MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................................. 2
3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài ............................................................ 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................... 4
5. Kết cấu khóa luận ................................................................................................... 5
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG TRƢỚC THỜI HẠN THỰC
HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƢỚC VIÊN 1980............................... 6
1.1 Khái niệm về hủy hợp đồng trƣớc thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng....... 6
1.2 Hệ quả pháp lý khi áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trƣớc thời hạn thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng................................................................................................... 11
1.3 Nghĩa vụ thông báo khi áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trƣớc thời hạn
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng .......................................................................................... 14
1.3.1 Thời hạn thông báo ....................................................................................... 15
1.3.2 Hình thức thông báo ..................................................................................... 16
1.3.3 Nội dung thông báo....................................................................................... 17
1.4 Phân biệt biện pháp hủy hợp đồng trƣớc thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng với biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trƣớc thời hạn thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng................................................................................................... 22
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ................................................................................................ 27
CHƢƠNG 2 CĂN CỨ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP HỦY HỢP ĐỒNG TRƢỚC THỜI
HẠN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƢỚC VIÊN 1980 –
LIÊN HỆ PHÁP LUẬT VIỆT NAM ............................................................................. 28
2.1 Căn cứ áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trƣớc thời hạn thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng theo Công ƣớc Viên 1980 ............................................................................... 28
2.1.1 Khả năng một bên sẽ gây ra vi phạm cơ bản................................................ 28
2.1.2 Một bên tuyên bố sẽ không thực hiện hợp đồng ........................................... 39
2.2 Pháp luật Việt Nam về biện pháp hủy hợp đồng trƣớc thời hạn thực hiện
Với mục tiêu thống nhất luật pháp quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa, Công
ước Viên 1980 là một thành tựu to lớn trong việc nỗ lực hài hòa hóa các hệ thống luật
trên thế giới. Việt Nam đã là thành viên thứ 84 của Công ước Viên và Công ước chính
thức có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày 01/01/2017. Đây là một bước tiến vượt bậc trong
quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam, tạo sự thuận lợi cho các thương
nhân trong nước tiếp cận với một nguồn luật tiến bộ và được áp dụng rộng rãi, đặc biệt
là các nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới. Những quy định tiến bộ và hài
hòa của Công ước Viên đã được các nước thành viên vận dụng và đem lại những lợi
ích to lớn trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại. Đối với vấn đề pháp lý nêu
trên, tại Điều 72 CISG đã tạo cơ hội cho một bên có quyền áp dụng chế tài hủy hợp
1
đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ để giảm thiểu tối đa các thiệt hại của mình do
bên kia có khả năng vi phạm hợp đồng khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ.
Nhằm làm rõ những quy định của Công ước Viên về vấn đề hủy hợp đồng trước thời
hạn, và có cái nhìn tổng thể giữa pháp luật Việt Nam với Công ước Viên. Người viết
chọn đề tài “Hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo Công
ước Viên 1980” làm đề tài Khóa luận của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của Khóa luận là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến các quy định về chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ
theo Công ước Viên và so sánh với pháp luật Việt Nam cũng như các văn bản pháp lý
quốc tế khác. Khóa luận làm rõ các quy định của Công ước Viên và có những kiến nghị
bổ sung pháp luật Việt Nam về chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ.
Qua đó, góp phần hài hòa hóa pháp luật Việt Nam với các văn bản pháp lý quốc tế, đặc
biệt là Công ước Viên. Mặt khác, tạo hành lang pháp lý thuận lợi và dễ áp dụng cho
các doanh nghiệp Việt Nam trong giao kết và thực hiện hợp đồng, cho các cơ quan giải
quyết tranh chấp của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế.
Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, do đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ
tập trung vào chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng phạm vi nghiên cứu của Khóa luận không nghiên
cứu về chế tài hủy hợp đồng do một bên có hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện
hợp đồng và các loại chế tài khác áp dụng cho hợp đồng không phải là hợp đồng mua
bán hàng hóa.
Về không gian: Khóa luận phân tích thực tiễn các án lệ, bản án, phán quyết của Tòa
án và Trọng tài của các nước là thành viên Công ước Viên 1980.
3
Về thời gian: Khóa luận lấy số liệu, thông tin từ năm 1988 – năm Công ước Viên có
hiệu lực cho đến nay.
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
đến chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Cụ thể là khả
năng một bên trong hợp đồng vi phạm cơ bản nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn thực
hiện nghĩa vụ, và quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục để áp dụng chế tài hủy hợp
đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ.
Ngoài ra, Khóa luận còn nghiên cứu các án lệ, bản án, phán quyết của Tòa án, Trọng
tài của một số quốc gia thành viên Công ước Viên 1980 và bao gồm cả những hạn chế,
thiếu sót của pháp luật Việt Nam về chế tài hủy hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ so với các quy định của Công ước Viên.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được áp dụng để tìm hiểu,
phân tích các khái niệm, ý nghĩa của các đối tượng nghiên cứu.
Phƣơng pháp so sánh: Phương pháp này cung cấp cho người đọc một góc nhìn
tổng thể giữa các văn bản pháp luật từ các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm tìm ra
hứa để làm một điều gì đó để đổi lại một lợi ích có giá trị.1
Khi hợp đồng được xác lập hợp pháp thì nó được xem như là “luật” của các bên và
kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực các bên phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng trên
cơ sở nguyên tắc thiện chí, trung thực. Các bên phải đảm bảo thực hiện một cách tốt
nhất nghĩa vụ của mình trong hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng
phát sinh những yếu tố khách quan cũng như chủ quan khiến một bên không thực hiện,
thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã giao kết trong hợp
đồng được gọi là hành vi vi phạm hợp đồng.
Hành vi vi phạm hợp đồng của một bên sẽ làm phát sinh cho bên kia quyền được bồi
thường thiệt hại, ngoài ra còn có các biện pháp khắc phục chuyên biệt hơn như là
quyền từ chối nhận hàng của người mua và quyền từ chối giao hàng của người
bán. Trong pháp luật các quốc gia, các biện pháp này có thể được gọi là “từ chối”,
“thu hồi chấp nhận”, “tránh”, “chấm dứt” hoặc “hủy”. Trong Công ước Viên (Điều
49 và Điều 64) đặc quyền của một bên không thực hiện hợp đồng vì vi phạm của bên
kia được gọi là “hủy hợp đồng”.2
Hủy hợp đồng là một trong những chế tài nghiêm khắc nhất của pháp luật trao cho
các bên trong quan hệ hợp đồng khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Hủy hợp đồng dẫn
đến những hậu quả rất nặng nề cho cả hai bên. Tuy nhiên nó là chế tài cần thiết để bảo
vệ quyền lợi của bên bị vi phạm trước hành vi vi phạm hợp đồng của bên còn lại.
1
https://legal-dictionary.thefreedictionary.com/contract truy cập lần cuối ngày 12/10/2018
John O. Honnold, “Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention”, 3rd ed.
(1999), pages 204-212
2
6
3
https://www.lawteacher.net/cases/hochster-v-de-la%20tour.php truy cập lần cuối 13/12/2018
7
Thứ nhất, Tòa án cho rằng khi một hợp đồng cung cấp lời hứa cho nghĩa vụ trong
tương lai, một bên từ chối thực hiện thỏa thuận, xem như là từ bỏ hợp đồng, và phải
chịu trách nhiệm về vi phạm hợp đồng. Hơn nữa, một hợp đồng cho nghĩa vụ trong
tương lai tạo thành một lời hứa ngụ ý rằng, trong khi chờ đợi, không bên nào sẽ làm
tổn hại đến sự thực hiện của lời hứa đó.
Thứ hai, trên cơ sở đó, Tòa án bác bỏ lập luận của bị đơn rằng bên kia phải sẵn sàng
thực hiện hợp đồng cho đến sau ngày bắt đầu, do đó ngăn cản anh ta thực hiện việc
khởi kiện trước thời hạn. Tòa án cho rằng việc từ bỏ hợp đồng thực hiện trong tương
lai của một bên ngay lập tức giải phóng nghĩa vụ của bên kia để thực hiện hợp đồng, do
đó không có lý do gì để yêu cầu người kia chờ đến hạn thực hiện nghĩa vụ trước khi
tìm cách giải quyết tốt hơn. Vì vậy, việc vi phạm hợp đồng bằng cách từ bỏ thực hiện
nghĩa vụ trong tương lai ngay lập tức làm cho bên chịu trách nhiệm về một hành động
gây thiệt hại cho bên bị thiệt hại. Tòa án đã ra phán quyết cho nguyên đơn (Hochster).
Từ án lệ đó, thuật ngữ “vi phạm dự đoán trước” (anticipatory breach) đã được lan tỏa
đến các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.
Vi phạm dự đoán trước là một thuật ngữ trong Luật hợp đồng mô tả tuyên bố của
bên giao kết trong hợp đồng mà họ không có ý định thực hiện nghĩa vụ của mình theo
hợp đồng khi đến hạn. Một bên được coi là hủy hợp đồng khi họ chứng minh sự thiếu
tự nguyện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên kia. Việc vi
phạm hợp đồng của một bên (bên có khả năng vi phạm) sẽ cho phép bên kia (bên có
khả năng bị vi phạm) chọn cách hủy hợp đồng. Điều này dựa trên ý định khách quan,
tức là lời nói hay hành vi của bên có khả năng vi phạm.4 Sự không sẵn sàng hoặc
không có khả năng thực hiện một điều kiện này phải tước đi toàn bộ lợi ích mà họ sẽ
vi phạm cơ bản đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hủy hợp đồng”.7
Trong quá trình soạn thảo CISG, ngay từ đầu, quy định này đã không nhận được sự
ủng hộ từ các học giả đến từ các nước theo hệ thống dân luật (civil law). Nguyên nhân
là do việc áp dụng chế tài này bị cho rằng đã dựa vào căn cứ mang tính chất chủ quan
của một bên, thiếu minh bạch và không công bằng đối với bên có khả năng vi phạm.8
Đối lập với quan điểm trên, các học giả đến từ các nước theo hệ thống thông luật
(common law) cho rằng, một bên không nên tiếp tục bị ràng buộc bởi hợp đồng khi bên
kia không thể thực hiện được nghĩa vụ cơ bản của mình, thậm chí là trước thời hạn các
bên thực hiện hợp đồng. Bảo vệ cho quan điểm trên, các học giả đã đưa ra lập luận:
“Suy cho cùng, một việc vốn dĩ đã được dự đoán chắc chắn không thể được thực hiện
khi đến hạn và một việc trên thực tế đã không được thực hiện khi đến hạn đều dẫn đến
hậu quả như nhau. Vì thế, lúc này, sự chấm dứt hợp đồng một cách dứt khoát càng sớm
càng giảm thiểu các thiệt hại phát sinh”.9
6
Tramways Advertising Pty Ltd v Luna Park (NSW) Ltd [1938] NSWStRp 632, Supreme Court (NSW,
Australia).
7
Khoản 1 Điều 72 CISG
8
Williston, “Contracts” (rev, ed), đoạn 1307 (footnote 1 của bài viết E. Tabachnik, “Anticipatory breach of
contract”, tr.149
9
Keith A. Rowley, “A Brief History of Anticipatory Repudiation in American Contract Law”, xem tại:
http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/rowley.html#v truy cập lần cuối 13/12/2018
9
Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-72.html truy cập lần cuối 12/12/2019
11
Đoạn 3 Secretariat Commentary (closest counterpart to an Official Commentary)
Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-72.html truy cập lần cuối 12/12/2019
12
Enderlein F & Maskow D International Sales Law - United Nations Conven;tion on Contracts for the
International Sale of Goods (1992 New York) <http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein.html> Đoạn 1
trang 291 truy cập lần cuối 09/12/2018
10
Tương tự CISG, PICC cũng có quy định về trường hợp hủy hợp đồng trước thời hạn
thực hiện nghĩa vụ. Tại Điều 7.3.3 PICC quy định : “Một bên có căn cứ để hủy hợp
đồng nếu, trước thời hạn, rõ ràng sẽ có việc không thực hiện chủ yếu từ phía bên kia”.
PICC cũng có yêu cầu phải thông báo như quy định tại Điều 72 (2) CISG. Nếu một
bên không chắc chắn liệu có vi phạm cơ bản hay không, nhưng có một sự nghi ngờ hợp
lý rằng nó có thể xảy ra, thì bên đó, theo Điều 7.3.4 PICC, có quyền yêu cầu một sự
đảm bảo đầy đủ từ bên kia rằng nghĩa vụ sẽ được thực hiện. Việc không cung cấp một
sự đảm bảo đầy đủ là một căn cứ trong các điều khoản 7.3.4 để chấm dứt hợp đồng. Do
đó, có một mối liên hệ khá chặt chẽ giữa các quy định tại Điều 7.3.3 và 7.3.4.
Tại Điều 9:304 PECL quy định: “Trong trường hợp trước thời gian thực hiện hợp
đồng của một bên, rõ ràng sẽ có một hành vi vi phạm cơ bản của bên đó, bên kia có thể
chấm dứt hợp đồng.”
Kết luận lại, vi phạm hợp đồng được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm có thể là
vi phạm thực tế, nghĩa là bên vi phạm đã và đang thực hiện hợp đồng; hoặc có thể là
hành vi vi phạm hợp đồng dự đoán trước, tức là bên vi phạm chưa thực hiện hợp đồng,
nhưng một bên có đủ căn cứ “rõ ràng” để khẳng định bên kia sẽ vi phạm hợp đồng khi
đến hạn.
đồng.
Tại Điều 81 CISG có quy định về hệ quả của việc hủy hợp đồng: “Việc hủy hợp
đồng giải phóng hai bên khỏi những nghĩa vụ của họ, trừ những khoản bồi thường thiệt
hại có thể có. Việc hủy hợp đồng không ảnh hưởng đến các quy định của hợp đồng liên
quan đến việc giải quyết các tranh chấp hay đến các quyền và nghĩa vụ của hai bên
trong trường hợp hợp đồng bị hủy.”
Điều 81 CISG quy định rằng việc hủy hợp đồng cho phép các bên chấm dứt nghĩa
vụ tương ứng phát sinh từ hợp đồng. Hủy hợp đồng là một quá trình mà một bên bị vi
phạm, bằng cách thông báo cho bên kia, tuyên bố chấm dứt nghĩa vụ theo hợp đồng
của các bên. Tác động chính của việc hủy hợp đồng là cả hai bên đều được giải phóng
khỏi nghĩa vụ của mình trong hợp đồng. Người bán không cần giao hàng và người mua
không cần nhận hàng hoặc trả tiền cho bên bán. Tuy nhiên, việc hủy hợp đồng không
ảnh hưởng đến bất kỳ điều khoản nào trong hợp đồng quy định về quyền và nghĩa vụ
của các bên sau khi hủy hợp đồng, cũng không loại bỏ quyền yêu cầu bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng.
13
Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt (Từ điển Hoàng Phê, năm 2003), Nxb. Đà Nẵng, trang 470.
Võ Sĩ Mạnh, Luận án tiến sĩ luật học “Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng
mua bán hàng hoá quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam”
14
12
Khi hợp đồng bị hủy bỏ, cả hai bên đều được giải phóng khỏi nghĩa vụ của mình,
các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp
đồng. Tuy nhiên, có khả năng một trong hai bên có thể không hoàn trả được cho nhau
những gì đã nhận do tài sản đã được chuyển nhượng hoặc thanh toán đã được thực hiện
bởi bên kia. Trong trường hợp này, mỗi bên đã thực hiện nghĩa vụ riêng của mình có
thực hiện nghĩa vụ
Khi có đủ căn cứ về sự rõ ràng bên kia sẽ vi phạm cơ bản, bên có khả năng bị vi
phạm phải gửi thông báo cho bên kia để thể hiện ý định hủy hợp đồng và cho phép bên
có khả năng vi phạm cung cấp đảm bảo cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình khi
đến thời hạn hợp đồng. Đây là quy định cần thiết cho các bên để đảm bảo nhận định về
căn cứ “rõ ràng” xảy ra vi phạm hợp đồng cơ bản của mình là chính xác.
Về nghĩa vụ thông báo, khoản 2 Điều 72 CISG quy định: “2. Nếu có đủ thời giờ,
bên có ý định tuyên bố hủy hợp đồng phải gửi một thông báo cho bên kia một cách hợp
lý để cho phép họ cung cấp những bảo đảm đầy đủ rằng họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của
mình”.
Thêm vào đó, tại Điều 26 CISG: “Một lời tuyên bố về việc hủy hợp đồng chỉ có hiệu
lực nếu được thông báo cho bên kia biết.”
Trong lịch sử soạn thảo Điều 63 (tương ứng Điều 72 CISG) không có quy định về
nghĩa vụ thông báo khi một bên tuyên bố hủy hợp đồng trước thời hạn.15 Đoạn (2) và
(3) đã được thêm vào Điều 72 tại Hội nghị Ngoại giao. Trong cuộc thảo luận về Điều
71, thay mặt cho các nước đang phát triển bày tỏ mối quan tâm chủ yếu đến sức mạnh
của biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng có thể bị lạm dụng. Những lo ngại tương
tự cũng được đề cập liên quan đến việc hủy hợp đồng theo Điều 72; việc bổ sung các
đoạn (2) và (3) của Điều 72 là một phần của sự thỏa hiệp được phát triển bởi một nhóm
trọng tài vụ việc đặc biệt liên quan đến cả Điều 71 và 72.16
Theo từ điển tiếng Việt, “Thông báo” là báo cho mọi người biết tình hình, tin tức
bằng lời nói hoặc văn bản. Việc thông báo của bên tuyên bố hủy hợp đồng theo CISG
bao gồm các yếu tố sau: (i) Thời gian phát đi thông báo; (ii) Sự hợp lý của thông báo;
(iii) Sự cho phép bên kia bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
15
Comentary 1 Secretariat Commentary Art. 72
Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-72.html truy cập lần cuối 15/12/2018
dung rằng thời gian sẽ không cho phép thông báo cho bên kia về việc hủy hợp đồng
trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Các phương thức giao tiếp hiện đại ngày nay sẽ cho
phép một thông báo cho bên kia mà không gặp nhiều trở ngại về thời gian và khoảng
cách địa lý.
Thêm vào đó, trong mọi trường hợp, thông báo trước “Nếu có đủ thời giờ” sẽ phù
hợp với nguyên tắc thiện chí và tập quán thương mại và thực sự sẽ làm giảm các rủi ro
khi đưa ra tuyên bố hủy hợp đồng. Vì vậy, cụm từ “Nếu có đủ thời giờ” tại Điều 72 (2)
15
CISG chỉ còn mang tính chất “lịch sử”, các bên khó có thể viện dẫn lí do thời gian
không cho phép để không gửi thông báo tuyên bố hủy hợp đồng cho bên kia.
Trong PICC cũng quy định rằng quyền chấm dứt hợp đồng của một bên được thực
hiện bằng việc thông báo cho bên kia biết. Tuy nhiên nếu việc thông báo bị chậm trễ
hoặc không đúng theo các quy định trong hợp đồng thì bên bị vi phạm có thể bị mất
quyền hủy hợp đồng.17 Luật Thương mại cũng quy định tương tự như CISG, theo đó,
trong trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên hủy bỏ
hợp đồng phải bồi thường thiệt hại.
Như vậy, có thể thấy khi một bên có ý định tuyên bố hủy hợp đồng thì phải thực
hiện thông báo ngay cho bên kia được biết. Một bên có thể thực thi quyền hủy hợp
đồng khi thông báo cho bên kia được biết. Yêu cầu thông báo này giúp cho bên có khả
năng vi phạm tránh được những thiệt hại do không biết bên còn lại có chấp nhận việc
chậm trễ của mình hay không, đồng thời cũng ngăn không cho bên có khả năng bị vi
phạm tăng thiệt hại làm tổn hại đến bên còn lại.18 Ngoài ra, nghĩa vụ thông báo còn
giúp các bên xác nhận tình trạng hiệu lực của hợp đồng để xử lý hợp đồng một cách
nhanh chóng hơn.
1.3.2 Hình thức thông báo
Hình thức của thông báo là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của thông báo. Một số
hình thức thông báo thông dụng như: văn bản, fax, email, điện thoại, lời nói trực tiếp…
năng chứng minh khi được yêu cầu. Ngoài ra, việc không quy định hình thức của thông
báo như là một yếu tố để xem xét tính hợp pháp của thông báo cũng tạo sự linh hoạt
cho các bên trong từng trường hợp cụ thể mà sử dụng các hình thức thông báo cho phù
hợp. Trên thực tế, để đảm bảo cho khả năng chứng minh về việc thông báo, bên có
quyền sẽ ưu tiên sử dụng thông báo bằng văn bản và có xác nhận của đơn vị chuyển
phát.
1.3.3 Nội dung thông báo
1.3.3.1 Sự cho phép bên kia đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ
Đây có thể được xem là một trong những nội dung quan trọng nhất của thông báo.
Ngoài sự dự định tuyên bố hủy hợp đồng của một bên thì sự cho phép bên kia bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ cũng là một yếu tố để xem xét tính hợp pháp và hợp lý của thông
báo. CISG bắt buộc bên có ý định hủy hợp đồng phải cho phép bên kia thể hiện khả
năng thực hiện hợp đồng khi đến hạn. Đây có thể được xem là bước xác minh khả năng
thực hiện hợp đồng của bên có khả năng vi phạm nhằm củng cố thêm về sự phán đoán
của bên có ý định hủy hợp đồng. Theo nguyên tắc thiện chí, trung thực thì các bên phải
thể hiện sự thiện chí của mình bằng cách cho phép bên kia thêm “cơ hội” để thực hiện
nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp bên có khả năng vi phạm không thể bảo đảm khả
17
năng thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì bên còn lại
có thể thực hiện chế tài hủy hợp đồng mà không phải lo lắng về phán đoán của mình.
So sánh với các văn bản pháp luật quốc tế khác, có thể thấy việc cho phép một bên
đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng là một căn cứ để hủy hợp đồng. Ngoài ra, có sự
tách biệt giữa thông báo hủy hợp đồng và thông báo yêu cầu cung cấp đảm bảo khả
năng thực hiện hợp đồng.
Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ - UCC quy định rằng: “Khi có căn cứ hợp lý
về khả năng thực hiện hợp đồng phát sinh liên quan đến hoạt động của một trong hai
bên thì bên kia có thể yêu cầu bằng văn bản sự đảm bảo đầy đủ về khả năng thực hiện
hợp đồng và cho đến khi họ nhận được sự đảm bảo hợp lý về mặt thương mại.19 Tính
vụ đưa ra thông báo có phải là căn cứ cho việc thực hiện quyền hủy hợp đồng hợp lệ
hay không.23 Một số lập luận cho rằng trong việc giải thích nghĩa vụ thông báo, Tòa án
cần tuân theo cách tiếp cận chặt chẽ hơn đối với sự cần thiết phải thông báo nếu có liên
quan đến cách tiếp cận theo PICC. Tại Bình luận Điều 7.3.3 PICC bên có khả năng bị
vi phạm phải thông báo chấm dứt hợp đồng kịp thời.24 Nếu có nghi ngờ về việc liệu
bên có khả năng bị vi phạm có nên thông báo hay không, Tòa án phải phán quyết có lợi
cho bên có khả năng bị vi phạm, tức là không có nghĩa vụ phải thông báo.25
Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, đối chiếu với bản bình luận tại Điều 7.3.3
PICC,26 người viết cho rằng bên có ý định hủy hợp đồng phải có nghĩa vụ thông báo
kịp thời. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của CISG, PICC hay PECL.
Một tranh luận khác liên quan đến nghĩa vụ thông báo khi một bên đã tuyên bố
không thực hiện nghĩa vụ của mình. Trường hợp này rõ ràng là thông báo sẽ hoàn toàn
không có ý nghĩa ở chỗ bên có khả năng bị vi phạm không thể ngăn chặn vi phạm của
bên kia, như vậy, liệu bên có khả năng bị vi phạm vẫn còn nghĩa vụ phải thông báo?
Có quan điểm cho rằng đây là một tình huống mà bên có khả năng bị vi phạm không
bắt buộc phải thông báo cho bên kia.27 Đối tượng của yêu cầu thông báo là sự cho phép
bên kia cung cấp sự đảm bảo đầy đủ về nghĩa vụ của mình. Nếu điều đó đã trở thành
không thể, thì sự cần thiết phải đưa ra thông báo chắc chắn phải mất đi. Tuy nhiên,
22
Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 34 & 35.
Nguồn http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/principles/uni71,72.html Truy cập lần cuối 09/12/2018
23
Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 35 & 36. Witz/Salger/Lorenz is of the opinion that the failure to give
notice does not affect the effectiveness of the avoidance. However, see the decision to the contrary in ICC
Arbitration Case No. 8574 of September 1996 <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/968574i1.html>.
24
Viện thống nhất tư pháp Quốc tế, Những nguyên tắc hợp đồng Thương mại Quốc tế, người dịch: Lê Nết, NXB.
Tp Hồ Chí Minh, 1999
hợp với hoàn cảnh, thì một sự chậm trễ hoặc lầm lẫn trong việc chuyển giao thông tin
hoặc việc thông tin không đến người nhận cũng sẽ không làm bên đó mất quyền viện
dẫn các thông tin của mình.”.
Có thể thấy, CISG không bắt buộc thông báo phải đến người nhận, miễn là bên
thông báo chứng minh được rằng họ đã gửi thông báo cho bên kia thì bên thông báo có
thể thực hiện những thông tin có trong thông báo mà không phụ thuộc vào bên kia có
nhận được hay không. Như vậy, mọi sai sót hay sự cố khiến thông báo không đến được
với người nhận cũng không ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của bên thông báo.
Điều này cũng có nghĩa rằng bên có quyền hủy hợp đồng chỉ cần chứng minh họ đã gửi
thông báo cho bên kia với những nội dung hợp lý và trong một khoảng thời gian hợp lý
28
Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 36; Schlechtriem /Leser/Hornung Art 72 Rn 13 et seq.; Germany 9 July
1992 Landgericht [District Court] Düsseldorf http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920709g1.html truy cập lần cuối
09/12/2018
29
Honsell/Schnyder/Straub Art 72 Rn 36; Schlechtriem /Leser/Hornung Art 72 Rn 13 et seq.; Germany 9 July
1992 Landgericht [District Court] Düsseldorf. Nguồn: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920709g1.html . Truy
cập lần cuối 09/12/2018
30
Convention on the Limitation Period in the International Sale of Goods Commentary by Prof. Dr. jur. Dr. sc.
oec. Fritz Enderlein Prof. Dr. jur. Dr. sc. oec. Dietrich Maskow Oceana Publications, 1992.
Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein-art72.html truy cập lần cuối 16/12/2018
20
thì có thể hủy hợp đồng mà không phụ thuộc vào bên nhận thông báo đã nhận thông
báo hay chưa.
PICC lại có cách nhìn khác so với CISG. Tại Điều 1.10 PICC quy định : “Một thông
21
nhưng không phản hồi lại cho bên thông báo thì cũng không làm mất quyền hủy hợp
đồng của bên thông báo.
Ngoài ra, CISG không công nhận khái niệm “tự hủy bỏ” mà hợp đồng chỉ được hủy
bỏ nếu được bên bị thiệt hại tuyên bố hủy hợp đồng,32 nên không thể đồng nhất thông
báo trước về ý định hủy hợp đồng và thông báo tuyên bố hủy hợp đồng được quy định
tại Điều 26 CISG. Trong khuôn khổ Điều 72 (2) CISG, sau khi một bên đã gửi thông
báo về ý định hủy hợp đồng nhưng không nhận được bảo đảm đầy đủ, bên có ý định
hủy hợp đồng vẫn có nghĩa vụ tiếp tục gửi thông báo về việc hủy hợp đồng để tuyên bố
hủy hợp đồng có hiệu lực.33
1.4
Phân biệt biện pháp hủy hợp đồng trƣớc thời hạn thực hiện nghĩa vụ với
biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trƣớc thời hạn thực hiện nghĩa
vụ
Trong CISG, vi phạm dự đoán trước không chỉ là căn cứ áp dụng biện pháp hủy hợp
đồng trước thời hạn (Điều 72) mà còn có thể được áp dụng cho biện pháp tạm ngừng
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Theo đó, tại Điều 71
CISG quy định:
“1. Một bên có thể ngừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình nếu có dấu hiệu cho
thấy rằng sau khi hợp đồng được giao kết, bên kia sẽ không thực hiện một phần chủ
yếu những nghĩa vụ của họ bởi lẽ:
a. Một sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hợp đồng hay
tình trạng mất khả năng thanh toán; hay
b. Cung cách của bên kia trong việc chuẩn bị thực hiện hay trong khi thực hiện
hợp đồng.
2. Nếu người bán đã gửi hàng đi khi phát hiện những lý do nêu trong khoản trên, họ
có thể ngăn cản không để hàng hóa được giao cho người mua ngay cả nếu người này
giữ trong tay chứng từ cho phép họ nhận hàng. Mục này chỉ liên quan đến các quyền
Có thể thấy, căn cứ để áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
trước thời hạn (theo Điều 71) có phần tương tự với căn cứ áp dụng biện pháp hủy hợp
đồng trước thời hạn (theo Điều 72) đều là vi phạm dự đoán trước. Tuy nhiên, dường
như có một sự chêch lệch về mức độ chắc chắn của sự vi phạm dự đoán trước. Tại
Điều 71 (1) sử dụng cụm từ “nó trở nên rõ ràng” (it becomes apparent) so với cụm từ
“nó rõ ràng” (it is clear) của Điều 72 (1).
Theo Giáo sư Flechtner: Việc tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ theo Điều 71 đòi hỏi ít
sự chắc chắn hơn về vi phạm trong tương lai so với việc hủy hợp đồng theo Điều 72.
Điều 72 (1) chỉ cho phép hủy hợp đồng khi “rõ ràng” rằng bên kia sẽ vi phạm. Đối với
Điều 71, hành vi vi phạm dự đoán chỉ đơn thuần là “rõ ràng” để chứng minh cho việc
34
Đoạn 388 Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention 3rd edition (1999)
John O. Honnold. Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/honnold.html#388 . Truy cập lần cuối
15/12/2018
23