
Thứ sáu: Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực.
Thứ bảy: Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung.

Phạm vi mà quản lý đề cập đến rộng hơn nhiều so với lãnh đạo.
Quản lý và lãnh đạo khác biệt nhau nhưng có liên quan mật thiết với
nhau.
Lãnh đạo và quản lý thuộc 2 tầng hoạt động khác nhau song chúng lại có
quan hệ mật thiết khó tách rời. Hoạt động lãnh đạo tập trung ở tầng trên,
nhắm vào việc đưa ra quyết sách, xác định mục tiêu, kế hoạch phấn đấu, vạch
ra chính sách tương ứng và phương hướng lãnh đạo khu vực, ban ngành, đơn
vị tiến lên phía trước… Còn quản lý là hoạt động ở mọi tầng, nhắm vào giữ
vững và tăng cường hoạt động của tổ chức để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu
mà lãnh đạo đã xác định.
1.2.4. Vai trò của quản lý
Thứ nhất: Vai trò định hướng:
Vai trò định hướng của hoạt động quản lý được biểu hiện chủ yếu thông
qua chức năng lập kế hoạch.
Thứ hai: Vai trò thiết kế :
Vai trò thiết kế liên quan tới các nội dung: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác
định biên chế, phân công công việc, giao quyền và chuẩn bị các nguồn lực
17
khác. Thực hiện tốt những nội dung này là tiền đề và điều kiện đặc biệt quan
trọng đối với hiệu quả của hoạt động quản lý.
Thứ ba: Vai trò duy trì và thúc đẩy:.
Một mặt, nhờ có hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) bắt buộc
chủ thể quản lý và đối tượng quản lý hoạt động trong giới hạn quyền lực và
thẩm quyền của họ làm ổn định, bền vững một tổ chức. Mặt khác, thông qua
hệ thống chính sách về nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực phù hợp và phong
cách quản lý, lãnh đạo hợp lý, đã tạo ra động cơ thúc đẩy phát huy cao nhất
năng lực của người lao động và tạo điều kiện cho họ khả năng sáng tạo cao
nhất.
Thứ tư : Vai trò điều chỉnh:
Thông qua chức năng kiểm tra mà hoạt động quản lý thể hiện vai trò điều

cao;
Quản lý nhà nước có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực
hiện mục tiêu;
Quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ;
Quản lý nhà nước không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và
khách thể quản lý;
Quản lý nhà nước bảo đảm tính kế thừa, tính liên tục và ổn định trong tổ
chức.
1.4. Khái niệm về quản lý hành chính nhà nước
1.4.1. Khái niệm
Quản lý hành chính nhà nước hẹp hơn quản lý nhà nước hay nói một
cách khác là một bộ phận của quản lý nhà nước. Quản lý hành chính nhà nước
19
là quản lý mang tính quyền lực nhà nước để thực thi quyền hành pháp và quyền
hành chính trong cả nước.
1.4.2.Hình thức quản lý hành chính nhà nước
- Ra văn bản;
- Hình thức hội nghị;
- Hình thức hoạt động thông tin điều hành bằng các phương tiện thông
tin hiện đại;
1.5. Môi trường quản lý
1.5.1. Định nghĩa
Môi trường quản lý là các yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố bên ngoài và
bên trong (như cơ chế chính sách, các điển hình quản lý, chế độ chính trị - xã
hội – kinh tế.v.v.) hệ thống quản lý, tác động và ảnh hưởng tới sự vận động,
biến đổi và phát triển của hệ thống quản lý.
1.5.2. Đặc trưng
Môi trường quản lý có những đặc trưng cơ bản:
- Môi trường quản lý là các yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố ở bên ngoài
và cả ở bên trong hệ thống quản lý.

đối tượng lao động).
- Nhân tố con người được thể hiện thông qua kinh nghiệm, kỹ năng và
trình độ của nó.
- Nhân tố tư liệu sản xuất được biểu hiện thông qua tính chất và trình độ
của công cụ, phương tiện và đặc biệt là vai trò của khoa học công nghệ. Sự
tác động của nhân tố kinh tế còn được biểu hiện qua sự tác động của các nhân
21
tố trong quan hệ sản xuất. Đó là quan hệ giữa con người với con người đối
với tư liệu sản xuất; quan hệ giữa con người với con người trong tổ chức quản
lý sản xuất và quan hệ trong lĩnh vực phân phối sản phẩm. Nhân tố sở hữu
đóng vai trò quyết định đối với cách thức tổ chức sản xuất cũng như tính chất
của phân phối sản phẩm. Tuy nhiên, hình thức và tính chất của sở hữu lại phụ
thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
* Nhân tố chính trị:
Bất cứ hệ thống quản lý nào cũng đều chịu sự tác động của nhân tố
chính trị. Phạm vi, quy mô, mức độ, tính chất của sự tác động có thể khác
nhau ở những hệ thống quản lý cụ thể. Tuy nhiên, ảnh hưởng của sự tác động
của nhân tố chính trị đối với tất cả các loại hình và cấp độ quản lý là giống
nhau ở chỗ sự tác động đó luôn luôn diễn ra theo hai khuynh hướng: Khuynh
hướng tích cực và khuynh hướng tiêu cực. Sự ảnh hưởng tích cực của nhân tố
chính trị đối với các hệ thống quản lý có được khi hệ thống quan điểm, đường
lối, chính sách và các quy phạm pháp luật phản ánh đúng quy luật khách
quan, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội xác định, cũng như phù hợp với
nhu cầu và lợi ích của xã hội. Đồng thời nhân tố chính trị có tác động tích cực
khi các thiết chế chính trị được tổ chức và vận hành một cách khoa học, hợp
lý. Nhân tố chính trị có thể có ảnh hưởng tiêu cực tới quản lý khi hệ thống các
quan điểm, đường lối, chính sách và các quy phạm pháp luật chỉ là ý chí chủ
quan của lực lượng xã hội cầm quyền, và cơ chế vận hành của các thiết chế
chính trị thiếu khoa học.
* Nhân tố văn hóa bao gồm các nội dung cơ bản:

"Hệ thống các tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của
vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”. Theo luật KH&CN
23
năm 2000: "Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật
của tự nhiên, xã hội và tư duy”; Giáo sư Vũ Cao Đàm (tạp chí hoạt động khoa
học số 8/2008) đã chỉ ra 4 định nghĩa về khoa học khác nhau :1- Khoa học là
một hệ thống tri thức; 2- Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức; 3- Khoa
học là một hình thái ý thức xã hội; 4- Khoa học là một thiết chế xã hội.Và từ
đó ông muốn đưa ra một định nghĩa về khoa học sau 8 năm luật khoa học ra
đời. Đó là: “Khoa học là hoạt động sản xuất các tri thức về bản chất của các
sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan”. Khoa học có thể được hiểu là
một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện
tượng và sự vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo các nguyên lý, các giải pháp
tác động vào các sự vật, hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng. Khoa
học ngày nay đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp của một cộng đồng xã
hội, đó là một dạng lao động xã hội đặc biệt, với một đặc điểm khó tìm thấy
trong một hoạt động xã hội khác. Đó là việc tìm kiếm những điều chưa biết và
phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình tìm kiếm.Tóm lại, có thể hiểu khoa học
là một hệ thống các tri thức, khám phá (của con người) về sự vật, hiện tượng,
về các quy luật vận động của tự nhiên của xã hội và của chính bản thân con
người;, quy luật vận động của chính con người bao gồm quy luật vận động
của tư duy, quy luật vận động của phần không tư duy và mối tương tác qua lại
giữa 2 loại vận động ấy, mối tương tác này chứa đựng các quy luật kỳ lạ nhất,
trong bản thân con người. Như vậy cho đến nay khái niệm hay định nghĩa về
“khoa học” vẫn còn phải trao đổi tiếp. Điều đó không có gì lạ, quá trình đi tìm
chân lý là một quá trình tiếp cận ngày càng gần tới chân lý và có thể nói
không bao giờ loài người có thể đạt được sự hiểu biết tuyệt đối về các quy
luật vận động của tự nhiên, xã hội và về chính bản thân con người.
Từ các định nghĩa trên ta thấy có hai khía cạnh khác nhau: Khoa học là
sản phẩm đặc biệt của con người. Do một loại hoạt động cũng rất đặc biệt tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status