Giám sát, phản biện xã hội của ủy ban mặt trận tổ quốc cấp huyện từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THANH

GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA ỦY BAN
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CẤP HUYỆN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - Năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THANH

GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA ỦY BAN
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CẤP HUYỆN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT, PHẢN
BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM................................. 7
1.1. Vị trí, vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ
thống chính trị...................................................................................................................................... 7
1.2. Những vấn đề lý luận về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam...........10
1.3. Những vấn đề lý luận về phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam................14
1.4. Mối quan hệ giữa giám sát, phản biện của MTTQ Việt Nam........................18
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt
Nam........................................................................................................................................................ 19
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC CẤP HUYỆN TẠI TỈNH QUẢNG
NGÃI..................................................................................................................................................... 25
2.1. Đặc điểm, tình hình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện tại tỉnh
Quảng Ngãi........................................................................................................................................ 25
2.2. Thực trạng hoạt động giám sát của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp
huyện của tỉnh Quảng Ngãi....................................................................................................... 28
2.3. Thực trạng phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện
tỉnh Quảng Ngãi............................................................................................................................... 38
2.4. Đánh giá chung và những ưu điễm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân
của hạn chế trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ
Việt Nam cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi........................................................................ 40
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM CẤP HUYỆN CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI....................47



có thẩm quyền khắc phục và hoàn thiện. Thông qua giám sát, phản biện, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã thực hiện tốt hơn
chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các
tầng lớp nhân dân; phát huy quyền làm chủ, tăng cường sự giám sát của nhân
dân đối với hoạt động của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, góp phần xây
dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, trong những năm qua, Ủy ban MTTQ Việt
Nam tỉnh đã triển khai thực hiện tốt hoạt động giám sát, phản biện xã hội,
nhất là từ khi Hiến Pháp năm 2013 đã ghi nhận vị trí, vai trò của MTTQ Việt
Nam tại Điều 9 và Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013
của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát, phản biện xã hội của
MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, Quyết định số 218QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Bộ Chính trị về ban hành Quy định
về MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia góp
1


ý

xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, góp phần nâng cao hiệu lực pháp

luật đó được ban hành, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, tầng lớp nhân dân.
Đồng thời góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng – an ninh vào
cuộc sống. Xây dựng cơ chế pháp lý để MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội thực hiện hoạt động giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả thiết
thực. Nhìn chung, hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ cấp huyện
bước đầu đã đem lại hiệu quả.
Tuy nhiên so với yêu cầu trong tình hình mới, hoạt động giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói chung, Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất

của chính quyền. Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này
dưới nhiều góc độ khác nhau. Khi nghiên cứu về vấn đề này, bước đầu tác giả
đã tìm hiểu được những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nội dung
đề tài như: TS Nguyễn Thọ Ánh (2012), “Thực hiện chức năng giám sát, phản
biện xã hội của MTTQ Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Ngô Sách Thực (2017), “Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Đức Thành (2012), “Hoạt động giám sát
và phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể - nhìn từ thực tiễn tỉnh Nghệ
An”, Tạp chí Mặt trận số 108, năm 2012; Thu Hà (2018), “Phát huy vai trò
giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”; Nguyễn Đăng
Dung (2010), “ Cơ sở pháp lý nào cho sự hoàn thiện chức năng giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, Tạp chí Mặt trận số 81,
năm 2010; Nguyễn Trọng Bình (2010), “Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ
quốc – Thực trang và một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Mặt trận số 81, năm
2010; Trần Thanh Mẫn (2019), “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tăng
cường thực hiện giám sát, phản biện xã hội đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng
3


của các tầng lớp nhân dân; Hoàng Thị Ánh (2015), luận văn thạc sỹ luật học
“Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng”;
Trần Văn Thi (2018), luận văn thạc sỹ xã hội học “hoạt động giám sát, phản
biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại huyện Châu Thành,
tỉnh Tiền Giang”;..
Tóm lại, vấn đề giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Tuy
nhiên, từ năm 2015 đến nay tại tỉnh Quảng Ngãi chưa có luận văn nghiên cứu
về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp huyện tỉnh Quảng Ngãi theo quy định của Hiến pháp 2013, Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Quyết định số 217-QĐ/TW ngày


quả thành công và hạn chế trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
-

Đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học góp phần nâng cao hiệu

quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp huyện từ thực tiễn, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các quan niệm về lý luận khoa học, hệ thống chủ
trương, chính sách pháp luật về giám sát, phản biện xã hội của MTTQVN; vị
trí, vai trò, chức năng của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện của tỉnh Quảng
Ngãi; thực tiễn hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt
Nam cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Về không gian: Không gian nghiên cứu của luận văn là tại cấp huyện

của tỉnh Quảng Ngãi.
-

Về thời gian: Thời gian nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện

giấm sát, phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện từ thực
tiễn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2014 – 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận, nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia
phù hợp với 03 chương trong luận văn, cụ thể như sau:
-

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về giám sát, phản biện

xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
-

Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi.
-

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã

hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ
HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
1.1. Vị trí, vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
hệ thống chính trị
1.1.1. Vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận hệ thống chính trị của nước
ta hiện nay. Sự qui định này là một tất yếu khách quan của sự nghiệp cách
mạng, là xuất phát từ thể chế chính trị của nước ta là một nước của dân, do

đẹp của dân tộc như sự tương thân, tương ái, tình dân tộc, nghĩa đồng bào.
Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ
VIII (26/9/2014), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh "Đảng Cộng
sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và rất
vui mừng trước sự phát triển, lớn mạnh không ngừng của Mặt trận - hình ảnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một nhân tố quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam". [10, tr.1]
Trong công cuộc đổi mới với nền dân chủ ngày càng phát triển, vai trò
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng quan trọng đã làm tốt vai trò là cơ
sở chính trị của chính quyền nhân dân, cầu nối vững chắc giữa nhân dân với
Đảng và Nhà nước, tăng cường đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam
với nhân dân các nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tiếp tục tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp
nhân dân.
1.1.3 Chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trong thực tế lãnh đạo, do nhiều nguyên nhân khác nhau “Đảng chưa
8


đáp ứng được nhu cầu trong việc giải quyết nhiều vấn đề kinh tế-xã hội, trong
phong cách lãnh đạo và cả trong rèn luyện phẩm chất cán bộ đảng viên” [19,
tr.10]. Để tăng cường sức mạnh của Đảng cần khắc phục những hạn chế,
khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của Đảng là yêu cầu cấp bách,
khách quan trong tình hình hiện nay. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “mỗi
công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hệ chặt chẽ với quần
chúng” và “giữ chặt mối liên hệ với quần chúng, đó là nền tảng lực lượng
của Đảng mà nhờ đó Đảng thắng lợi” [6, tr.4]. Cho nên, Mặt trận Tổ quốc với
tính cách là sự thể hiện của khối đại đoàn kết toàn dân có vai trò to lớn đối với
việc phát huy sức mạnh của Đảng.
Với tư cách là cơ sở quần chúng của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động, tổ chức

Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.
-

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động các tầng

lớp Nhân dân tham gia các phong trào quần chúng cùng Nhà nước thực hiện
các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững.
1.2. Những vấn đề lý luận về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1. Khái niệm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Để có những nhận thức lý luận về giám sát của MTTQVN, trước hết cần
hiểu “giám sát” là gì.
Giám sát là thuật ngữ được dùng nhiều văn bản trong cơ quan Đảng và
Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự nhất quán trong cách quan niệm.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực
hiện đúng những điều qui định không?”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam
thì: “giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức
xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy định chung nào
đó”. Từ điển Luật học định nghĩa: “giám sát được hiểu là sự theo dõi, quan sát
hoạt động thường xuyên, liên tục và sẳn sàng tác động bằng các biện pháp
tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng
quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo
đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [32, tr. 389]
Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, nhưng từ các định nghĩa này, có thể
thấy được những đặc trưng chung nhất của giám sát:
-

Là hoạt động phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng trong

Theo khoản 2, điều 25, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy
định:
“- Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại
diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời
phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ
sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển
hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân,
góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.[14, tr.9]
11


Hoạt động giám sát được thực hiện bằng hai loại chủ thể. Đó là hoạt
động giám sát của cơ quan Nhà nước và hoạt động giám sát của các chủ thể
xã hội (ngoài nhà nước). Hoạt động giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước
gọi là giám sát xã hội. Giám sát xã hội khác với giám sát Nhà nước như sau:
chủ thể giám sát xã hội gồm các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội,
báo chí, công dân. Đảng cầm quyền không được coi là chủ thể giám sát xã hội
và đảng cầm quyền là chủ thể xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy và trực tiếp
lãnh đạo nhà nước. Đối tượng giám sát xã hội là cơ quan quyền lực, giám sát
xã hội không mang tính quyền lực Nhà nước (không thực hiện quyền miễn
nhiệm, bãi nhiệm trực tiếp đối với các đối tượng vi phạm nhưng lại có thể gây
áp lực lên chủ thể quyền lực để điểu chỉnh quyết định chính sách).Bản chất
giám sát xã hội là hình thức giám sát có sự tham gia rộng rãi của toàn bộ xã
hội mà nòng cốt là một số tổ chức của nhân dân, do nhân dân lập nên và ủy
nhiệm. Phương thức giám sát xã hội được thực hiện trước tiên, thông qua các
tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của nhân dân ( Mặt trận tổ quốc Việt Nam,
các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hôi nghề nghiệp…) bằng hình thức
giám sát gián tiếp hoặc trực tiếp của mỗi công dân. Trái lại, giám sát xã hội là
sự bổ sung quan trọng, khách quan cho những hình thức giám sát của cơ quan
quyền lực nhà nước và hệ thống. Hoạt động giám sát được thực hiện theo

phí hoạt động cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
theo quy định; về an toàn thực phẩm; cấp phát thẻ bảo hiểm y tế cho các đối
tượng thuộc ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ; cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, việc quản lý sử dụng đất công ích; các chính sách hỗ trợ cho các
đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số; bồi thường giải phóng mặt
bằng, bồi thường thiệt hại; việc thu, quản lý và sử dụng các khoản thu từ
nguồn do cha mẹ học sinh đóng góp và nguồn xã hội hóa giáo dục trong
trường học... Sau 05 năm thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết
13


định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ở tất cả 14 huyện, thành phố đã triển
khai hoạt động giám sát theo nhu cầu của địa phương, có sự phối hợp chặt chẽ
với cấp ủy và chính quyền các cấp.
1.2.4. Hình thức và phương pháp giám sát của MTTQ Việt Nam
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam năm 2015 quy định các hình thức giám sát như:
“+ Thứ nhất, xem xét, nghiên cứu các văn bản của cơ quan có thẩm
quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
+

Thứ hai, tổ chức đoàn giám sát.

+

Thứ ba, Ban thanh tra nhân dân và Ban giám sát đầu tư của cộng

đồng được thành lập ở cấp xã để thực hiện hoạt động.
+


hay phủ định mà còn đòi hỏi phải có luận cứ chứng minh kèm theo. Kiến thức
và trách nhiệm của bên phản biện đòi hỏi phải có sự đáp ứng cao hơn so với
việc góp ý kiến, kiến nghị. Khi tiến hành phản biện, nhất thiết phải có sự đối
thoại trực tiếp hoặc thông qua văn bản của cả hai bên biện luận và phản biện
luận. Khi phản biện, bên biện luận và bên phản biện luận đều phải nêu rõ
quan điểm, lập luận, căn cứ khoa học, căn cứ thực tiễn để phủ định hoặc
khẳng định. Việc chấp nhận hay không chấp nhận các lập luận, biện luận và
phản biện luận phải nêu rõ căn cứ, lý do và thông báo công khai, rộng rãi cho
mọi người biết. Quyết định cuối cùng là do tập thể, cá nhân có thẩm quyền
quyết định và chịu trách nhiệm đối với quyết định đã ban hành.
Phản biện là một trong những hình thức mở rộng dân chủ. Hơn nữa, đó
là dân chủ trực tiếp và có tính dân chủ cao hơn kiến nghị và góp ý kiến. Trong
phản biện, bên phản biện không phải lúc nào cũng nêu ý kiến phản bác. Bên
phản biện có cả những ý kiến tán đồng, những ý kiến sửa đổi, bổ sung nhằm
làm cho dự án, kế hoạch đưa ra được đầy đủ, hoàn thiện hơn.
Theo quy định tại Điều 32, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015:
“Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối
với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề
15


án (sau đây gọi chung là dự thảo văn bản) của cơ quan nhà nước.” [14, tr.12]

1.3.2. Đặc điểm phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam
Phản biện xã hội là có sự tham gia rộng rãi hơn của xã hội, của nhân
dân, và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương của đảng,
chính sách của Nhà nước và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội. Phản biện xã
hội là ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà

văn bảo dự thảo.” [24, tr.5]
Về cơ chế phản biện, bước đầu, Mặt trận Tổ quốc đã phát huy được vai
trò của các tổ chức thành viên, các Hội đồng tư vấn của Mặt trận và nhân dân
trong hoạt động phản biện xã hội; đã xác lập được mối quan hệ giữa Mặt trận
Tổ quốc các cấp với các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền (giữa chủ thể phản
biện và chủ thể nhận sự phản biện). Một số cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
hoạch định chủ trương, chính sách đã chủ động gửi dự thảo đề án tới Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam để tranh thủ ý kiến, cung cấp thông tin liên quan tới đề án.
Trên cơ sở đó, Mặt trận Tổ quốc tiến hành thẩm định, phản hồi ý kiến tới các
cơ quan, tổ chức có dự thảo đề án được phản biện nhằm bảo đảm nguyên tắc
tập trung dân chủ.
Thông qua hoạt động thẩm định của mình, những ý kiến đóng góp,
đánh giá, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có tác dụng bổ sung,
điều chỉnh dự thảo chủ trương, đường lối, đề án của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước trên một số mặt; nêu được quan điểm của Mặt trận và phản
ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân đối với quá trình ban hành chủ
trương, chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
1.3.3.2. Phạm vi phản biện xã hội
Theo khoản 3, điều 33, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 thì
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc quy định của pháp luật, các tổ chức
chính trị - xã hội chủ trì phản biện xã hội các vấn đề có liên quan trực tiếp đến
17


quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, quyền và trách
nhiệm của tổ chức mình.
Theo điều 10 của Quy chế giám sát, phản biện xã hội tại Quyết định số
217-QĐ/TW quy định phạm vi phản biện xã hội:
“- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Chủ trì phản biện xã hội đối với các văn
bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status