Hợp đồng mua bán theo công ước Vienna 1980 - Pdf 17

Hợp đồng mua bán theo công ước Vienna
1980: Hiệu lực của chào hàng (Phần 1)

09:39' AM - Thứ ba, 16/03/2004
Công ước của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980
(CISG - Công ước Vienna) quy định một đề nghịphải thoả mãn ba điều kiện mới
trở thành một chào hàng.
Một là đề nghị đó phải được gửi tới một hoặc nhiều người cụ thể. Hai là đề nghị đó phải
đủ chính xác, tức là phải nêu rõ tên hàng và ấn định rõ ràng hoặc ngầm định hay quy
định phương pháp xác định số lượng và giá cả. Ba là phải chỉ rõ ý chí của người đề
nghị muốn tự ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp có chấp nhận. Nếu một đề nghị
không thoả mãn điều kiện thứ nhất, nhưng người đề nghị nêu rõ đó là một chào hàng
thì đề nghị đó cũng được coi là một chào hàng. Trong ba điều kiện thì điều kiện thứ hai
là quan trọng nhất vì nó xác định tính chất của giao dịch là giao dịch mua bán hàng
hoá. Để thể hiện một giao dịch mua bán thì nội dung của giao dịch phải xác định rõ đối
tượng hàng hoá (tên hàng và số lượng) và phải xác định giá cả để phân biệt với giao
dịch khác (tặng, cho ). Mặc dù vậy, CISG lại quy định nếu hợp đồng được ký kết hợp
pháp nhưng trong hợp đồng không ấn định rõ ràng hoặc ngầm định hay quy định
phương pháp xác định giá cả thì giá cả trong hợp đồng được coi là giá trên thị trường
trong những điều kiện tương tự vào thời điểm ký kết hợp đồng (Điều 55). Điều này
khiến người ta hiểu có sự mâu thuẫn là nếu coi điều khoản giá là điều khoản bắt buộc
phải có trong chào hàng thì hợp đồng không xác định giá cả sẽ không được coi là "ký
kết hợp pháp" và do đó quy định này trở nên vô nghĩa. Nhưng trong thương mại quốc
tế, một hợp đồng không thể hiện rõ một trong ba nội dung trên, nhưng dựa vào những
thói quen được thiết lập giữa các bên mà có thể xác định được ý định của các bên về
các nội dung đó thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực.
Theo các nguyên tắc giải thích hợp đồng của Công ước của Liên Hiệp Quốc thì một
hợp đồng phải được giải thích theo cách hiểu, ý định thông thường của các bên, sau đó
là theo cách hiểu của người bình thường có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc theo ý
định của bên đó nếu bên kia biết hoặc không thể không biết. Thực tế, khi các bên đã
thiết lập những thói quen với nhau thì những nội dung được các bên hiểu theo thói

hiệu lực của chào hàng thì chấp nhận đó đã tới nơi người chào hàng. Chính vì vậy,
Điều 18 CISG quy định "chấp nhận chào hàng có hiệu lực kể từ khi nó tới nơi người
chào hàng" - mà nếu chỉ dừng ở đây thì rõ ràng mâu thuẫn với Điều 20 - nhưng Điều 18
còn quy định: "Chấp nhận chào hàng không phát sinh hiệu lực nếu nó không được gửi
tới người chào hàng trong thời hạn quy định trong chào hàng hoặc, nếu không có thời
hạn đó, thì trong khoảng thời gian hợp lý". Nếu như quy định chào hàng có hiệu lực kể
từ khi nó được gửi đi thì chưa hẳn có lợi cho bên được chào hàng. Nhưng ngược lại sẽ
bất lợi cho người chào hàng trong trường hợp vì lý do nào đó chào hàng tới nơi người
được chào hàng rất muộn. Có lẽ vì lý do này mà thời hạn chấp nhận chào hàng theo
CISG (Điều 20) được chia thành hai trường hợp theo phương thức trên. Thêm nữa một
thời hạn hợp lý được xác định là thời hạn hiệu lực của chào hàng được xác định trên
cơ sở căn cứ vào nhiều tình tiết, trong đó có tốc độ truyền tin của phương tiện truyền
tin. Điều đó đảm bảo được quyền lợi của cả hai bên một cách hợp lý.
Nhưng Luật Thương mại quy định về "thời hạn trách nhiệm" của bên chào hàng và bên
chấp nhận chào hàng (Điều 53). Nhưng thời hạn trách nhiệm của các bên và thời hạn
hiệu lực là không đồng nhất. Bởi vì một chấp nhận chào hàng được gửi đi sẽ ràng buộc
trách nhiệm của bên chấp nhận nhưng không thể có hiệu lực nếu không tới nơi bên
chào hàng. Hơn nữa, dựa vào quy định về thời điểm ký kết hợp đồng ("hợp đồng mua
bán hàng hoá được coi là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhận được thông
báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện đã ghi trong chào hàng trong thời hạn trách nhiệm
của người chào hàng" (Điều 55) thì có thể suy luận rằng chấp nhận chào hàng có hiệu
lực kể từ khi bên chào hàng nhận được thông báo chấp nhận chứ không phải từ khi nó
được gửi đi.
Tóm lại, theo Công ước Vienna thì: chào hàng có hiệu lực kể từ khi nó tới nơi người
được chào hàng nhưng thời hạn để chấp nhận chào hàng được bắt đầu từ khi chào
hàng được gửi đi đối với thư, điện tín và từ khi chào hàng tới nơi người được chào đối
với các phương tiện truyền thông tức thời;thời hạn hiệu lực của chào hàng được người
chào ấn định hoặc là một khoảng thời gian hợp lý; chấp nhận chào hàng có hiệu lực kể
từ khi nó tới nơi người chào hàng trong thời hạn hiệu lực của chào hàng. Theo Luật
Thương mại thì chào hàng sẽ có hiệu lực kể từ khi nó được gửi đi mà không phân biệt

được mong muốn của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại và gây nhiều tốn
kém. Từ những phân tích trên cần tham khảo, cân nhắc các quy định của Công ước
Vienna để sửa đổi các điều khoản quy định về hợp đồng trong Luật Thương mại cho
phù hợp.
Phạm Văn Thưởng
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
09/11/2007
Giải quyết hợp đồng mua bán quốc tế
Công ước Vienne năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) được soạn thảo bởi
Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới
việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Công ước này đã trở thành công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước quốc tế đa
phương về mua bán hàng hoá quốc tế. Cho đến thời điểm hiện nay, đã có 66 quốc gia là thành viên Công
ước này .
Từ khi công ước có hiệu lực (ngày 01/01/1988), đến thời điểm hiện nay tổng số các bản án, phán
quyết đã lên tới hơn 1.600.
CISG cũng góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy sự phát triển của quan hệ thương mại về hàng hoá
giữa các quốc gia. Việc cùng trở thành thành viên của công ước giúp các quốc gia xích lại gần nhau hơn
trong quan hệ mua bán, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế được nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Trong số hàng nghìn án lệ về CISG, đã có một án lệ liên quan đến Việt Nam. Đây là án lệ về tranh
chấp giữa Công ty thương mại Tây Ninh - Tanico (Việt Nam) và DN Ng Nam Bee (Singapore), được xét
xử tại Toà phúc thẩm - TAND Thành phố Hồ Chí Minh, bản án tuyên ngày 4/5/1996. Khi xét xử vụ việc
này, Toà án đã tham chiếu điều 29 và điều 53, điều 64 CISG. Đây là một án lệ về CISG đầu tiên đối với
Việt Nam. Án lệ này cho thấy, dù Việt Nam chưa phải là thành viên công ước, nhưng vẫn có những
trường hợp công ước này có thể được áp dụng ở Việt Nam.
Câu hỏi được đặt ra là: một khi VN chưa trở thành một quốc gia thành viên của công ước thì khi nào
và trong trường hợp nào, CISG có thể được áp dụng tại VN?
Vì vậy, để xem xét các trường hợp có thể áp dụng CISG ở Việt Nam, chúng ta cần nghiên cứu Điều
1 của CISG. Điều 1.1 của CISG quy định: "Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa

chấp trong mua bán hàng hoá quốc tế của các DN nước ta rất có thể sẽ được xét xử theo Công ước này.
Vì vậy, chúng tôi nhấn mạnh trước hết đến việc phổ biến Công ước này cho các DN xuất nhập khẩu Việt
Nam, tạo điều kiện cho các DN tiếp cận và nắm được tinh thần và nội dung của Công ước này. Bộ
Thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI có thể tổ chức các khoá học cho DN
nhằm mục đích này. Các DN cũng có thể tham gia các khoá học do trường Đại học Ngoại Thương tổ
chức (ví dụ các khoá học xuất nhập khẩu ngắn hạn, các lớp học chuyên đề về xuất nhập khẩu…). Ngoài
ra, các DN có thể chủ động tiếp cận với các nguồn thông tin rất phong phú, đa dạng trên Internet liên
quan đến CISG.
Khuyến nghị thứ hai là DN có thể lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng: Lựa chọn luật áp
dụng luôn là một vấn đề quan trọng và khó khăn đối với các nhà đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế của Việt Nam. Họ có sự lựa chọn giữa luật Việt Nam, luật quốc gia của đối tác, luật quốc gia của
nước thứ ba, điều ước quốc tế như CISG hay tập quán thương mại quốc tế…
Hiện tại Việt Nam chưa gia nhập CISG nhưng các DN xuất nhập khẩu Việt Nam có thể lựa chọn
CISG làm nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế vì ba lý do sau:
- Thứ nhất, tránh được những khó khăn khi phải đàm phán lựa chọn luật quốc gia làm luật áp dụng
cho hợp đồng. Trên thực tế, việc lựa chọn luật quốc gia thường gặp phải rất nhiều khó khăn.
§ Nếu như các nhà đàm phán nước ngoài thường có xu hướng lựa chọn luật quốc gia của mình
thì điều này lại không hoàn toàn đúng với các nhà đàm phán Việt Nam. Họ hiểu rằng việc dẫn chiếu đến
luật Việt Nam đôi khi không phải là giải pháp tối ưu, vì pháp luật về hợp đồng nói chung và về hợp đồng
mua bán hàng hoá quốc tế nói riêng của Việt Nam còn hàm chứa nhiều quy định chưa phù hợp với điều
kiện quốc tế, với pháp luật, tập quán thương mại quốc tế và như vậy, chưa thể bảo vệ một cách hiệu quả
lợi ích của các bên trong hợp đồng quốc tế.
§ Việc lựa chọn luật quốc gia của nước ngoài có thể đem lại những rủi ro pháp lý cho DN Việt
Nam do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về luật đó.
- Thứ hai, đây là nguồn luật phổ biến nhất điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hiện nay.
CISG đã được phê chuẩn bởi 66 quốc gia, trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của
Việt Nam như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc Các công
ty, DN của các nước này đã áp dụng và đã quen áp dụng CISG cho các hợp đồng mua bán hàng hoá ký
với các đối tác nước ngoài. Vì vậy, nếu DN Việt Nam đề xuất việc áp dụng CISG thì sẽ dễ dàng được đối
tác chấp nhận.

Khuyến nghị về việc Việt Nam tham gia Công ước
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc gia nhập CISG là hết
sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với các hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động mua bán
hàng hoá (xuất nhập khẩu) nói riêng của Việt Nam. Đây là Công ước về mua bán hàng hóa quốc tế đã
được nhiều nước tham gia, phê chuẩn, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp
luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Việt Nam đang trên con đường
hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các quan hệ hợp tác song
phương và đa phương, do đó, việc các văn bản luật quốc gia chưa phù hợp với pháp luật quốc tế sẽ gây
cho chúng ta nhiều khó khăn, bất lợi, làm phát sinh những xung đột pháp luật với các nước khác và khi
giải quyết tranh chấp cũng khó khăn. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 (và ngay cả Luật Thương mại
Việt Nam năm 2005) liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế và
còn chứa đựng những điều khoản chưa phù hợp với thực tiễn và đòi hỏi của các nhà kinh doanh quốc tế.
Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng có các giải pháp tiến tới gia nhập CISG trong thời gian sớm
nhất để thống nhất nguồn luật áp dụng cho mua bán hàng hóa quốc tế giữa các DN Việt Nam và các đối
tác nước ngoài. Khi đó các DN Việt Nam và nước ngoài sẽ cùng chung "tiếng nói", cùng chung quan điểm
và nhờ đó, các mối quan hệ hợp tác thương mại quốc tế sẽ ngày càng gắn chặt hơn, lâu bền hơn và rộng
mở hơn.
(Theo dddn.com.vn)
ThS Nguyễn Minh Hằng - Trường ĐH Ngoại Thương
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
06/11/2007
Xác định pháp luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện.
Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp
luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở
Việt Nam.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích
thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là
người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh

Ví dụ, công ty A hoàn toàn có khả năng ký kết một thoả thuận trọng tài nhưng liệu ông B, phó giám đốc
của công ty, có thể thay mặt công ty ký một thoả thuận trọng tài hay không lại là vấn đề thẩm quyền của
ông B. Ngược lại, ông A là giám đốc một công ty có thể không có năng lực dân sự để ký thỏa thuận trọng
tài để giải quyết một số tranh chấp cá nhân của mình, nhưng hoàn toàn có thể ký một thỏa thuận trọng tài
với đối tác của công ty trên danh nghĩa là người có thẩm quyền đại diện công ty.
Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng đã có các quy định về xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh năng
lực pháp luật dân sự nhưng chưa có các quy định về vấn đề thẩm quyền. Luật Doanh nghiệp năm 2005
có những quy định về pháp luật áp dụng và quốc tịch của doanh nghiệp (Điều 3, 4) nhưng cũng không
cho biết là pháp luật nước nào sẽ được chọn để điều chỉnh thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong
quan hệ quốc tế. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, rõ ràng về việc xác định pháp
luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ có yếu tố nước ngoài.
Thực tiễn pháp lý
Thực tiễn pháp lý Việt Nam có hai xu hướng xác định pháp luật áp dụng về thẩm quyền đại diện
doanh nghiệp.
Xu hướng thứ nhất là xác định thẩm quyền thông qua nghiên cứu một hệ thống pháp luật (pháp luật
một nước). Ví dụ, tại Quyết định số 51/KTPT ngày 26/10/2001, Toà phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí
Minh có nhận xét: "Hợp đồng mua bán mà Công ty Recofi (Pháp) và Công ty Sunimex (Việt Nam) có quy
định tại Điều 11 là việc thoả thuận chọn Trọng tài thuộc Phòng thương mại quốc tế Paris là không chặt
chẽ theo điều lệ mẫu quy định. Do đó, khi phát sinh tranh chấp; quan điểm của mỗi bên hoàn toàn khác
biệt nhau, không giải quyết thân thiện với nhau được theo nội dung của hợp đồng, mà phải ký thêm các
điều kiện thoả thuận về việc chọn Trọng tài. Ngày 15/8/1998, các bên tiến hành ký kết các thể thức tham
chiếu ICC vụ kiện số 9677/AC/DG. Phía Sunimex do ông Minh làm đại diện. Nhưng ở thời điểm này, ông
Minh chỉ giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Sunimex theo quyết định của UBND TP. Hồ Chí
Minh. Việc ông Minh tham gia ký đã không đủ tư cách là người đại diện hợp pháp để thoả thuận thể thức
tham chiếu ICC ngày 15/8/1988 theo quy định của pháp luật Việt Nam, đã vi phạm Khoản 1, Khoản 2,
Điều 102 Bộ luật Dân sự, Điều 37 Luật Doanh nghiệp nhà nước và trái với Điều 19 Điều lệ hoạt động của
Tổng công ty Sunimex".
Ví dụ trên cho thấy, tòa án Việt Nam đã sử dụng pháp luật Việt Nam để cho rằng, ông Minh là người
không có thẩm quyền đại diện công ty Sunimex trong giao dịch với Công ty Recofi, bởi lẽ, ông Minh chỉ là
Phó Tổng Giám đốc Sunimex.

quan đến thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Pháp (xem ví dụ 1) hay của doanh nghiệp nước ngoài
(xem ví dụ 2) đối với việc ký kết một số giao dịch cũng thường xuyên xảy ra. Vì vậy, chúng ta có thể áp
dụng pháp luật của nước sở tại - nơi mà các giao dịch được ký kết - theo nguyên tắc, nếu giao dịch được
ký tại Việt Nam thì xác định thẩm quyền đại diện doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam; nếu giao dịch
được thiết lập ở nước ngoài thì theo pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, giải pháp này có nhược điểm là
làm cho việc xác định thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nơi ký kết giao dịch,
trong khi đó nơi này hoàn toàn có thể là sự lựa chọn tình cờ (một thỏa thuận trọng tài có thể được ký ở
Việt Nam, hay ở nước mà đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở hoặc ở một nước thứ ba). Thực
tiễn pháp lý một số nước trên thế giới cho thấy, những tranh chấp về thẩm quyền đại diện doanh nghiệp
không chỉ giới hạn ở những giao dịch. Vì vậy, việc lấy tiêu chí pháp luật của quốc gia mà tại đó đã thiết
lập giao dịch như trên, không bao trùm được hết những vấn đề pháp lý cần giải quyết (xem ví dụ 3).
Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng pháp luật của tòa án (ở đây là pháp luật Việt Nam), pháp luật nơi
doanh nghiệp có trụ sở để giải quyết. Chúng ta cũng có thể xem xét đồng thời hai hay nhiều hệ thống
pháp luật nêu trên cùng một lúc để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp.
Giải pháp nên sử dụng: Vì vấn đề thẩm quyền liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, thiết
nghĩ, chúng ta nên sử dụng pháp luật của nước nơi doanh nghiệp có trụ sở vào thời điểm mà người đại
diện thiết lập giao dịch trên danh nghĩa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp được đại diện có trụ sở ở
nước ngoài, thì chúng ta xác định là người nào đó có thể đại diện doanh nghiệp hay không theo pháp
luật của nước ngoài này. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có trụ sở tại Việt Nam, thì xác định thẩm quyền
này theo pháp luật Việt Nam như Tòa án đã làm trong tranh chấp giữa Recofi của Pháp và Sunimex của
Việt Nam mà chúng tôi đã đề cập ở trên.
Thông thường, các bên có tranh chấp về thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp tham gia giao
dịch, nhưng đôi khi, thẩm quyền đại diện của cả hai doanh nghiệp tham gia giao dịch đều gây tranh cãi.
Trong trường hợp này, tòa án phải nghiên cứu pháp luật của cả hai nước. Tuy nhiên, ở đây tòa án không
nên sử dụng cả pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam để xác định thẩm quyền đại diện của doanh
nghiệp Việt Nam hay của doanh nghiệp nước ngoài, mà chỉ nghiên cứu pháp luật Việt Nam để xem xét
thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Việt Nam và áp dụng pháp luật nước ngoài để xem xét thẩm
quyền đại diện của doanh nghiệp nước ngoài. Đó cũng là giải pháp được sử dụng trong tranh chấp mà
chúng tôi đề cập ở phần trên. Cụ thể, liên quan đến thẩm quyền đại diện của ông Thành đối với Công ty
HN, tòa án đã có nhận xét sau: "Theo tài liệu do phía Công ty HN xuất trình và theo lời trình bày của đại

quá trình tố tụng, bị đơn cho rằng người tham gia vụ kiện của nguyên đơn không phải là người đại diện
của doanh nghiệp Đức. Trước phản tố này, Tòa phúc thẩm Grenoble đã viện dẫn pháp luật Đức để giải
quyết (xem Tòa phúc thẩm Grenoble ngày 7/11/1989: Tạp chí Droit des sociétés tháng 5/1990, bình luận
số 121). ở đây, vấn đề thẩm quyền được đặt ra không liên quan đến giao dịch dân sự mà đến tố tụng
trước Tòa án Pháp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status