VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NHƯ QUỲNH
XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NHƯ QUỲNH
XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN
Hà Nội, năm 2019
ngân hàng thương mại .................................................................................. 10
1.2.1. Căn cứ pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại ................................................................. 10
1.2.2. Quan hệ pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng
thương mại ................................................................................................ 13
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM
TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT ............. 17
2.1. Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam ............................................................................... 17
2.1.1. Thực trạng quy định về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của
ngân hàng thương mại............................................................................... 17
2.1.2. Thực trạng quy định về phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
của ngân hàng thương mại ........................................................................ 19
2.1.3. Thực trạng quy định về trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay của ngân hàng thương mại ................................................................. 23
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại ngân
hàng thương mại cổ phần Bản Việt ............................................................. 26
2.2.1. Khái quát về tình hình xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại ....................................................................................... 27
2.2.2. Những kết quả đạt được trong thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt ..................................... 29
2.2.3. Những bất cập và khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xử lý tài sản
bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt ............... 32
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ
TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM ..................................................................................................... 49
3.1. Những định hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm
tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm
Nghị quyết 42
Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017
của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
TAND
Tòa án nhân dân
TCTD
Tổ chức tín dụng
TSBĐ
Tài sản bảo đảm
VAMC
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản
Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc
thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng. Nghị quyết này đã một lần nữa công
nhận “quyền thu giữ tài sản bảo đảm” để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, phương thức thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu chỉ thành công
trong một số trường hợp hạn hữu, chẳng hạn như trường hợp khách hàng hợp
tác, tài sản bảo đảm không có tranh chấp, tài sản bảo đảm là đất trống… Thực
tế những trường hợp này rất ít xảy ra, những vấn đề phổ biến trong quá trình
xử lý tài sản bảo đảm là xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng không hợp tác,
trong tình huống này, Tổ chức tín dụng buộc phải khởi kiện khách hàng đến
Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được quyền xử lý tài sản bảo đảm thông qua
cơ quan Thi hành án. Điều này sẽ dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong
quá trình xử lý tài sản bảo đảm của các Tổ chức tín dụng.
Từ thực tiễn nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Xử lý tài sản bảo
đảm tiền vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay
từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Bản Việt” để làm luận văn thạc sĩ luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về tình hình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tìm thấy một số công trình
1
nghiên cứu khoa học chuyên sâu về xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của các ngân
hàng thương mại. Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu sau đây:
- Luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm 2018 của Nguyễn Lê Vũ, Trường
Đại học Luật – Đại học Huế với đề tài: “Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”;
- Luận văn thạc sĩ năm 2018 của Lương Đình Thí, Học viện khoa học xã
hội – Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam với đề tài: “Thế chấp bằng
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý tài sản
bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần nói chung và Ngân
hàng TMCP Bản Việt nói riêng.
- Nhận diện những quy định có tính mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập và
những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về xử lý tài sản
bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, lý thuyết liên quan
đến giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay; các quy định pháp
luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay; thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
tại các ngân hàng thương mại cổ phần nói chung và Ngân hàng TMCP Bản Việt
nói riêng.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận về xử
lý tài sản bảo đảm tiền vay; thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Ngân
hàng TMCP Bản Việt trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và thực hiện dựa trên phương pháp phân tích,
3
so sánh đối chiếu, thống kê tình huống, số liệu thực tiễn từ hoạt động xử lý tài
sản bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần nhằm đưa ra nhận
định và góc nhìn bao quát về hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và từ đó,
đề xuất hướng giải quyết tối ưu khi các ngân hàng thương mại thực hiện việc
xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN
VAY VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, đặc điểm của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của
ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương
mại
“Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay” không phải là một khái niệm được quy
định cụ thể trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Để đưa ra định nghĩa thuyết phục về việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay,
có lẽ trước hết cần bắt đầu từ việc làm rõ các khái niệm tiền đề là “tài sản bảo
đảm tiền vay” và “giao dịch bảo đảm tiền vay”.
Về khái niệm “tài sản bảo đảm”, mặc dù không có một định nghĩa chính
thức về TSBĐ nhưng tại Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015, nhà làm luật Việt Nam
đã đưa ra một số dấu hiệu để xác định thế nào TSBĐ, theo đó:
(i) TSBĐ phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm
giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu;
(ii) TSBĐ có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được;
(iii) TSBĐ có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương
lai;
(iv) Giá trị của TSBĐ có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ
được bảo đảm.
Bên cạnh việc xác định các dấu hiệu của TSBĐ, nhà làm luật còn đưa ra
một số quy định về nghĩa vụ được bảo đảm nhằm làm cơ sở cho việc xác định
mối quan hệ giữa giao dịch bảo đảm với nghĩa vụ được bảo đảm. Cụ thể là,
ngữ “xử lý tài sản bảo đảm”?
Như đã đề cập ở trên, hiện tại không có một định nghĩa chính thức nào
7
trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định về “xử lý tài sản
bảo đảm”. Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu vấn đề này trong các tài liệu đã
được công bố, tác giả luận văn cho rằng có thể đưa ra khái niệm về xử lý tài
sản bảo đảm tiền vay như sau:
Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là việc các bên tham gia giao dịch bảo
đảm áp dụng những cách thức, biện pháp theo thỏa thuận hoặc theo quy định
của pháp luật để xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng
trong trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
1.1.2. Đặc điểm của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng
thương mại
Định nghĩa trên đây cho thấy việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay có
những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
Trên phương diện lý thuyết, do việc bảo đảm tiền vay là nhằm bảo vệ
quyền lợi cho chủ nợ (bên nhận bảo đảm) nên chủ thể tham gia xử lý TSBĐ
tiền vay cũng chủ yếu là chủ nợ - với tư cách là bên nhận bảo đảm. Tuy nhiên,
do việc xử lý TSBĐ tiền vay còn liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của
chủ sở hữu TSBĐ (bên bảo đảm) nên về lý thuyết, chủ thể này cũng tham gia
vào quan hệ xử lý TSBĐ, với mục đích đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Ngoài ra, trong trường hợp có thỏa thuận, các bên có thể thống nhất lựa
chọn bên thứ ba để tiến hành các hoạt động xử lý TSBĐ (ví dụ: Trung tâm bán
đấu giá tài sản…).
Thứ hai, về thời điểm xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
(iii) Nguyên tắc ưu tiên xử lý TSBĐ theo thỏa thuận của các bên, trường
hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ, không thể thực hiện được
thì xử lý theo quy định chung của pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi các bên
phải ưu tiên áp dụng các phương thức xử lý TSBĐ đã được thỏa thuận trong
9
giao dịch bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ
ràng, không thể áp dụng được thì mới xử lý theo các phương thức mà pháp luật
đã quy định nhằm đảm bảo tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên.
Trong pháp luật thực định Việt Nam hiện nay, nhà làm luật đã quy định
một số nguyên tắc xử lý TSBĐ tại Điều 58 Nghị định số 163. Tuy nhiên, các
nguyên tắc này cần được bàn luận thêm ở chương 2 để làm rõ hơn về tính hợp
lý của nó trong quá trình thực hiện trên thực tế.
Thứ tư, về phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
Việc xử lý TSBĐ tiền vay được thực hiện thông qua các phương thức cơ
bản gồm: bán TSBĐ tiền vay cho bên thứ ba để thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng;
chuyển quyền sở hữu TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để khấu trừ nợ… Suy cho
cùng, các phương thức xử lý TSBĐ tiền vay thực chất là biến các TSBĐ thành
tiền để thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm hoặc dùng chính TSBĐ để khấu trừ
nợ với bên chủ nợ có bảo đảm.
Thứ năm, về trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
Về bản chất, trình tự, thủ tục xử lý TSBĐ tiền vay chỉ là các bước cần
thực hiện để xử lý TSBĐ theo quy định của pháp luật hoặc theo các bên thỏa
thuận chứ không phải là thủ tục hành chính vì nó không liên quan đến các cơ
quan hành chính nhà nước.
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay của ngân hàng thương mại
1.2.1. Căn cứ pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động
về:
(i) các trường hợp xử lý TSBĐ;
(ii) điều kiện xử lý TSBĐ;
(iii) quyền nghĩa vụ của các bên trong việc xử lý TSBĐ;
(iv) các phương thức xử lý TSBĐ; và
(v) thứ tự ưu tiên thanh toán từ tiền bán TSBĐ.
11
Thứ hai, về căn cứ pháp lý là quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo
đảm tiền vay
Pháp luật quy định một số vấn đề cơ bản về xử lý TSBĐ tiền vay để làm
căn cứ cho việc xử lý TSBĐ trong trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo
đảm không có thỏa thuận về vấn đề này trong hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Thông thường, các quy định cơ bản về xử lý TSBĐ tiền vay thường được pháp
luật quy định bao gồm:
(i) Các quy định về nguyên tắc xử lý TSBĐ tiền vay.
Chẳng hạn, ở Việt Nam hiện nay pháp luật quy định các bên phải tuân
thủ một số nguyên tắc khi xử lý TSBĐ tiền vay, cụ thể là: Nguyên tắc thoả
thuận; nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao
dịch bảo đảm tiền vay; nguyên tắc xử lý TSBĐ công khai, khách quan; nguyên
tắc xử lỷ TSBĐ nhanh chóng.
(ii) Các quy định về những trường hợp xử lý TSBĐ tiền vay.
Ở Việt Nam, Điều 299 BLDS 2015 quy định các bên được xử lý TSBĐ
tiền vay trong những trường hợp sau: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo
đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;
bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi
phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; trường hợp khác
do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.
Về lý thuyết, quan hệ pháp luật về xử lý TSBĐ tiền vay là quan hệ phát
sinh giữa bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm và/hoặc bên thứ ba trong quá
trình xử lý TSBĐ tiền vay. Quan hệ pháp luật này có thể được mô tả bởi các
nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật
về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại.
Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật về xử lý
TSBĐ tiền vay của NHTM chính là sự kiện pháp lý đã được ghi nhận trong hợp
13
đồng bảo đảm tiền vay hoặc được ghi nhận trong pháp luật thực định. Về thực
chất, những sự kiện pháp lý này chính là các trường hợp được xử lý TSBĐ tiền
vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định, chẳng
hạn như: Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; bên có nghĩa vụ phải
thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa
thuận hoặc theo quy định của luật; trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc
luật có quy định.
Thứ hai, về chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm
tiền vay của ngân hàng thương mại.
Trên nguyên tắc, quan hệ pháp luật về xử lý TSBĐ tiền vay có thể phát
sinh giữa các chủ thể sau đây: Bên bảo đảm; bên nhận bảo đảm; bên thứ ba
được xác định có quyền tham gia xử lý TSBĐ.
Bên bảo đảm có quyền tham gia quan hệ xử lý TSBĐ tiền vay là bởi vì,
chính họ là chủ sở hữu của TSBĐ, do đó họ đương nhiên có quyền tham gia
vào quan hệ xử lý TSBĐ để thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
của mình liên quan đến TSBĐ, ví dụ như: có nghĩa vụ chuyển giao TSBĐ cho
bên có quyền xử lý TSBĐ để xử lý, tham gia vào việc định giá TSBĐ cũng như
nhóm quy phạm pháp luật này ở Việt Nam hiện nay để từ đó chỉ ra những hạn
chế, bất cập của pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. Trên cơ
sở đó, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý tài
sản bảo đảm tiền vay trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Đề án cơ cấu lại hệ
thống các tổ chức tín dụng gắn liền với xử lý nợ xấu của Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020.
Kết luận chương 1
Tác giả muốn trình bày chi tiết những vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm là
một trong những cách thức để các ngân hàng thương mại vận dụng một cách
linh hoạt, hiệu quả và an toàn nhằm đảm bảo nguồn tín dụng đã cấp cho khách
15
hàng không bị thất thoát, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình
hoạt động kinh doanh cũng như tiêu dùng của khách hàng. Việc nắm bắt tường
tận những nguyên lý cơ bản trong việc nhận bảo đảm bằng tài sản và xử lý tài
sản bảo đảm một cách rõ ràng và chặt chẽ để có thể áp dụng vào hệ thống quy
định nội bộ của ngân hàng thương mại, áp dụng các quy định của pháp luật đối
với khách hàng và những người có liên quan để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa
vụ dân sự của họ đối với ngân hàng, đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng của ngân hàng, không gây bất lợi đến chủ sở hữu tài sản bảo đảm và phù
hợp quy định pháp luật.
Đồng thời, việc xem xét những vấn đề lý luận về xử lý tài sản bảo đảm
tiền vay và pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương
mại tại chương này này cũng là tiền đề để đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu, tổng
hợp những vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn
thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại trong
chương tiếp theo, từ đó tìm ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý tài sản đảm bảo tiền
chóng, tiết kiệm và giảm thiểu chi phí cho các bên liên quan.
Đây là nguyên tắc rất cần thiết trong việc xử lý TSBĐ tiền vay, nếu được
17
tuân thủ sẽ hạn chế được thiệt hại trong trường hợp TSBĐ bị hư hại, giảm giá
trị hoặc thậm chí làm tăng chi phí trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.
Thứ tư, nguyên tắc xác định rõ và thực hiện đúng thẩm quyền xử lý tài
sản bảo đảm.
Theo Nghị định số 163 và Nghị định số 11, nhà làm luật đã quy định
người xử lý TSBĐ là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy
quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác.
Căn cứ nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm, người xử lý
TSBĐ có quyền tiến hành xử lý TSBĐ mà không cần phải có văn bản ủy quyền
xử lý tài sản của bên bảo đảm.
Thứ năm, nguyên tắc xử lý TSBĐ phải trên cơ sở những nội dung đã
thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã được ký kết giữa
NHTM với khách hàng vay và/hoặc (các) bên bảo đảm để thu hồi nợ, không
phải là hoạt động kinh doanh tài sản bảo đảm. Trong thời hạn 03 năm, kể từ
ngày quyết định xử lý TSBĐ là bất động sản, NHTM phải bán, chuyển nhượng
hoặc mua lại bất động sản này để bảo đảm tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định và
mục đích sử dụng tài sản cố định của ngân hàng theo quy định của pháp luật
[16, Điều 132].
Gần đây, nhà làm luật đã ghi nhận tại Điều 3 Nghị quyết 42 về việc thí
điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng, trong đó có quy định về một số nguyên
tắc xử lý TSBĐ như sau:
(i) Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay phải bảo đảm công khai,
minh bạch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của TCTD, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và cơ quan, tổ chức, cá