PHềNG GIO DC V O TO HUYN ễNG TRIU
TRNG TIU HC HONG QU
-------o0o--------
SNG KIN KINH NGHIM
NHNG KINH NGHIM DY TP C THNH CễNG
H V TấN: Trần Thị Tuyết Nhung
Giáo viên trờng tiểu học hoàng quế
Năm học 2008-2009
1
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Thị Tuyết Nhung
A. Phần mở đầu:
I. Lý do chọn đề tài:
Việc dạy và học Tiếng Việt ở tiểu học đang đặt ra rất nhiều vấn đề mới mẻ cần giải
quyết. Có rất nhiều cán bộ nghiên cứu và nhà giáo tâm huyết đã bỏ công sức đi sâu
nghiên cứu, tìm tòi tổng kết kinh nghiệm.... về việc dạy tiếng mẹ đẻ. Vấn đề nóng hổi
đang đợc đặt ra trớc mắt chúng ta những nhà giáo và những ngời quan tâm đến
dạy học Tiếng Việt là học sinh biết nói, viết, sử dụng Tiếng Việt một cách thành thạo.
Dạy Tiếng Việt là cung cấp cho học sinh công cụ để giao tiếp và t duy. Hiểu rõ về
Tiếng Việt sẽ giúp các em có kĩ năng giao tiếp và phát triển t duy trong suốt quá trình
học tập.
Đối với học sinh tiểu học, môn Tiếng Việt có tầm quan trọng đặc biệt vì nó là môn
học giúp các em phát triển nghe nói - đọc viết, giúp các em biểu đạt t tởng, tình
cảm của mình bằng tiếng mẹ đẻ ngày càng chính xác, phong phú và sinh động hơn.
Với học sinh lớp 2, môn học này nhằm từng bớc giúp các em làm chủ công cụ
ngôn ngữ để học tập trong nhà trờng và giao tiếp một cách đúng đắn, mạch lạc, tự
nhiờn trong các môi trờng xã hội thuộc phạm vi hoạt động của lứa tuổi.
Việc cung cấp những hiểu biết về xã hội, tự nhiên, con ngời, văn hóa.... nhằm bồi d-
ỡng cái đẹp, cái thiện, lẽ phải, sự công bằng trong xã hội, tình yêu Tiếng Việt, ý thức
nói đúng Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam hiện đại.
Ngoài ra, môn Tiếng Việt góp phần cùng các môn học khác rèn luyện các thao tác cơ
bản cho học sinh.
trớc khi lên lớp.
+ Thực hiện đúng tiến trình dạy học.
+ Nắm đợc các phơng pháp, hình thức tổ chức dạy học và vận dụng vào bài dạy
một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tợng học sinh trong lớp.
+ Giáo viên luôn động viên, khuyến khích để các em tự tin, hào hứng trong học
tập.
- Nhợc điểm:
+ Trong quá trình giảng dạy giáo viên cha có sự sáng tạo cho giờ học thêm sinh
động, lôi cuốn học sinh.
+ Một số giáo viên cha đầu t nhiều vào chuyên môn của mình nh giọng đọc
mẫu cha thể hiện tốt. Đặt câu hỏi cha rõ nghĩa và hơi nhiều làm ảnh hởng đến
việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh nên hiệu quả giờ học cha cao.
2. Học sinh:
- Ưu điểm:
+. Các em rất tự tin và tiếp thu bài nhanh. Một số học sinh có kĩ năng đọc tốt.
Biết lắng nghe và nhận xét bạn đọc.
+ Học sinh rất thích thể hiện giọng đọc của mình sau khi đợc giáo viên hớng
dẫn.
- Nhợc điểm: Do mới từ lớp 1 lên lớp 2 nên một số học sinh, nhất là học sinh
yếu phát âm còn cha chính xác, đọc bài cha lu loát, rõ ràng. Ngắt nghỉ hơi cha
đúng chỗ.
II. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp để giờ dạy
tập đọc đạt hiệu quả cao.
- Học sinh có khả năng tiếp thu bài một cách tự nhiên, hứng thú, say mê học tập.
III. Thời gian - địa điểm:
- Lớp 2C, 2D Trờng TH Hoàng Quế - ĐT QN. Năm học: 2008 2009
3
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Thị Tuyết Nhung
pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp và phối hợp một cách linh hoạt, khéo léo
trong mỗi giờ dạy để dạt hiệu quả cao.
Bên cạnh việc rèn luyện các kĩ năng viết qua các phân môn tập viết, chính tả, tập
làm văn thì việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh qua các phân môn tập đọc là rất quan
trọng. Giáo viên phải chuẩn bị thật tốt ngay từ phần đọc mẫu cho học sinh nghe đến
phần hớng dẫn luyện đọc cho học sinh.
Tùy từng đối tợng học sinh trong lớp học mà giáo viên rèn đọc cho các em, giúp
các em có kĩ năng đọc tốt, qua đó bộc lộ năng lực đọc của mình.
ở lớp 2, học sinh còn nhỏ nên việc khai thác nghệ thuật không phải là mục tiêu
chính. Chúng ta chỉ nên áp dụng để giúp các em hiểu sâu bài, đọc hay hơn. Phần
4
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Thị Tuyết Nhung
luyện đọc tập trung vào yêu cầu rõ ràng, rành mạch là chủ yếu. Do đó giáo viên cần
tổ chức giờ học nhẹ nhàng, phù hợp.
Việc rèn kĩ năng đọc gắn liền với kĩ năng hiểu nó giúp cho học sinh rèn luyện đọc
tốt. Các em cần hiểu những gì mình đã đợc đọc để thể hiện tốt văn bản đó.
Nh vậy: Khi dạy học Tiếng Việt cũng nh phân môn tập đọc, giáo viên cần sử
dng linh hoạt các phuơng pháp, hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp để rèn 4 kĩ
năng cho học sinh, đặc biệt là kĩ năng đọc. Nó giúp trẻ chiếm lĩnh đợc ngôn ngữ dùng
trong giao tiếp và học tập, nó là công cụ để học tập các môn khác, tạo ra hứng thú và
động cơ học tập. Biết đọc sẽ giúp cho các em hiểu biết nhiều hơn, hớng cho các em
lòng yêu cái thiện, cái đẹp.
B. Phần nội dung:
Chơng I: Tổng quan
1. Những mục tiêu, yêu cầu dạy môn tiếng việt ở bậc tiểu
học:
Mục tiêu môn Tiếng Việt thể hiện cụ thể ở 3 yêu cầu sau:
a. Kĩ năng: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng
Việt. (Nghe, nói, đọc, vit) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng của lứa tuổi.
bài đã đọc.
* Nghe:
- Nghe và nắm đợc cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài.
- Nghe hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô.
- Nghe - hiểu và có khả năng hiểu các khả năng nhận xét của bạn.
* Nói:
- Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc.
- Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc.
b, Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển t duy mở rộng sự hiểu biết
của học sinh về cuộc sống cụ thể:
- Làm giàu và tích cực vốn văn học hóa vốn từ, vốn diễn đạt.
- Bồi dỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình thành một
số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân.
- Phát triển một số thao tác t duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán...)
c, Bồi dỡng t tởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái
đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thú đọc sách
và yêu thích Tiếng Việt.
- Bồi dỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà,
cha mẹ, thầy cô; yêu trờng lớp; đoàn kết, giúp đỡ bạn bè; vị tha, nhân hậu.
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu.
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dn trong sách giáo khoa, hình thành
lòng ham đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp của Tiếng
Việt và tình yêu Tiếng Việt.
2. Nội dung:
6
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Thị Tuyết Nhung
a, Nội dung chơng trình:
Để đáp ứng mục tiêu dạy học Tiếng Việt nói chung và phân môn tập đọc. Nội
dung chơng trình lớp 2 (hai tập) gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ
sinh.
Các phơng pháp giáo viên có thể dùng:
- Phơng pháp rèn luyện theo mẫu.
- Phơng pháp thực hành.
- Phơng pháp sử dụng tình huống có vấn đề.
- Phơng pháp thảo luận nhóm.
- Phơng pháp sử dụng các trò chơi học tập.
7
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Thị Tuyết Nhung
- Phơng pháp ngôn ngữ.
- Phơng pháp đàm thoại.
- Phơng pháp trực quan.
Các phơng pháp trên cần đợc giáo viên phối hợp một cách khéo léo và hợp lý để
nâng cao hiệu quả giờ học.
4. Các hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt:
- Học theo lớp.
- Học theo nhóm.
- Học cặp đôi.
- Học cá nhân.
Sự phối hợp các hình thức tổ chức khác nhau tạo nên sự mềm dẻo, linh hoạt và sinh
động cho quá trình dạy học. Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh luyện tập
một cách tích cực, tạo môi trờng thuận lợi cho việc giao tiếp cho việc rèn các kĩ năng
đọc nghe nói.
Vậy: Để dạy Tiếng Việt trong đó có phân môn Tập đọc đạt hiệu quả giáo viên phải:
- Nắm đợc mục tiêu, yêu cầu môn học.
- Nắm đợc nội dung chơng trình, hệ thống kiến thức và các kĩ năng cần hớng dẫn
tới để đạt đợc.
- Vận dụng linh hoạt, khéo léo các phơng pháp về hình thức dạy học để phát huy
tích cực, hào hứng học tập của học sinh.
1 đến 2 phút) nhng nếu giới thiệu bài hay, hấp dẫn chúng ta sẽ lôi cuốn đợc học sinh
theo guồng quay của bài dạy tạo cho các em hứng thú, niềm say mê
muốn khám phá nội dung của bài học. Có nhiều cách giới thiệu bài, chúng ta cần lựa
chọn để áp dụng với từng bài phù hợp, có sự thay đổi, tránh lặp lại theo khuôn
mẫu để gây sức hấp dẫn với học trò.
+ Giới thiệu chủ điểm rồi vào bài dạy.
+ Giới thiệu bài mới bằng tranh vẽ (giới thiệu trực tiếp).
+ Liên hệ, móc nối bài trớc để giới thiệu bài dạy.
Với cách giới thiệu bài thứ nhất, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh
minh họa chủ điểm rồi giới thiệu bài dạy đầu tiên của chủ điểm ấy.
Ví dụ: Với bài: Có công mài sắt có ngày nên kim.
Chủ điểm mở đầu của chơng trình Tiếng Việt là gì? Truyện đọc mở đầu của chủ
điểm này có tên gọi Có công mài sắt có ngày nên kim. Các em hãy quan sát tranh
và cho cô biết: Tranh vẽ những ai? Họ đang làm gì? Muốn biết bà cụ làm việc gì, bà
nói với cậu bé những gì... Bài hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu truyện để nhận đợc
lời khuyên hay của bà cụ.
Với bài: Chiếc bút mực.
Cho học sinh quan sát tranh minh họa chủ điểm xong, gíao viên giới thiệu:
Chuyển sang tuần 5 và tuần 6, các em sẽ đợc học các bài gắn với chủ điểm có tên gọi
Trờng học. Bài tập đọc Chiết bút mực hôm nay sẽ mở đầu chủ điểm.
+ Cho học sinh quan sát tranh minh họa của bài đọc, giáo viên hỏi: Các em xem
bức tranh vẽ cảnh gì? ... Để hiểu chuyện gì xảy ra trong lớp học và câu chuyện muốn
nói với các em điều gì, chúng ta cùng tìm hiểu bài Chiếc bút mực.
9
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Thị Tuyết Nhung
Với cách giới thiệu bài nh thế, giáo viên giúp các em nắm đợc nội dung chính của
tuần học, từ đó các em có tình cảm, thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, cảm
thụ đựơc cái hay, cái đẹp của Tiếng Việt, tình yêu Tiếng Việt.
Cách thứ hai: Giới thiệu bài trực tiếp.
cần đọc với giọng điệu nh thế nào. Cụ thể: Khi giáo viên không đọc mẫu đợc thì sẽ
không nhận ra lỗi phát âm, giọng điệu sai lạc và không biết cách chữa cho học sinh
nh thế nào để đọc đúng, đọc hay với mỗi bài, chúng ta cần đọc giọng phù hợp. Việc
đọc mẫu hay sẽ có sức lôi cuốn, dẫn dắt học sinh vào bài một cách hứng thú, tự
nhiên, tạo không khí ban đầu thuận lợi cho việc luyện đọc và tìm hiểu nội dung bài ở
các giai đoạn tiếp sau.
10
Sáng kiến kinh nghiệm Trần Thị Tuyết Nhung
d, Giảng từ khó:
Với những từ khó trong bài, giáo viên cần hớng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ
(ngữ) đó. Việc nắm đợc nghĩa của từ giúp học sinh hiểu đợc bài đọc. Có rất nhiều
cách giải nghĩa từ khác nhau nhng chúng ta cần giải nghĩa từ giới hạn trong phạm vi
nghĩa cụ thể của bài Tập đọc, không nên mở rộng ra những nghĩa khác nhau, nghĩa xa
lạ với các em bởi học sinh lớp 2 còn quá bé, t duy lại cha phát triển.
Các cách giải nghĩa từ:
Cách 1: Định nghĩa từ (Giáo viên hoặc học sinh đọc nghĩa của từ đã đợc chú giải ở
bài đọc). Đây là cách giải nghĩa từ đơn giản nhất.
Cách 2: Giải nghĩa từ theo phơng pháp: Từ điển tra ngợc. Giáo viên có thể nêu
nghĩa của từ trớc để học sinh tìm từ đó.
Cách 3: Tìm từ cùng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ ngữ cần giải thích.
Cách 4: Đặt câu với từ ngữ cần giải nghĩa.
Đây là cách giải nghĩa gián tiếp, đặt từ ngữ cần giải nghĩa trong văn cảnh cụ thể.
Cách 5: Giải nghĩa từ bằng mô hình, vật thật.
Tuy nhiên, trong một bài dạy có nhiều từ cần giải nghĩa, chúng ta không nên áp
dụng một cách giải nghĩa, chúng ta không nên áp dụng một cách giải nghĩa từ nào mà
giáo viên cho là tối u. Để tránh sự nhàm chán, chúng ta nên áp dụng nhiều cách giảng
từ để làm phong phú vốn từ cho học sinh đồng thời gây hứng thú cho các em trong
việc tiếp thu để hiểu nghĩa của từ.
Ngoài những từ có chú giải trong sách giáo khao, trong bài đọc còn xuất hiện các