CHIEN TRANH TG I - Pdf 58

Đệ nhất thế chiến
Thế chiến thứ nhất: Từ trên xuống theo chiều kim đồng hồ: 1. Chiến hào tại mặt trận phía
tây; 2. Xe tăng Mark-1 của Anh đang bò qua chiến hào; 3. Tàu chiến Anh trúng mìn và chìm tại
chiến dịch Dardanelles chống Ottoman; 4. Chiến binh đeo mặt nạ phòng độc trong chiến hào; 5.
Máy bay Sopwith carmel của Anh
Đệ nhất thế chiến, còn được gọi Đại chiến thế giới lần thứ nhất, Thế chiến thứ nhất
hay Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, diễn ra từ tháng 8 năm 1914 đến tháng 11 năm 1918, là
một trong những cuộc chiến tranh quyết liệt, quy mô to lớn nhất trong lịch sử nhân loại; về quy
mô và sự khốc liệt nó chỉ đứng sau Thế chiến thứ hai. Đây là cuộc chiến tranh có chiến trường
chính bao trùm khắp châu Âu và ảnh hưởng ra toàn thế giới, lôi kéo tất cả các cường quốc châu
Âu và Bắc Mỹ vào vòng chiến với số người chết trên 20 triệu người với sức tàn phá và ảnh
hưởng về vật chất tinh thần cho nhân loại rất sâu sắc và lâu dài.
Mục lục
• 1 Mục đích
• 2 Quy mô, tính chất
• 3 Nguyên nhân, bản chất chiến tranh
o 3.1 Nguyên nhân trực tiếp
 3.1.1 Chủ nghĩa đế quốc
 3.1.2 Liên minh quân sự, chạy đua vũ trang, quân phiệt
 3.1.3 Chủ nghĩa dân tộc
1
 3.1.4 Chiến tranh là tất yếu?
o 3.2 Các quan tâm quyền lợi của các bên tham chiến
• 4 Diễn biến
o 4.1 1914: Đức phải chiến đấu trên hai mặt trận
 4.1.1 Mặt trận phía Tây
 4.1.2 Tại mặt trận phía Đông
 4.1.3 Diễn biến ở các chiến trường khác trong năm 1914
o 4.2 1915 – 1916: Đức chủ động tấn công
 4.2.1 Mặt trận phía Đông 1915 – 1916
 4.2.2 Mặt trận phía Tây 1915 - 1916

Entente ba bên (trong tiếng Pháp entente có nghĩa là sự đồng thuận, hiệp ước) và sau này còn
thêm Hoa Kỳ và một số nước khác tham gia; bên kia là phe Liên minh Trung tâm (Central
2
Powers, hay còn gọi là Liên minh ba nước) gồm Đế quốc Đức, Đế chế Áo – Hung và Ý. Tuy
nhiên sau đó Ý chiến đấu bên phía Entente ba bên nhưng Liên minh Trung tâm có thêm Đế quốc
Ottoman, Bulgaria. Trong khi vai trò của các đồng minh chính trong Entente ba bên khá đồng
đều trong việc gánh vác sức nặng chiến tranh thì phía Liên minh Trung tâm vai trò các đồng
minh là mờ nhạt hơn, chỉ Đức có vai trò trụ cột vì thực tế mâu thuẫn chủ yếu gây nên chiến
tranh là gắn liền với tham vọng chính trị kinh tế và đế quốc của Đức lúc đó.
Quy mô, tính chất
Các nước tham chiến tại châu Âu. Hình dáng tiểu bang Illinois nằm ở bên trái để có thể so
sáng diện tích.
  Khối liên minh Trung Tâm
  Khối Entente
  Các nước trung lập
Về khía cạnh chính trị – quân sự đây là lần đầu tiên thế giới biết đến một kiểu chiến tranh
tổng lực, chiến tranh toàn diện. Chiến tranh diễn ra không những ác liệt trên bộ, trên không, trên
biển mà các bên thực hiện bao vây bóp nghẹt kinh tế của nhau, đánh vào ý chí và bản lĩnh chịu
đựng của dân tộc, thử thách tiềm lực kinh tế và sức mạnh tinh thần của đối phương. Các cường
quốc như Đế quốc Nga và đặc biệt là Đế quốc Đức đã thất bại và sụp đổ khi quân đội của họ
còn đang trên đất đối phương, khi quân địch còn chưa xâm phạm lãnh thổ của mình, mà họ đã
thua trận vì xã hội kiệt sức không thể kham nổi chiến tranh – một kiểu chiến tranh tiêu hao với
cường độ cực cao.
Thế chiến I diễn ra theo một kiểu chiến lược chiến tranh hiện đại. Trước đây châu Âu đã
từng có các cuộc chiến theo liên minh nhiều nước như Chiến tranh Bảy năm, Chiến tranh
Napoléon... Nhưng những cuộc chiến đó có kết quả chiến tranh phụ thuộc vào một hoặc vài trận
đánh lớn có tính quyết định diễn ra trong 1–2 ngày tại một điểm quyết chiến hoặc một vài chiến
3
dịch trong vài tuần hoặc một vài tháng, các hoạt động chiến sự xen kẽ với hoà bình. Kết cục
chiến tranh không triệt để: thua trận thì ký hoà ước nhượng bộ, chờ vài năm hồi phục tiềm lực

tổng kết theo cách nhìn của mình:
Chủ nghĩa đế quốc
Vladimir Ilyich Lenin và những người Bolshevik, cùng một phần lớn những người xã hội
chủ nghĩa của châu Âu phân tích có cơ sở và cho rằng chiến tranh là mâu thuẫn của sự phát triển
của các chủ nghĩa đế quốc cầm đầu ở châu Âu và chiến tranh có tính chất chiến tranh đế quốc: là
4
sự phân chia lại thế giới của các đế quốc, là cuộc chiến tranh phi nghĩa đối với tất cả các phe
tham chiến. Nguyên nhân theo phân tích của Lenin: sự lớn mạnh của Đế quốc Đức sau Chiến
tranh Pháp-Phổ: những tham vọng thuộc địa và chia lại thị trường thế giới của nước này gặp
phải sức phản kháng của các "đế quốc già" là Anh, Pháp và Nga. Đế chế Áo – Hung và Đế chế
Ottoman đã suy yếu không còn đủ "tư cách" và vai trò để có ảnh hưởng trong khu vực Trung
Âu, Balkans và Kavkaz. Các cường quốc khác can thiệp vào khu vực đó để tranh giành ảnh
hưởng... Sự mâu thuẫn mang tính chất đế quốc chủ nghĩa đòi hỏi một cuộc "chém giết lớn" để
phân ngôi thứ và lập lại trật tự thế giới có lợi cho kẻ thắng trên cơ sở những mất phần của kẻ
thua.
Liên minh quân sự, chạy đua vũ trang, quân phiệt
Một nhóm nguyên nhân khác cũng được các nhà nghiên cứu chỉ ra là hệ thống các liên minh
quân sự, sự chạy đua vũ trang và chủ nghĩa quân phiệt của các đế chế:
• Liên minh quân sự theo khối: Trong các mâu thuẫn
và tương đồng quyền lợi, các quốc gia tìm kiếm lôi kéo
thành lập các hiệp ước liên minh quân sự để tăng cường thế
lực, bành trướng ảnh hưởng. Việc này làm cho tình hình thế
giới càng trở nên cực kỳ căng thẳng vì bất cứ một xung đột
quốc gia nào đều có thể trở thành xung đột quốc tế, điều này
là rất điển hình cho Thế chiến I. Và thực tế cho thấy từ một
sự kiện ám sát có tính dân tộc trong một Đế chế Áo – Hung,
mâu thuẫn đã được cộng hưởng, khuếch đại và trở thành
chiến tranh thế giới.
Lính Áo trên chiến trường
• Chạy đua vũ trang: điển hình là trước thế chiến Anh

mâu thuẫn trước kia đối với Đế chế Ottoman, khối này đã không chống lại Áo-Hung mà gây
Chiến tranh Balkan lần thứ nhất năm 1912 và Chiến tranh Balkan lần thứ hai năm 1913 với Thổ
Nhĩ Kỳ.Đến năm 1914, Thổ Nhĩ Kỳ gần như không còn ảnh hưởng ở bán đảo này. Áo-Hung lại
trở thành kẻ thù lớn của Liên minh Balkan. Serbia, nước theo chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ nhất
tại Balkan lúc này đã vận động chủ nghĩa dân tộc Bosna là nước có chung đường biên giới với
Serbia để đánh đuổi Áo-Hung ra khỏi Balkan. Một phần tử được trợ giúp bởi tổ chức dân tộc
Bàn tay đen của Serbia đã ám sát hoàng tử Áo-Hung vào 28 tháng 6 năm 1914. Sau đó, Áo-
6
Hung đe dọa Serbia và một tháng sau, Áo-Hung tuyên bố chiến tranh với Serbia vào ngày 28
tháng 7 năm 1914.
Chiến tranh là tất yếu?
Trong các học giả thế giới khi đề cập nguyên nhân chiến tranh có xuất hiện câu hỏi: Liệu có
thể tránh được cuộc chiến tranh này không? Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan
như vậy thì ở tầm quốc tế và lịch sử nhân loại có thể nói: với trình độ giác ngộ chính trị của
nhân loại vào đầu thế kỷ 20, khi tư duy chính trị vẫn là tư duy nước lớn, tư duy đế quốc chủ
nghĩa, khi cách tiếp cận các vấn đề quốc tế luôn theo nguyên tắc "tối đa quyền lợi cho mình, tối
thiểu cho đối phương" thì Thế chiến thứ nhất là "phải xảy ra và không thể tránh được". Cuộc
chiến này sẽ cùng với Thế chiến thứ hai sẽ tập cho nhân loại phải suy nghĩ theo kiểu tư duy mới
là "cùng tồn tại hoà bình, các bên cùng có lợi". Để nhận thức được như vậy nhân loại phải trả
giá gần trăm triệu mạng trong hai cuộc đại chiến và các cuộc chiến khác trong thế kỷ 20. Đó là
bài học chính trị quý giá nhất của đại chiến mà nhiều khi nơi này hay nơi khác bài học đó vẫn
còn bị "quên".
Các quan tâm quyền lợi của các bên tham chiến
• Anh: Chặn đứng tham vọng tranh giành thuộc địa,
chia lại thị trường của Đức. Ngăn cản ảnh hưởng của nước
này, cố gắng giới hạn Đức trong phạm vi châu Âu không để
nước này thành cường quốc đại dương đe doạ quyền lợi
thương mại thuộc địa của mình. Hạ cấp Ottoman và Áo –-
Hung xuống thành cường quốc hạng hai để chiếm lĩnh quyền
lợi tại khu vực Trung Cận Đông rất nhiều dầu mỏ.

với tinh thần yêu nước dâng cao để trì hoãn cải cách dân chủ, xã hội trong nước.
Diễn biến
Bài chi tiết: Diễn biến Thế chiến thứ nhất
Quân Đức tiến công Bỉ năm 1914
Thế chiến thứ nhất diễn ra chủ yếu trên 3 chiến trường chính: Mặt trận phía Tây, mặt trận
phía Đông và mặt trận phía Nam. Trong đó mặt trận phía Tây giữa liên quân Pháp – Anh chống
lại quân Đức có vai trò chính yếu quyết định số phận chiến tranh vì ở đây tập trung binh lực lớn
nhất có chất lượng cao nhất của cả hai phía. Mặt trận phía Đông là chiến trường giữa quân Nga
chống Đức và Áo – Hung, mặt trận này có quy mô và tầm quan trọng không bằng mặt trận phía
Tây và quân Nga thường thất bại trước quân Đức nhưng luôn làm quân đội Đức, Áo phải chiến
đấu trên hai mặt trận không thể huy động tổng lực lực lượng khả dĩ cho một chiến thắng quyết
định trong chiến tranh. Mặt trận phía Nam có tầm quan trọng thấp chủ yếu với một lực lượng
quân đội nhỏ bé và chỉ có ý nghĩa khu vực. Mặt trận phía Nam lại phân nhỏ thành các chiến
trường: chiến trường Ý-Áo – đối chọi của quân Ý – Áo tại vùng biên giới hai nước; chiến
trường Balkans: liên quân Đức, Áo – Hung, Bulgaria chống Serbia và về sau có trợ giúp của
Anh, Pháp cho Serbia; chiến trường Trung Cận Đông: Liên quân Anh, Pháp chủ yếu là Anh
chống Ottoman; chiến trường Kavkaz: Nga chống Ottoman.
1914: Đức phải chiến đấu trên hai mặt trận
Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Đức bị phá vỡ:
8
Ngày 1 tháng 8 năm 1914 Đức tuyên chiến với Nga, 3 tháng 8 với Pháp; ngày 4 tháng 8 Anh
tuyên chiến với Đức và đổ bộ vào lục địa. Chiến tranh lớn đã nổ ra.
Mặt trận phía Tây
Kế hoạch Schlieffen và chiến sự tại mặt trận phía tây 1914
Ngày 2 tháng 8 năm 1914 quân Đức chiếm Luxembourg và hai ngày sau tràn vào Bỉ, vi
phạm tình trạng trung lập của nước này để lấy đường tiến vào miền bắc nước Pháp. Kế hoạch
Schlieffen của bộ tổng chỉ huy Đức tính toán rằng bằng cuộc tấn công bất ngờ qua Bỉ đánh
thẳng vào Bắc Pháp, là khu vực ít bố phòng, sẽ nhanh chóng loại nước này ra khỏi chiến tranh
trước khi quân đội Nga kịp tổng động viên và tập hợp; sau khi đánh tan quân Pháp sẽ quay sang
mặt trận phía Đông giải quyết quân Nga và kết thúc chiến tranh. Kế hoạch này là quá xa thực tế:

sắt Thanh Đảo-Tế Nam ( Trung Quốc ) và 1 loạt hòn đảo là thuộc địa của Đức tại Thái Bình
Dương. Ngày 11 tháng 11 1914, Thanh Đảo thuộc địa của Đức ở Trung Quốc đầu hàng Nhật
Bản sau 43 ngày bị bao vây. Sau những hoạt động quân sự này, Nhật Bản không có 1 hoạt động
nào khác tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất.
Ngày 21 tháng 9 1914, Úc chiếm đóng New Guinea là thuộc địa của Đức ở Thái Bình
Dương. Ngày 5 tháng 11 1914, quân Đức chiến thắng quân Anh ở Đông Phi thuộc Đức ( nay là
Tanzania ).
1915 – 1916: Đức chủ động tấn công
10
Chiến tranh chiến hào trên các chiến trường:
Sau thất bại của kế hoạch năm 1914 nhằm loại nước Pháp ra khỏi vòng chiến, Đức đã rơi
vào thế bị động: tiềm năng kinh tế quân sự không bằng liên minh Anh – Pháp – Nga mà lại thực
tế phải một mình đối đầu trên hai mặt trận. Tình trạng này càng kéo dài thì càng bất lợi cho Đức.
Để thoát thế kẹt trên hai mặt trận, năm 1915 Đức tấn công quy mô lớn ở phía Đông để loại Nga
ra khỏi chiến tranh và năm 1916 tổng tấn công để loại Pháp nhưng đều không thành. Trong hai
năm này đánh nhau rất to thương vong của hai bên là cực lớn nhất là năm 1916 tại mặt trận phía
Tây.
Mặt trận phía Đông 1915 – 1916
Năm 1915 Đức quyết định tập trung lực lượng loại nước Nga ra khỏi vòng chiến, xoá bỏ
mặt trận phía Đông. Quân Đức trên mặt trận phía Tây chủ động chuyển sang phòng ngự trước
liên quân Anh, Pháp và từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1915 dồn binh lực sang mặt trận phía Đông
để đánh đòn tiêu diệt đối với quân đội Nga. Cuộc tấn công đã thắng lợi to lớn: trong chiến dịch
Gorlice phía nam Ba Lan quân Nga thua to phải thực hiện cuộc rút lui lớn: bỏ Galicia, bỏ Ba
Lan và sau đó phải bỏ cả một phần vùng Baltic. Tuy thắng lợi to lớn, chiếm được một vùng rộng
lớn đất đai của Đế quốc Nga nhưng Đức không thể buộc Nga ra khỏi chiến tranh. Nga hoàng
vẫn quyết tâm theo đuổi chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Và đến cuối năm 1915 thì thực lực
của Đức cũng đã cạn, không thể phát triển thêm nữa. Mặt trận phía Đông đến cuối năm 1915 lại
đi vào ổn định của chiến tranh chiến hào.
Sĩ quan Đức đang chuẩn bị nạp đạn pháo 250 mm Minenwerfer
Từ tháng 6 đến cuối tháng 8 năm 1916 quân đội Nga (phương diện quân Tây Nam, tư lệnh

phản công chiếm Gorizia sau lợi thế nhỏ bé này mặt trận Ý –
Áo đi vào ổn định cho đến tận cuối năm 1917.
• Chiến trường Balkans: Tại Balkans tháng 10 năm
1915 liên quân Đức – Áo – Bulgaria đánh tan quân Serbia tại
Novo Brdo và quân Serbia phải rút lui sâu vào Albania và
Hy Lạp. Để cứu nguy cho Serbia và gây áp lực lên Hy Lạp
tham gia chống Liên minh Trung tâm, cuối năm 1915 liên
quân Anh, Pháp tiến hành chiến dịch đổ bộ lên Salonica của
Hy lạp nhưng nước này không tham gia chống Đức, Áo,
Bulgaria. Chiến sự tại mặt trận Balkans tại Salonica ổn định,
yên tĩnh lạ thường và các bên dường như không muốn đánh
12

Trích đoạn Những bài học chính trị của Thế chiến thứ nhất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status