Như chúng ta biết, Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới tư duy lý luận, đề ra
nhiệm vụ khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội trong đó có triết học. Qua hơn 5 năm thực hiện đổi mới chúng ta đã
đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, trong đó có đổi mới tư duy lý luận. Tuy nhiên chiều sâu và tầm cỡ của
công cuộc đổi mới cũng như tính khó khăn, phức tạp của những vấn đề do thực tiễn thế giới và trong nước đặt ra đòi hỏi
chúng ta phải có sự nỗ lực vượt bậc trong đổi mới tư duy lý luận, nhất là đổi mới việc nghiên cứu và giảng dạy triết học
mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
1. Từ Đại hội VI đến nay, chúng ta đã đạt được một số thành tựu nhất định trong đổi mới tư duy lý luận. Cụ
thể là:
Trong nhận thức về CNXH có nhiều điểm sáng tỏ hơn, thấy được nhiều cái sai trong nhận thức cũ về CNXH.
Bước đầu hình thành các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta.
Tư duy kinh tế có sự đổi mới quan trọng.
Triết học đã đóng góp nhất định vào kết quả chung trên đây của đổi mới tư duy lý luận. Có thể nói, triết học đã tạo cơ sở
lý luận và phương pháp luận cho quá trình đổi mới tư duy lý luận, tư duy triết học, là hạt nhân lý luận cho sự hình thành tư
duy mới về CNXH, nhất là tư duy kinh tế và tư duy chính trị.
Trong thời gian qua, các nhà triết học đã đi sâu phân tích bản chất và nguyên nhân của bệnh chủ quan duy ý chí ở nước ta
và ở nhiều nước XHCN trước đây, làm sáng tỏ cơ sở triết học của bài học mà Đại hội VI đã rút ra là "Đảng phải luôn luôn
xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan". Vấn đề biện chứng của thời kỳ quá độ cũng đã
được quan tâm nghiên cứu, nhất là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu của xã hội ta, qua đó góp phần làm sáng tỏ lý
luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của nước ta, đóng góp vào xây dựng cương lĩnh mới của Đảng.
Trước sự phát triển mới của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới và những thay đổi hiện nay của thời đại,
giới triết học đã chú ý nghiên cứu bản chất và hiệu quả xã hội có tính toàn cầu của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ, biện chứng của thời đại, từ đó rút ra những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cho quá trình đổi mới xã hội ta. Đồng thời
khi phê phán những sai lầm của bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm trong cán bộ ta thì những nguyên tắc phương pháp
luận của tư duy mới - tư duy biện chứng duy vật, vai trò của lý luận nhất là lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và đổi mới
công tác lý luận cũng được chú ý trong nghiên cứu và giảng dạy triết học. Để phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp đổi mới xã
hội ta như giải quyết vấn đề sở hữu, quan hệ giữa các thành phần kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị… giới triết học vừa qua cũng đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề như phép biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế và chính trị, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, vấn đề dân chủ hóa.
Vấn đề con người cũng đã thu hút sự nghiên cứu của các nhà triết học và gắn liền với nó là những động lực hoạt động của
con người như nhu cầu, lợi ích… Những nghiên cứu trên đây góp phần vào đổi mới tư duy lý luận về CNXH, hình thành mô
hình CNXH của nước ta.
học là cơ sở của mọi loại tư duy (tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy văn hóa, tư duy pháp luật...). Triết học theo một
nghĩa nào đó, là khoa học về tư duy, là tư duy về tư duy. Tư duy triết học là chiết xuất, là tinh túy của tư duy lý luận. Vì
vậy triết học phải tự đổi mới mình và làm công cụ để đổi mới tư duy nói chung. Với ý nghĩa đó thì trước hết phải đổi mới tư
duy triết học chứ không phải là tư duy kinh tế. Nhờ có tư duy triết học mácxit mới hiểu và phân tích được phép biện chứng
của những bước ngoặt, mới nắm bắt và xử lý đúng đắn những mối quan hệ biện chứng vốn có trong cuộc sống như quan
hệ giữa kinh tế và chính trị, kinh tế và xã hội, kinh tế và tư tưởng, tập trung dân chủ, đổi mới và kế thừa, trung thành và
sáng tạo… Và có như vậy mới khắc phục được bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh cực đoan phiến diện và chủ nghĩa chiết
trung.
Thông qua triết học mà tư duy con người được rèn luyện và nâng cao. Theo Engen, năng lực tư duy lý luận chỉ là bẩm sinh
dưới dạng khả năng, muốn phát triển tư duy lý luận phải có điều kiện và sự rèn luyện. Một trong những cách tốt nhất để
rèn luyện năng lực tư duy lý luận, đó chính là nghiên cứu triết học và lịch sử triết học. Hiện nay với sự sụp đổ của chế độ
XHCN ở Liên xô và Đông Âu, chủ nghĩa Mác-Lênin đang đứng trước sự thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Không những kế
thừa của chủ nghĩa Mác mà có nhiều người mới ngày hôm qua đây còn được coi là người mácxít cũng ra sức xuyên tạc,
công kích, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin không những lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, về kinh tế chính trị, mà cả về
triết học, nhất là quan điểm duy vật lịch sử cũng trở thành đối tượng phê phán, phủ nhận. Trong tình hình đó việc nắm
vững phép biện chứng mácxít lại càng quan trọng vì nó là vũ khí để đấu tranh tư tưởng, đồng thời là công cụ để triết học
tự bảo vệ mình và phát triển mình lên một giai đoạn mới trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI.
3. Trong những năm qua, như trên đã nói, triết học đã cổ sự đổi mới nhất định và đã đóng góp vào quá
trình đổi mới đất nước. Tuy nhiên điều đó mới là bước đầu và còn rất hạn chế, cái đã có và cái cần phải có
còn khoảng cách khá xa. Lý luận triết học vẫn còn xa rời với cuộc sống, chưa nhạy cảm trước những biến đổi trong
nước và trên thế giới. Nhiều vấn đề triết học do cuộc sống đặt ra chưa có sự giải đáp thỏa đáng, vẫn còn có những biểu
hiện giáo điều và bảo thủ trong lý luận, hiểu biết vê lịch sử triết học và triết học ngoài mácxít hiện đại còn ít ỏi, ít có những
chuyên gia giỏi những người uyên bác trong lĩnh vực triết học... Nguyên nhân tình trạng trên có nhiều. Có phần do điều
kiện lịch sử khách quan, có phần do lãnh đạo, có phần do bàn thân các nhà triết học. Sắp tới để phát huy mạnh mẽ và có
hiệu qủa vai trò của triết học vào sự nghiệp đổi mới, cần phải giải quyết các vấn đề sau đây:
Triết học và thực tiễn: Phải tạo ra một bước ngoặt triết học hướng về thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn và muốn vậy,
phải tạo cơ chế liên hệ giữa các nhà triết học với thực tiễn và phải có chế độ, chính sách, kinh phí thỏa đáng để đi thực tế.
Người làm triết học cần được thông tin tình hình trong nước và thế giới kịp thời, không vì khó khăn về tài chính mà cắt bỏ
sách báo nước ngoài. Phải xóa bỏ tình trạng giới triết học nước ta bị tách biệt với thế giới bằng cách tạo điều kiện nghiên
cứu các tài liệu triết học ở các nước tư bản và cho đi sang các nước đó để tìm hiểu tình hình đất nước họ và trao đổi, tiếp