THANH TOÁN
I. CÁC PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG
MUA BÁN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU
Các phương tiện thanh toán thường sử dụng trong mua bán hàng hoá xuất
nhập khẩu hiện nay là:
(1) Hối phiếu ( Bill of lading)
(2) Thẻ tín dụng ( Credit card)
(3) Séc ( Cheque)
(4) Lệnh phiếu( Promissory Note)
1. Hối phiếu
Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do một người ký phát
cho ngừơi khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiều, hoặc đến một
ngày cụ thể nhất định, hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai
phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của
người này trả cho người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.
Nguồn luật điều chỉnh việc ký phát và sử dụng hối phiếu
N .Luật quốc tế
- Luật thống nhất về hối phiếu (ULB- Uniform law for bill of
Exchange) ban hành năm 1930 (thường gọi: ULB 1930). Luật này
được áp dụng ở các nước Châu Âu lớn.
- Văn kiện về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế : do Uỷ ban luật quốc tế
của Liên Hợp quốc ban hành. Số hiệu văn kiện: A/CN9/211. tất cả các
nước thuộc liên
- Hợp quốc đều có thể áp dụng văn kiện này.
H Luât quốc gia mang tính quốc tế
- Đạo luật về hối phiếu của Anh năm 1882 ( Bill of Exchange Acts) viết
tắt là BEA.
- Bộ luật thương mại Mỹ ( Uniform commercial code – UCC). Luật này
đựơc áp dụng ở Mỹ và các nước theo luật Mỹ.
1
- Ở Việt Nam: Pháp lệnh thương phiếu 1999.
- Ngôn ngữ của hối phiếu: Luật quốc tế không quy định rõ ngôn ngữ
của hối phiếu bắt buộc là ngôn ngữ nào, chỉ quy định một thứ tiếng
nhất định và thống nhất. Một hối phiếu sẽ không có giá trị pháp lý nếu
như nó được lập bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, hay trên hối phiếu
viết bằng bút chì, bằng thứ mực dễ phai ( ví dụ: mực đỏ). Nhưng theo
Pháp lệnh thương phiếu Việt Nam, ngôn ngữ trên hối phiếu là Tiếng
Việt. Trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ hối phiếu là
tiếng Anh và tiếng Việt.
- Hối phiếu không được sửa chữa rồi đóng dấu “ correct” như một vài
chứng từ khác ( chẳng hạn vận đơn). nếu hối phiếu đã phát hành sai
thì phải đựơc phát hành lại.
- Hối phiếu có thể lập thành một hay nhiều bản, mỗi bản đều đánh số
thứ tự, các bản đều có giá trị như nhau( nghĩa là : hối phiếu chỉ có bản
chính, không có bản phụ). Vì vậy, không được gửi hơn một bản
hốiphiếu trong cùng một bộ chứng từ. Khi thanh toán, người ta thường
gửi hối phiếu cho người trả tiền làm hai lần kế tiếp nhau đề phòng sự
thất lạc, bản nào đến trước thì sẽ được thanh toán, bản nào đến sau sẽ
trở thành vô giá trị. Vì vậy trên hối phiếu thường ghi câu: “ Sau khi
nhìn thấy bản thứ nhất của hối phiếu này ( bản thứ hai cùng ngày
tháng và nội dung không trả tiền)...:” ở bản số một của hối phiếu. Bản
số hai của hối phiếu lại ghi “ sau khi nhìn thấy bản thứ hai của hối
phiếu này( bản thứ nhất cùng ngày tháng và nội dung không trả
tiền)...:”.
t Về nội dung
Sau đây là một mẫu hối phiếu hướng dẫn chi tiết các nội dung ghi trên
hối phiếu
3
NO1-02-112(1) BILL OF EXCHANGE(2)
FOR USD 18.880.000(3) (4) HANOI SEP.14.2002(5)
At 90 days after (6)... sight of this First bill of exchange ( second of the same tenor
-
(6)Thời hạn trả tiền của hối phiếu:
- Trả tiền ngay ghi “at....sight”. giữa “at” và “sight” không ghi gì hoặc
thường được gạch chéo ( “at....sight” hoặc “at...\...sight”).
- Bán chịu ghi “at ...days after sight”. Điền số ngày vào giữa “at” và
“sight”.
(7) Tên người hưởng lợi đầu tiên của hối phiếu:
- Nếu sau “pay to” là “the order of”: Hối phiếu là loại hối phiếu theo
lệnh.
- Nếu sau “pay to” là tên của người hưởng lợi ( không có “the order
of”): Hối phiếu là hối phiếu đích danh.
- Nếu sau “pay to” không ghi gì: Hối phiếu là hối phiếu vô danh ( trên
thực tế không có loại hối phiếu này).
(8)Số tiền của hối phiếu:
Mẫu hối phiếu thường ghi: “ the sum of...” và ghi tiền vào chỗ trống sau “
the sum of...” Số tiền của hối phiếu còn được ghi ở mục (3).
Theo luật ULB 1930: số tiền của hối phiếu phải ghi là một số tiền nhất định
được ghi đơn giản và rõ ràng bằng số và / hoặc bằng chữ. Không được ghi
mức lãi suất vào bên cạnh số tiền mức lãi suất cụ thể đối với trường hợp hối
phiếu là hối phiếu trả tiền sau.
Theo pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam: Số tiền ở mục (8) phải ghi đồng
thời bằng chữ và bằng số.
5
Lưu ý: Trường hợp nếu số tiền ghi bằng chữ khác với số tiền ghi bằng số
thì:
- Theo Luật Mỹ:
+ Điều khoản đánh máy sẽ bị loại bỏ điều khoản in sẵn.
+ Điều khoản viết tay sẽ loại bỏ điều khoản đánh máy và in sẵn.
+ Điều khoản bằng chữ sẽ loại bỏ điều khoản bằng số.
- Theo ULB 1930:
hàng đại lý thanh toán.
- Bước 4: Ngân hàng đại lý thanh toán kiểm tra các thông tin rồi ghi
cho cơ quan chấp nhận thẻ.
- Bước 5: Ngân hàng đại lý thanh toán báo nợ về Ngân hàng phát hành.
- Bước 6: Quyết toán thẻ giữa chủ thẻ và Ngân hàng phát hành thẻ theo
định kỳ.
3. Séc (cheque)
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản ra lệnh cho
Ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc,
hoặc trả theo lệnh của người đó hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất
định, bằng tiền mặt hay chuyển khoản. séc có đặc điểm là có giá trị thanh
toán như tiền tê nhưng không phải là tiện tệ. Séc có thời hạn thanh toán, nếu
séc xuất trình chậm quá quy định sẽ bị từ chối thanh toán.
4. Lệnh phiếu ( Promissory Note)
Lệnh phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập nên
phiếu phát ra hứa sẽ trả tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh
của người này trả cho người khác quy định trong kỳ phiếu đó.
Lệnh phiếu có đặc điểm cơ bản:
- Kỳ hạn của kỳ phiếu được quy định rõ.
7
- Một kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát để cam kết thanh
toán cho một hay nhiều người hưởng lợi.
II . CÁC ĐIỀU KIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ QUY ĐỊNH TRONG
HỢP ĐỒNG MUA BÁN NGOẠI THƯƠNG.
Trong hợp đồng mua bán ngoại thương, điều kiện thanh toán thường gồm 4
điều kiện sau:
(1) Điều kiện về tiền tệ
(2) Điều kiện về địa điểm thanh toán
(3) Điều kiện về thời gian
(4) Điều kiện về phương thức thanh toán