VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐÌNH THANH
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐÌNH THANH
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC
TIỄN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN
HÀ NỘI, NĂM 2019
Tác giả
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIA TĂNG
VÀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG........................................7
1.1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng......................................................... 7
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tă ng .. 11
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng
.................................................................................................................... 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA
BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH.............................29
2.1. Tổng quan về Chi cục Thuế thị xã Quảng Yên và các doanh
nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng yên, tỉnh Quảng Ninh............................29
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng đối
với doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh .. 35
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật thuế GTGT trên địa bàn thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh................................................................ 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH.........60
KK&KTT
Kê khai và kế toán thuế
KTQM
Khai thuế qua mạng
NNT
Người nộp thuế
NQD
Ngoài quốc doanh
NSNN
Ngân sách nhà nước
NTĐT
Nộp thuế điện tử
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên hình
Hình 2.2. Cơ cấu theo ngành kinh tế đối với doanh nghiệp tại thời điểm
31/12/2018 .......................................................................................................
33
Hình 2.3. Cơ cấu theo lao động đối với doanh nghiệp tại thời điểm
31/12/2018 .......................................................................................................
34
Hình 2.4: Kết quả thu thuế GTGT từ doanh nghiệp theo địa bàn ...................
39
Hình 2.5: Tỷ lệ thu thuế GTGT từ doanh nghiệp tại Quảng Yên ...................
40
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một quốc gia phát triển có nền tài chính mạnh và bền vững thì nguồn thu
NSNN phải chủ yếu từ thuế và thuế cũng phải là công cụ quản lý Nhà nước quan
trọng của Nhà nước đó. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta
đã thực hiện cải cách thuế bước hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách này là thay thế
Luật thuế doanh thu bằng Luật thuế giá trị gia tăng được thông qua tại kỳ họp thứ 11
Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Sự ra đời của Luật thuế
giá trị gia tăng được xem là một bước ngoặc có tính đột phá trong công tác quản lý
thu thuế và đã thể hiện được sự mạnh dạn, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà
nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Thuế giá trị gia tăng là một sắc thuế đóng vai trò quan trọng trong tổng thu
NSNN cho nên các vấn đề xoay quanh sắc thuế này cũng là một mảnh đất hấp dẫn
cho các nhà nghiên cứu trong đó nổi bật là những công trình sau:
- Công trình được coi là sơ khai nhất nghiên cứu về thuế GTGT ở Việt Nam :
“Khả năng áp dụng thuế giá trị gia tăng trong điều kiện Việt Nam hiện nay”, Luận
văn thạc sỹ khoa học kinh tế, Trường Đại học Tài Chính – Kế Toán Hà Nội của tác
giả Man Ngọc Lý (1996).
- Trong giai đoạn ban hành thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu tiêu
biểu có công trình: “Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam”, luận án tiến sỹ năm 2003 của Nguyễn Thị Thương Huyền; “Pháp luật
thuế giá trị gia tăng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” NXB Tài chính năm 2003
của tác giả Trần Đình Hảo và Nguyễn Thị Thương Huyền hay công trình: “Một số
vấn đề pháp lý về thuế giá trị gia tăng và việc áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt
Nam”. Dựa trên những nền tảng những công trình này, nhiều công trình khác được
phát triển: “Cải cách thuế GTGT của Việt Nam”, Viện nghiên cứu Luật thuế và
chính sách, tác giả: Richard Krever GS (2001), ĐH DEAKIN, “Thuế giá trị gia
tăng cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Văn Đậu…
Trong thời gian qua đã có nhiều đề tài, bài viết nghiên cứu về công tác quản
lý thu thuế, cụ thể :
- Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đề tài Luận án Tiến sĩ của Trường Đại học
kinh tế quốc dân, “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự
tuân thủ thuế của doanh nghiệp”. Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã hệ thống những
công trình nghiên cứu về sự tuân thủ thuế và Quản lý thuế của Nhà nước đối với
2
doanh nghiệp của các tác giả nước ngoài và trong nước. Đề tài đã làm rõ bản chất
mới của quản lý thuế cần được thể hiện đầy đủ trong các chiến lược quản lý sự nộp
thuế của từng nhóm người nộp thuế ở từng cấp độ tuân thủ thuế khác nhau.
Từ trước đến nay, trên địa bàn thị xã Quảng Yên, chưa có một công trình nào
nghiên cứu về thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
hiện nay, từ thực tiễn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Các công trình nêu trên đây đã được các nhà khoa học nghiên cứu phân tích
rõ thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng về các phương diện kinh tế, phương diện
quản lý và cả phương diện pháp lý. Các đề tài nêu rõ những ưu điểm, thành tựu đạt
được cũng như những vướng mắc trên thực tế và chỉ ra nguyên nhân của những tồn
tại, vướng mắc đó. Để từ đó xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện luật
nhắm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT ở Việt Nam. Nâng cao được hiệu lực
thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hoặc một địa phương cụ thể, giúp
cho nhà sản xuất, người tiêu dùng và các chủ thể quản lý nhận thức rõ vai trò và vị
trí của thuế, tự nguyện thực hiện và đảm bảo thực hiện đúng đắn pháp luật về loại
thuế này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện
pháp luật thuế GTGT góp phần tăng cường quản lý thuế GTGT đối với doanh
nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên và tỉnh Quảng Ninh nhằm chống thất thu thuế
GTGT.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị
gia tăng đối với doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp qua thực tiễn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và tăng cường công tác
quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên,
tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT đối với các
đề xuất là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng cũng như tăng
cường hiệu lực và hiệu quả thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên – tỉnh Quảng Ninh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương như sau:
5
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá
trị gia tăng
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng và tăng cường
quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên,
tỉnh Quảng Ninh.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIA TĂNG
VÀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết
tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), được dịch ra tiếng
Việt là thuế giá trị gia tăng. Hiện nay, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi
ở nhiều nước trên thế giới và đã có khoảng 156 quốc gia áp dụng loại thuế này.
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ
phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
- Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập, vì nó không tính đến
khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải
chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ thu
nhập nộp thuế của những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn tỷ lệ nộp thuế của
người có thu nhập cao nếu so với tổng thu nhập trong kỳ, bởi lẽ tốc độ tăng tiêu
dùng bao giờ cũng thấp hơn tốc độ tăng thu nhập.
- Về phạm vi đánh thuế, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn
ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc
điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không
thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ
nhập khẩu.
1.1.2. Vai trò của thuế giá trị gia tăng
Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách nhà nước
mà còn là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, kiểm soát, điều tiết vĩ mô
nền kinh tế. Nhà nước sử dụng công cụ thuế nhằm hướng dẫn, điều tiết các lĩnh vực
sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại,
điều tiết thu nhập, giải quyết công bằng xã hội… Trong đó, với vị thế là một khoản
thu chiếm tỷ trọng lớn trong số thu ngân sách nhà nước, thuế GTGT có vai trò rất to
lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Có thể khái quát các vai trò
đó thành ba vai trò cơ bản như sau:
Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước.
Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu cho
ngân sách nhà nước. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc
8
nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, hạn chế thất thu. Thuế
GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh
doanh nên làm tăng nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời cho ngân sách nhà
nước. Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua hàng đã
Thuế GTGT là động lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, tăng cường
sự hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.
- Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối. Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh
lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Kinh tế thị
trường càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày
càng có xu hướng gia tăng. Thuế GTGT áp dụng mức thuế suất cao đối với các loại
hàng hoá, dịch vụ cao cấp mà chỉ những người có thu nhập cao mới sử dụng hoặc
sử dụng nhiều hơn, còn đối với các hàng hoá thông thường hoặc có tính chất thiết
yếu thì thuế GTGT quy định mức thuế suất thấp hơn, qua đó điều tiết một phần thu
nhập của họ.
- Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất. Trong nền kinh tế thị
trường, giá cả hàng hoá được bán ra phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cung cầu, nó
phải được người tiêu dùng chấp nhận, người sản xuất khó có thể thay đổi giá cả theo
ý mình. Do đó việc Nhà nước đánh thuế sẽ làm giảm doanh thu thuần của doanh
nghiệp nếu doanh nghiệp không cố gắng nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm bớt chi
phí. Điều đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn cải tiến kỹ thuật, khuyến
khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, nâng cao năng suất, thúc đẩy nền sản
xuất phát triển.
- Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán,
phát triển quan hệ thanh toán. Việc doanh nghiệp được phép khấu trừ thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT của Nhà nước đã
khuyến khích các doanh nghiệp tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ,
thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị. Ngoài ra, việc thuế
GTGT đòi hỏi những doanh nghiệp có hàng hoá xuất khẩu phải thanh toán qua ngân
hàng thì mới được hoàn thuế đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua hệ
thống ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán.
Thứ ba, thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
của các thành phần kinh tế.
nước, bao gồm những quy định về phạm vi áp dụng thuế GTGT (đối tượng chịu
thuế GTGT), phạm vi không thuộc diện áp dụng thuế GTGT (đối tượng không
thuộc diện chịu thuế GTGT), đối tượng nộp thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế
GTGT…. Đây là bộ phận quy phạm pháp luật giữ vai trò quan trọng trong pháp luật
thuế GTGT.
11
- Nhóm quy phạm pháp luật có nội dung quản lý thuế GTGT. Nhóm các quy
phạm này xác định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc
quản lý công tác đăng ký kê khai, nộp và tiến hành thu thuế GTGT và công tác hoàn
thuế, miễn giảm thuế. Bên cạnh đó, nhóm các quy phạm pháp luật về hình thức quy
định về trình tự, thủ tục của việc giải quyết các tranh chấp và xử lý các vi phạm
pháp luật về thuế GTGT.
Ngoài ra, hệ thống quy phạm pháp luật thuế GTGT còn được phân theo cấu
trúc của pháp luật thuế GTGT, cụ thể bao gồm:
- Nhóm quy phạm pháp luật xác định phạm vi áp dụng thuế GTGT như đối
tượng chịu thuế GTGT, đối tượng được miễn trừ thuế GTGT, đối tượng nộp thuế
GTGT
- Nhóm các quy phạm pháp luật quy định việc tính thuế GTGT như căn cứ
tính thuế, phương pháp tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế.
Xuất phát từ đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình nộp thuế GTGT là quan hệ bất bình đẳng, vì vậy, phương pháp điều chỉnh của
pháp luật thuế GTGT là phương pháp mệnh lệnh – quyền uy. Theo phương pháp
này các chủ thể tham gia quan hệ thuế GTGT có tư cách pháp lý không bình đẳng.
Một bên trong mối quan hệ (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có quyền đơn
phương ra các quyết định thực hiện các quyền và nghĩa vu theo quy định của pháp
luật mà không cần sự thỏa thuận của các chủ thể có nghĩa vụ thuế GTGT.
1.2.2. Những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật thuế giá trị gia tăng
- Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán.
- Hàng hoá, dịch vụ mang tính chất đặc thù thuộc hoạt động an ninh quốc
phòng: vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.
- Hàng hoá, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu chính trị,
xã hội, nhân đạo.
- Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu thấp (mức
doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống).
- Hàng hóa, dịch vụ khác (hàng hoá nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam; nhà ở thuộc sở hữu Nhà
nước do Nhà nước bán cho người đang thuê; chuyển quyền sử dụng đất; vàng nhập
khẩu dạng thỏi, miếng và các loại vàng chưa được chế tác; sản phẩm xuất khẩu là tài
nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến; hàng hoá bán miễn thuế ở các cửa hàng
bán hàng miễn thuế; các hoạt động có thu phí, lệ phí của Nhà nước …)
Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT:
13
- Các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền
chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ của tổ
chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là
đối tượng không cư trú tại Việt Nam.
- Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT
bán tài sản.
- Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cho doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán
sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm
khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh
đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm
hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ,
không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
- Thuế suất: Thuế suất được xác định là “linh hồn” của mỗi Luật thuế, thể
hiện quan điểm mức động viên của Nhà nước với đối tượng chịu thuế. Việc quy
định thuế suất hợp lý có ý nghĩa quan trọng.
Luật thuế GTGT của Việt Nam có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 quy
định bốn mức thuế suất (0%, 5%, 10% , 20%); sau một thời gian áp dụng và để
hoàn thiện, Luật đã được điều chỉnh, hiện nay chỉ còn ba mức thuế suất là 0%, 5%
và 10%, trong đó:
+ Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải
quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT quy định tại Điều 5 Luật thuế
GTGT khi xuất khẩu.
+ Mức thuế suất 5% áp dụng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho
đời sống xã hội; hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất trong các lĩnh vực
nông nghiệp, y tế, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, nhằm thực hiện chính sách xã hội,
khuyến khích đầu tư sản xuất.
+ Mức thuế suất 10% áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ thông thường,
không nằm trong diện chịu các mức thuế suất nói trên và danh mục không chịu thuế
GTGT.
* Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là những cách thức tính toán số thuế
phải nộp. Luật thuế GTGT hiện hành quy định hai phương pháp tính thuế GTGT
15
phải nộp là phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên
GTGT (Điều 9 Luật thuế giá trị gia tăng).
GTGT của HHDV
Thuế suất thuế GTGT áp
=
phải nộp
-
chịu thuế bán ra
(1.2)
dụng đối với HHDV
1.2.2.2. Tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT/Quản lý thuế GTGT
Nội dung tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng, gồm:
* Đăng ký thuế
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp
thuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực
hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Sau khi nộp hồ sơ
đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thuế với cơ quan quản lý nhà nước, NNT đủ điều
kiện được cơ quan quản lý nhà nước cấp mã số doanh nghiệp, mã số này đồng thời
là mã số thuế của doanh nghiệp và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế. NNT
phải ghi mã số thuế được cấp vào hóa đơn, chứng từ, tài liệu khi thực hiện các giao
dịch kinh doanh, các giao dịch về thuế, mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương
16
phận KK&KTT kiểm tra tính hợp pháp của Hợp đồng dịch vụ làm thủ tục về thuế;
17