ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ KIM OANH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ KIM OANH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành:Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Thái
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
1.5.1.Các yếu tố khách quan ........................................................................... 22
1.5.2.Các yếu tố chủ quan ............................................................................... 24
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA – QUA THỰC TIỄN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI................................................................................................. 25
2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh dịch
vụ văn hóa ....................................................................................................... 25
2.1.1. Pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh karaoke ...... 25
2.1.2. Pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh quảng cáo .. 30
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hóa
trên địa bàn Thành phố Hà Nội ....................................................................... 34
ii
2.2.1. Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh karaoke trên
địa bàn Thành phố Hà Nội .............................................................................. 34
2.2.2. Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh quảng cáo .... 44
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH
DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA .................................................................... 66
3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý nhà nước đối với kinh doanh
dịch vụ văn hóa ............................................................................................... 66
3.2. Nâng cao năng lực, trình độ cán bộ quản lý............................................. 70
3.3. Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người kinh doanh dịch vụ văn hóa.. 72
3.4. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát ............................................. 73
3.5 Một số giải pháp khác ............................................................................... 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 85
PHỤ LỤC
iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số liệu thống kê các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn
thành phố Hà Nội (2016)................................................................................. 35
Bảng 2.2. Bảng thống kê kết quả kiểm tra các cơ sở kinh doanh karaoke trên
địa bàn thành phố Hà Nội, năm 2016.............................................................. 37
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, văn hóa là
năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người, văn hóa là trụ cột
phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại.
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển kéo theo nó
là nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ văn hóa của người dân từng bước được nâng
cao, các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa cũng theo đó phát triển mạnh mẽ.
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa
phát triển nhanh cả về số lượng và các loại hình dịch vụ. Các loại hình dịch
vụ văn hóa này đáp ứng được nhu cầu giải trí, hưởng thụ văn hóa của người
dân trên địa bàn thành phố Hà Nội góp phần tăng cường thông tin, nâng cao
đời sống văn hóa tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
thành phố.
Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về kinh doanh các dịch vụ văn
hóa còn nhiều bất cập, bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém dẫn đến nhiều sai
phạm và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người và xã hội. Điển
hình như vụ việc gần đây về vụ cháy quán Karaoke trên đường Trần Thái
Tông ở Quận Cầu Giấy làm nhiều người thiệt mạng, ảnh hưởng rất lớn đến
đời sống của người dân và những bức xúc trong dư luận xã hội không chỉ trên
lý nhà nước về văn hóa, hoạt động văn hóa và nội dung của hoạt động văn
hóa, mục tiêu và các phương hướng xây dựng đời sống văn hóa cở sở ở nước
ta hiện nay.
- Trường Cán bộ Quản lý Thông tin, Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức
quản lý ngành văn hóa thông tin, (1999). Đây là tập hợp các bài giảng về
công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin như quản lý nhà nước về văn
2
hóa thông tin, quản lý nhà nước về công tác thông tin cổ động, quản lý nhà
nước về bảo tồn, bảo tàng và giáo dục truyền thống… Tập bài giảng là công
trình nghiên cứu của các nhà quản lý văn hóa, các nhà khoa học chuyên ngành
biên soạn.
- Vũ Thị Phương Hậu (2008), Quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa,
những vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội. Tác giả đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra
trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa bên cạnh đó đưa ra các giải pháp
để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về văn hóa.
- Nguyễn Văn Tình (2009), Chính sách văn hóa trên thế giới và việc
hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin,
Hà Nội. Công trình nghiên cứu đề cập đến những khái niệm về văn hóa, quản
lý và quản lý nhà nước về văn hóa, những chính sách về văn hóa của các quốc
gia trên thế giới, tình hình xây dựng và hoàn thiện chính sách văn ở Việt Nam.
- Bùi Quốc Chiều (2011), Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố
Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà
Nội, Hà Nội và Trần Thị An (2012), Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa
bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa,
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội. Hai công trình nghiên cứu này đã
nêu lên được những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về văn hóa, thực trạng
quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn và đưa ra các giải pháp kiến nghị
số vấn đề như lý luận về quảng cáo và pháp luật về quảng cáo ở Việt Nam,
thực trạng pháp luật về quảng cáo ở Việt Nam hiện nay và phương hướng
hoàn thiện khung pháp luật về quảng cáo ở Việt Nam.
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa nói chung và kinh
doanh dịch vụ karaoke và quảng cáo trên địa bàn Hà Nội nói riêng là đề tài
hoàn toàn mới ở cả phương diện lý luận và thực tiễn.
4
Tính đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình khoa học nào
nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý về quản lý nhà nước về kinh doanh
dịch vụ quảng cáo và karaoke trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đây là công
trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước về kinh doanh dịch
vụ văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh quảng cáo và karaoke trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận quản
lý nhà nước về kinh doanh các dịch vụ văn hóa; đánh giá thực trạng quản lý
nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa, đưa ra những kiến nghị khoa học
bảo đảm quản lý nhà nước về kinh doanh các dịch vụ văn hóa.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là đưa ra các khái niệm, đặc điểm,
nội dung của quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa. Đánh giá chỉ
ra những ưu điểm, hạn chế của pháp luật về kinh doanh dịch vụ văn hóa trên
địa bàn thành phố Hà Nội, đồng thời đánh giá được thực trạng quản lý nhà
nước về kinh doanh các dịch vụ karaoke và quảng cáo trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật
về kinh doanh dịch vụ văn hóa nói chung, dịch vụ karaoke và quảng cáo nói
riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội, bảo đảm quản lý nhà nước về các dịch
vụ văn hóa có hiệu quả cao.
văn hóa trong lĩnh vực karaoke và quảng cáo; đưa ra được một số giải pháp để
hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước, các giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa trong lĩnh vực karaoke và
quảng cáo nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng.
Đề tài hứa hẹn sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo giúp cho các cơ quan
nhà nước trong quản lý nhà nước về kinh doanh các dịch vụ văn hóa trên địa
6
bàn thành phố Hà Nội đặc biệt ở hoạt động kinh doanh quảng cáo và karaoke.
Góp phần hiệu quả hơn đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa định hướng những
giá trị thẩm mỹ góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và phát triển kinh
tế - xã hội theo đúng những yêu cầu của Đảng và Nhà nước mong muốn.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về kinh doanh dịch
vụ văn hóa
Chương 2: Thực trạng pháp luật và quản lý nhà nước về kinh doanh
dịch vụ văn hóa – qua thực tiễn thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ
văn hóa
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA
1.1.Khái quát chung về văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa
- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu
đời sống tinh thần (nói tổng quát);
- Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);
- Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử
cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm
giống nhau, ví dụ: Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn…
Năm 2001, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn
hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn,
vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức
chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Cũng chính vì thế văn
hóa biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ. Một đất nước
giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần.[42]
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển
trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham
gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn
hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội
hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác
xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã
hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động
của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người
tạo ra.
9
Từ các quan điểm trên có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị
(vật chất và tinh thần) do con người sáng tạo ra trong thế giới tự nhiên. Văn
hóa bao gồm nhiều thể loại, song có thể hiểu nội hàm chính của văn hóa
gồm:văn hóa vật vật thể và văn hóa phi vật thể.
1.1.2. Kinh doanh dịch vụ văn hóa
hệ hài hòa giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện chức năng chung nhất,
xuất phát từ toàn bộ cơ cấu sản xuất (khác với sự vận động của từng bộ phận
độc lập trong nền sản xuất ấy). Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển có
chính mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”1.
Như vậy, quản lý được hiểu như là hoạt động tổ chức, phối hợp hoạt
động giữa các thành viên trong tổ chức, cộng đồng, xã hội, tùy theo quy mô,
tính chất mà có những loại hình quản lý khác nhau: quản lý của một tổ chức,
cộng đồng, hay của toàn xã hội. Với cách hiểu này, quản lý xã hội xuất hiện
từ khi có xã hội loài người.
Quản lý được xem xét từ nhiều phương diện: xã hội, hành động thực tế,
kinh tế, luật học, văn hóa v.v. Mỗi cách tiếp cận có vai trò, ý nghĩa khác nhau
nhằm khám phá bản chất, nội dung của quản lý, đồng thời cũng phản ánh mặt
này hay mặt khác của quản lý - một hiện tượng đa diện, phức tạp.
Từ khía cạnh xã hội thì quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động,
tri thức là điều kiện, tiền đề của quản lý, lao động ở đây là lao động quản lý,
lao động quyền lực, mang tính tổ chức và là lao động trí óc. Để quản lý trước
hết cần phải có tri thức về quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật và nhiều
tri thức khác, đồng thời đòi hỏi sự lao động sáng tạo – hoạt động đa dạng của
các cơ quan, người có thẩm quyền, các nhân viên trong cơ quan, tổ chức. Nếu
không có những hoạt động này sẽ không tạo nên sự tác động quản lý.
1
Ph. Ănghen toàn tập, NXB Sự Thật, tập 23, tr. 342.
11
Từ khía cạnh hành động thực tiễn thì quản lý là quá trình tổ chức, tác
động làm thay đổi quá trình tự nhiên, xã hội bằng các công cụ, phương tiện
như hai mặt của một vấn đề mâu thuẫn những thống nhất, chúng không thể
tồn tại thiếu nhau và quyền uy lấy phục tùng làm tiền đề. Không thể có quản
lý nếu không có quyền uy và sự phục tùng. “Quyền uy được vật chất hóa được
gọi là quyền lực”. Như vậy, quyền uy – phục tùng là đặc trưng của mối quan
hệ giữa chủ thể và khách thể của quản lý trong xã hội. Từ đó, quyền lực phục tùng là phương pháp quản lý trong xã hội, là đặc trưng của quan hệ quản
lý trong xã hội.
Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới
đối tượng, khách thể của quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định,
làm thay đổi hiện thực của đời sống nhà nước, xã hội, cá nhân con người.
Quản lý xã hội được chia thành: quản lý nhà nước - quản lý mang tính
nhà nước hay quản lý của nhà nước; quản lý của các tổ chức xã hội (quản lý
của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức quần chúng;
các hiệp hội v.v).
Trong đó quản lý nhà nước được chia thành: quản lý nhà nước theo nghĩa
rộng, quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, nghĩa vốn có của quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, nghĩa được khẳng định trong Hiến
pháp Việt Nam năm 2013 và các Hiến pháp trước đó “ Nhà nước quản lý xã
hội theo Hiến pháp và pháp luật”. Với nghĩa này mọi cơ quan nhà nước: Quốc
hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các thiết chế khác trong bộ máy nhà
nước” đều thực hiện quản lý nhà nước - tác động đến các quá trình xã hội,
theo chức năng riêng của mình và bằng những cách thức khác nhau.
Theo nghĩa hẹp quản lý nhà nước là hoạt động của các cơ quan trong
bộ máy hành chính nhà nước, (gồm Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân
các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân), được thành lập để
13
văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất và đa dạng trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam. Vì vậy, phải tạo điều kiện đảm bảo cho nhân dân tham gia
vào sự nghiệp đó. Văn hóa dân tộc gắn liền với nhân dân, mọi người dân đều
có quyền hưởng thụ văn hóa và có nghĩa vụ đóng góp bảo vệ nền văn hóa dân
tộc. Trong quản lý văn hóa, ngoài vai trò của Nhà nước, cần thực hiện các
hình thức tự quản của nhân dân, đảm bảo tính phong phú, đa dạng của văn
hóa và đáp ứng được nhu cầu văn hóa của nhân dân. Văn hóa là một mặt trận,
xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi
phải có ý chí cách mạng và kiên trì thận trọng. Trong công cuộc đó không thể
nóng vội, "xây" phải đi với "chống", lấy "xây" làm chính và còn một cách
thức tiếp cận rất thực tế mà lâu nay chúng ta ít đề cập đến là công tác phòng
từ xa và phòng trước mắt để “tiên lượng” những biểu hiện tiềm ẩn rủi ro,
vướng mắc phát sinh trong hoạt động quản lý văn hóa.
Kinh doanh dịch vụ văn hóa được hiểu là hoạt động thương mại mục
đích cuối cùng là lợi nhuận. Khác với các hoạt động kinh doanh khác, kinh
doanh dịch vụ văn hóa là hoạt động thương mại mà đối tượng của nó là các
dịch vụ văn hóa, các sản phẩm văn hóa. Kinh doanh dịch vụ văn hóa là một
dạng kinh doanh đặc biệt và có tính “đặc thù” là xu hướng tất yếu cùng với sự
phát triển của xã hội. Ngoài tính chất về kinh tế đơn thuần thì Kinh doanh
dịch vụ văn hóa có mặt lợi ích cũng như rủi ro lại chỉ được đánh giá mang
tính chất “định tính” và không định lượng được, ngoài ra tính chất đặc thù
hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa của thời kỳ này ở nước ta, còn được
coi là “hoạt động văn hóa mang tính chất kinh tế”, không đơn thuần như là
hoạt động kinh tế mang tính chất văn hóa ở một số lĩnh vực ngành khác.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: quản lý nhà nước về kinh doanh
dịch vụ văn hóa là sự tác động có tổ chức, bằng quyền lực, có chủ đích của
nhà nước trên cơ sở pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
15
ngày 09/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo. Bên cạnh những biện
pháp bằng các văn bản chỉ thị nêu trên là văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành như Luật Quảng cáo, các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện Luật...
Nội dung quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ quảng cáo, karaoke
có thể khái quát thành các nội dung chính, từ góc nhìn của khoa học luật, bao
gồm các hoạt động: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các quyết định
hành chính ; tổ chức thực hiện các văn bản đó; kiểm tra, thanh tra việc thực
hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các quyết định hành chính.
1.4. Đặc trƣng của quản lý nhà nƣớc về kinh doanh dịch vụ văn hóa
1.4.1. Đặc trưng chung của quản lý nhà nước
Thứ nhất, Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước trong quản lý nhà nước trước hết thể hiện ở việc
các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện
nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng
là văn bản quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể
quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ
trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp
dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm
pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy
định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các
mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng
mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật
trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới
nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.
17