VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ TƯỜNG VĨ
ĐẤU THẦU ĐỐI VỚI VIỆC CUNG CẤP, CHĂM SÓC,
DUY TRÌ CÂY XANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ TƯỜNG VĨ
ĐẤU THẦU ĐỐI VỚI VIỆC CUNG CẤP, CHĂM SÓC,
DUY TRÌ CÂY XANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
2.1. Khái quát về tỉnh Quảng Nam ...................................................................................... 43
2.2.Tình hình thực hiện đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam ...................................................................................................... 46
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU ĐỐI VỚI VIỆC CUNG
CẤP, CHĂM SÓC, DUY TRÌ CÂY XANH .................................................................... 65
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đấu thầu
cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh .................................................................................. 65
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc,
duy trì cây xanh.................................................................................................................... 67
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đấu thầu đối với việc cung
cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh ........................................................................................... 69
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây xanh là một trong những nét đặc trưng gắn với đời sống văn hóa tinh
thần của cộng đồng dân cư đô thị, đồng thời có vai trò quan trọng trong việc kiến
tạo cảnh quan kiến trúc đô thị, cải thiện môi trường. Tuy nhiên, xét về phương diện
an toàn, nhất là đối với các cây thuộc phân loại 3, cây cổ thụ là những cây đa phần
tồn tại từ rất lâu, là cây lâu năm già cỗi nên tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn do nguy cơ
bị gãy đổ khi có mưa, bão, lốc, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu với những
diễn biến khó lường như hiện nay. Quảng Nam là một trong các tỉnh đang trên đà
phát triển và đô thị hóa nên việc trồng, chăm sóc, duy trì cây xanh có vai trò tất yếu
trong việc đô thị hóa.
Cây xanh được trồng với mục đích sử dụng lâu dài, luôn gắn với những
nguồn vốn đầu tư lớn mà có thể thuộc sở hữu của nhà nước. Sản phẩm của dịch vụ
Điện Bàn, thành phố Hội An... Do đó, thực tế khảo sát cho thấy, so với kinh phí
Nhà nước bỏ ra, chất lượng cung cấp dịch vụ của các nhà thầu vẫn chưa đảm bảo
yêu cầu về kỹ thuật. Vì vậy, nhu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu thầu các dự án đầu
tư công nói chung và đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh nói
riêng luôn là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Nam.
Với nhận thức như vậy, tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài “Đấu thầu đối với
việc đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh theo pháp luật Việt Nam hiện
nay từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về đấu thầu không phải là vấn đề quá mới mẻ ở Việt Nam. Tuy
nhiên, đấu thầu trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc và duy trì cây xanh là một
vấn đề khá mới mẻ ở nước ta. Đã có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu viết về
vấn đề đấu thầu nói chung nhưng chưa có bài viết, hay công trình nghiên cứu khoa
học chuyên sâu về pháp luật đấu thầu đối với việc đối với việc cung cấp, chăm sóc,
duy trì cây xanh theo pháp luật Việt Nam, đặc biệt qua thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
Cụ thể, các công trình nghiên cứu chủ yếu là về pháp luật đấu thầu xây lắp và đấu
thầu mua sắm như Luận văn “Bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa
2
theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Ths. Cao Thị Lê Thương (Học viện Khoa
học xã hội năm 2016), Luận văn “Đấu thầu của các nhà thầu trong nước đối với
đấu thầu xây lắp quốc tế” của Ths. Phạm Thị Thanh (Đại học quốc gia Hà Nội năm
2012), Báo cáo về rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết EVFTA về mua sắm
công của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), với sự hỗ trợ của
Đại sứ quán Anh và Bắc Ai len tại Việt Nam, xuất bản tại nhà xuất bản Công
thương năm 2016…
thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh ở góc độ khác, cũng không
nghiên cứu vấn đề kinh tế - xã hội, văn hóa, truyền thống có liên quan, trừ khi trừ
khi thực sự cần thiết nhằm mục đích nghiên cứu nói trên.
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi pháp luật hiện hành ở Việt Nam và thực
tiễn thực hiện ở tỉnh Quảng Nam mà không nghiên cứu sâu về lịch sử của lĩnh vực
pháp luật này và cũng không nghiên cứu pháp luật của các nước khác trừ khi cần xử
lý những thông tin liên quan để đáp ứng mục đích nghiên cứu của đề tài theo sự lựa
chọn của tác giả Luận văn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu dựa trên nền tảng tư
tưởng Mác - Lê Nin, bao gồm: Phương pháp phân tích qui phạm, phương pháp
phân tích vụ việc, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương trừu
tượng hóa.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về một số vấn
đề lý luận và thực tiễn của đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây
xanh thao Luật Đấu thầu năm 2013 thành chương trình học tập và báo cáo tốt
nghiệp lớp Cao học Luật kinh tế khóa VII (đợt 1) năm 2016 của Học viện Khoa
học Xã hội, việc nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa đi sâu phân tích khái niệm, đặc
điểm, hình thức pháp lý, thủ tục của đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy
trì cây xanh. Từ đó tác giả kết hợp với việc nghiên cứu, so sánh pháp luật đấu thầu
đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh hiện nay giữa các văn bản pháp
luật có liên quan cùng điều chỉnh để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm
mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
4
xanh
Nền kinh tế thị trường thúc đẩy cạnh tranh phát triển. Những người bán hàng
hóa, dịch vụ luôn luôn có sự cọ xát để tranh dành người mua. Cơ chế đó làm cho
người mua có được sự lựa chọn tốt nhất cho mình. Trên cơ sở đó, hoạt động đấu
thầu xuất hiện. Cơ chế đấu thầu cho phép người mua lựa chọn một hoặc một số
người bán có khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ mà mình có nhu cầu sao cho đạt
được hiệu quả tối ưu cả về số lượng, chất lượng, giá cả, kỹ thuật, công nghệ…
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Đấu thầu là một phương thức giao dịch đặc biệt
trong mua sắm hàng hóa và công trình xây dựng, và người bán sẽ công bố giá để
người mua lựa chọn” [5, tr.610]. Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, thuật ngữ đấu thầu xuất hiện rất sớm và được định nghĩa: “là tranh nhau làm
một công trình kiến thiết, ai nhận với giá rẻ nhất thì được làm” [25, tr.276]. Từ điển
Luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp giải thích đấu thầu là: “phương
thức giao dịch đặc biệt, người muốn xây dựng một công trình (người gọi thầu) công
bố trước các yêu cầu và điều kiện xây dựng công trình, người dự thầu công bố giá
mà mình muốn nhận, người gọi thầu qua so sánh để lựa chọn nhà thầu có lợi nhất
cho mình theo các điều kiện do mình đưa ra” [29, tr.240]. Đây là các định nghĩa
khái niệm đấu thầu được sử dụng trong đời sống thường nhật theo nhận thức chung
của xã hội. Dù thế các định nghĩa này đã chỉ ra được những điểm cốt yếu của đấu
6
thầu với tính cách là một công đoạn quan trọng trong hoạt động xây dựng hoặc mua
bán hàng hóa hay dịch vụ.
Luật Đấu thầu năm 2013 đã đưa ra một định nghĩa có tính cách pháp lý như
sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung
cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà
thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư,
dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch
mời thầu đặt ra để thực hiện các dịch vụ chăm sóc, duy trì cây xanh.”
1.1.1.2. Các đặc điểm của đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì
cây xanh
Đấu thầu giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tốt nhất những
yêu cầu của mình. Nhờ đó họ có được những công trình cây xanh có chất lượng cao,
có tỉnh thẩm mỹ, giá cả hợp lý. Mặc dù cũng có bản chất là sự lựa chọn người cung
cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, nhưng đầu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì
có những đặc điểm riêng sau đây khác biệt với các loại đấu thầu khác:
- Đặc điểm thứ nhất: Đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây
xanh mang tính kỹ thuật. Vì việc cắt tỉa cành, khống chế chiều cao, bón phân,xử lý
sâu bệnh…. là công việc đòi hỏi phải có kỹ thuật, tay nghề mới thực hiện được, nếu
không cây sẽ phát triển không tốt, mất thẩm mỹ, thậm chí có thể chết. Mặt khác,
nếu vào mùa mưa bão nếu không cắt bớt cành hoặc cắt cành không đúng quy cách,
khi cành gãy có thể gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Do đó, đấu thầu đối với
việc đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh phải bảo đảm lựa chọn được
nhà thầu có khả năng kỹ thuật, có công nghệ đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của
từng gói thầu nhất định.
- Đặc điểm thứ hai: Giống như các hoạt động đấu thầu nói chung, đấu thầu
đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh với mục đích tìm ra phương thức,
hình thức đấu thầu thích hợp để sử dụng lượng vốn phù hợp nhất, mang lại hiệu quả
kinh tế cũng như xã hội cao nhất. Dịch vụ chăm sóc, duy trì cây xanh ở Việt Nam là
dịch vụ công thì đặc điểm này càng có ý nghĩa. Đấu thầu đối với việc cung cấp,
chăm sóc, duy trì cây xanh, nhất là cây xanh công viên, vỉa hè, đường phố, dải phân
cách, vòng xoay là đấu thầu dịch vụ công, có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Do
8
đó, vấn đề lựa chọn nhà thầu để sử dụng nguồn vốn hiệu quả cần phải được chú
trọng hơn hết, góp phần giảm thiểu tham nhũng.
trường, minh bạch hóa nguồn vốn và hiệu quả đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ
công ích. Do đó, đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh rất cần
thiết, có vị trí hết sức quan trọng. Các quy tắc đấu thầu phải bảo đảm sự bình đẳng,
công khai, minh bạch cho những người cung ứng dịch vụ và người có nhu cầu mua
dịch vụ đó (Nhà nước). Các quy tắc này ngày nay đã được luật hóa tạo cơ sở pháp
lý cho hoạt động đấu thầu được diễn ra một cách trật tự và có tổ chức.
+ Đối với Chủ đầu tư:
Việc tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu tuy mới hình thành và áp dụng trong
đời sống, nhưng đã trở thành một phương pháp lựa chọn nhà thầu có hiệu quả, là
một trong những hình thức phát huy quyền làm chủ và tự chịu trách nhiệm của chủ
đầu tư. Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư tự chọn được những phương án tối ưu trong
việc sử dụng nguồn vốn đầu tư, giảm giá thành cung ứng dịch vụ.
Hiệu quả là điều tiên quyết Nhà nước (chủ đầu tư) mong muốn đạt được
trước khi tiến hành bất cứ hoạt động với lợi ích công cộng nào. Để có được hiệu quả
tối đa từ hoạt động đầu tư của mình Nhà nước thường sử dụng đấu thầu để lựa chọn
đơn vị đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ, được cung cấp dịch vụ với
chất lượng cao nhất với chi phí thấp nhất. Thực tế tỷ lệ tiết kiệm do sử dụng đấu
thầu thông thường đạt được từ 10 đến 15% so với giá gói thầu [4; tr. 97]. Khoảng
thời gian trước đó vào những năm 1986 khi hoạt động thầu của ta chỉ diễn ra dưới
các hình thức như bỏ thầu, giao thầu, hay chỉ định thầu, kết quả của chính sách ấy
đã đem về cho quốc gia những sản phẩm kém chất lượng, trong khi ngân sách chi ra
thì vượt rất nhiều, thất thoát lớn mà không sao quản lý. Trong khi đó đấu thầu trở
thành công cụ quản lý hữu hiệu, nên đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy
trì cây xanh ở Việt Nam phù hợp với xu thế, tồn tại như một quy luật khách quan.
Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư nhận được sản phẩm có chất lượng với giá cả hợp
lý nhất. Dựa trên các tiêu chí đã được lựa chọn trước, Nhà nước có thể đánh giá
công bằng các nhà thầu cũng như tạo nên sự nhất quán từ đầu đến cuối quá trình
cung cấp dịch vụ. Chính nhờ có đấu thầu mà tình trạng vô trách nhiệm, thất thoát
lãng phí các nguồn vốn dành cho dự án được khắc phục, chất lượng dịch vụ được
chiều sâu, cải tiến và hợp lý hóa quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng cung ứng
dịch vụ, sử dụng hợp lý nguồn vốn, tăng hiệu quả nguồn vốn đầu tư, tự hoàn thiện
các mặt quản lý, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong tham gia đấu
11
thầu và thực hiện gói thầu đã thắng.
Trong hoạt động này mọi nhà thầu có khả năng đều có thể tham gia đấu thầu
miễn là có đủ tiêu chuẩn theo qui định của pháp luật và chủ đầu tư đặt ra. Hình thức
đấu thầu rộng rãi là hình ảnh tiêu biểu nhất cho cơ hội cạnh tranh bình đẳng. Ngoài
ra đối với các nhà thầu đây chính là phương thức tìm kiếm cơ hội kinh doanh và
phát triển doanh nghiệp..
Thông qua phương thức đấu thầu, nhà thầu sẽ tự nâng cao hiệu quả công tác
quản trị chi phí kinh doanh, quản lý tài chính, thúc đẩy nâng cao hiệu quả kinh tế
khi giá bỏ thầu thấp nhưng vẫn thu được lợi nhuận.
+ Đối với nền kinh tế:
Đầu thấu nói chung và đấu thầu trong việc cung cáp dịch vụ chăm sóc, duy
trì cây xanh góp phần tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ
chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh và thực hiện dân
chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính
nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo;
Với những nhiệm vụ mang tính cấp thiết và quan trọng đã được đặt ra đấu
thầu cung cấp dịch vụ công, trong đó có đấu thầu đối với việc đối với việc cung cấp,
chăm sóc, duy trì cây xanh đã có đà phát triển mạnh. Nhiều tỉnh, thành phố đang và
có kế hoạch thực hiện hoạt động đấu thầu này một cách công khai và rộng rãi. Một
số địa phương đã cho thấy được hiệu quả nhất định trong việc áp dụng cơ chế đấu
thấu đối với việc đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh.
1.1.3. Các nguyên tắc đấu thầu đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây
xanh
các nhà thầu đều cố gắng có được gói thầu nên sự cạnh tranh diễn ra vô cùng mạnh
mẽ. Họ dùng nhiều biện pháp khác nhau để thể hiện ưu thế của mình sao cho có được
gói thầu. Tuy nhiên bắt buộc phải là sự cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh một cách
công bằng. Nghĩa là các nhà thầu đều phải được hưởng những cơ hội, điều kiện
ngang nhau trong suốt quá trình đấu thầu. Bên mời thầu có nghĩa vụ đảm bảo sự bình
đẳng này mà không có sự ưu ái hay phân biệt đối xử với bất kỳ nhà thầu nào.
- Nguyên tắc đánh giá công bằng
Đây là nguyên tắc quan trọng trong đấu thầu nói chung cũng như trong đấu
thầu đối với việc đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh nói riêng.
13
Nguyên tắc này đòi hỏi phải được thực hiện xuyên suốt quy trình đấu thầu từ việc
đánh giá hồ sơ dự thầu phải đảm bảo sự bình đẳng, những tiêu chuẩn đánh giá cũng
phải đuợc ghi rõ ràng, cụ thể trong hồ sơ mời thầu. Nguyên tắc này cũng yêu cầu
các hồ sơ đấu thầu phải đuợc đánh giá khách quan bởi một hội đồng có đầy đủ năng
lực, phẩm chất. Kết quả của cuộc đấu thầu cũng phải được công khai và giải thích lý
do các nhà thầu vì sao hồ sơ của họ đuợc lựa chọn hoặc bị loại để hạn chế tranh
chấp phát sinh.
- Nguyên tắc minh bạch
Đây là một nguyên tắc cần phải được thực hiện triệt để trong đấu thầu đối
với việc đối với việc cung cấp, chăm sóc, duy trì cây xanh. Nguyên tắc này cần
được áp dụng trong suốt quá trình đấu thầu, với tất cả các bên tham gia từ thông tin
đấu thầu cho đến các bước diễn ra trong quy trình đấu thầu... góp phần làm cho các
nhà thầu có cơ hội cạnh tranh lành mạnh, hạn chế các tiêu cực có thể nảy sinh.
- Nguyên tắc trách nhiệm phân minh
Nguyên tắc này được thực hiện xuyên suốt trong quá trình đấu thầu, được ghi
nhận rõ ràng trong hợp đồng. Trên thực tế, các bên khi tham gia vào quan hệ đấu
thầu không chỉ liên quan đến nhau về quyền lợi mà còn cả nghĩa vụ, họ luôn nhận
Giá trị mua sắm công là rất lớn đối với mỗi quốc gia, loại công trình, hàng
hóa và dịch vụ mua sắm công cũng hết sức đa dạng. Hàng năm các quốc gia phải
dành rất nhiều thời gian và nguồn lực để thực hiện mua sắm công thông qua đấu
thầu. Như vậy, việc tạo ra khung pháp luật chặt chẽ trong đấu thầu nói chung và đấu
thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công có vai trò quan trọng. Năm 1996, Chính phủ
ban hành Nghị định 43/CP về ban hành quy chế đấu thầu. Đây là một trong các văn
bản mà hoạt động đấu thầu được “luật hóa” ở nước ta. Đến năm 2005, Luật Đấu
thầu mới chính thức được ban hành, kèm theo đó là các văn bản dưới luật, hướng
dẫn thi hành một số điều của hoạt động đấu thầu nói chung. Tuy nhiên, sau gần 10
năm thi hành, pháp luật về đấu thầu đã có những bất cập nhất định, đến năm 2013,
Quốc hội ban hành Luật Đấu thầu 2013 thay thế Luật Đấu thầu 2005. Riêng, đối với
hoạt động quản lý cây xanh đô thị được quy định tại Nghị định số 64/2010/NĐ-CP
về quản lý cây xanh đô thị.Việc cung cấp dịch vụ chăm sóc và duy trì cây xanh là
một trong các dịch vụ công và được quy định tại Nghị định số 130/2013/NĐ-CP của
Chính phủ về sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích. Sau khi Luật Đấu thầu
2005 hết hiệu lực thi hành, Nghị định số 130/2013/NĐ-CP cũng hết hiệu lực nhưng
15
hiện nay, Chính phủ đang dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 130/2013/NĐCP để phù hợp với Luật Đấu thầu 2013.
Về cơ bản pháp luật đấu thầu đối với việc cung cấp dịch vụ chăm sóc và duy
trì cây xanh được quy định trong Luật Đấu thầu nói chung. Tuy nhiên đây là hoạt
động đấu thầu trong lĩnh vực cụ thể nên mang một số điểm khác biệt nhất định. Có
thể tóm tắt một số vấn đề pháp lý cơ bản sau: Những quy định về chủ thể; lựa chọn
hình thức đấu thầu; trình tự, thủ tục đấu thầu; lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng;
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu; và xử lý vi phạm.
Điều 3, Khoản 1, Luật Đấu thầu năm 2013 quy định: “Trường hợp có đặc thù
về đấu thầu quy định ở Luật khác thì áp dụng theo quy định của Luật đó”. Điều này
có nghĩa là Luật Đấu thầu được coi là luật chung, điều chỉnh những vấn đề cơ bản
1.2.2.1. Về chủ thể của hoạt động đấu thầu
Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể, theo
những điều kiện do pháp luật quy định, tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất
định. Theo đó, đối với hoạt động đấu thầu cung cấp dịch vụ chăm sóc và duy trì cây
xanh, chủ thể là cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể, đủ điều kiện để tham gia vào
quan hệ đấu thầu này. Cụ thể, gồm có các chủ thể sau:
Bên mời thầu: muốn tổ chức đấu thầu phải có bên mời thầu. Bên mời thầu
được quyết định trên cơ sở của chủ đầu tư.
Theo quy định của Luật Đấu thầu 2013 (Điều 4): Bên mời thầu là cơ quan, tổ
chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động đấu thầu như Chủ đầu
tư hoặc tổ chức do chủ đầu tư quyết định thành lập hoặc lựa chọn; đơn vị dự toán
trực tiếp sử dụng nguồn vốn mua sắm thường xuyên; đơn vị mua sắm tập trung hay
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức trực thuộc do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền lựa chọn. Bên mời thầu có thể lập hoặc thuê tổ Tổ chuyên gia để giúp
bên mời thầu thực hiện các công việc có liên quan trong quá trình đấu thầu. Tùy
theo tính chất và mức độ phức tạp của gói thầu, thành phần tổ chuyên gia đấu thầu
bao gồm các chuyên gia về lĩnh vực kỹ thuật, tài chính, thương mại, hành chính,
pháp lý và các lĩnh vực có liên quan. Các điều kiện cần và đủ để một cá nhân tham
gia là thành viên của tổ chuyên gia: có chứng chỉ tham gia khóa học về đấu thầu; có
trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu; am hiểu các nội dung cụ thể tương ứng
của gói thầu; có tối thiểu 03 năm công tác trong lĩnh vực liên quan đến nội dung
17
kinh tế, kỹ thuật của gói thầu. Theo Điều 4, Luật Đấu thầu năm 2013 quy định Tổ
chuyên gia gồm các cá nhân có năng lực, kinh nghiệm được bên mời thầu hoặc đơn
vị tư vấn đấu thầu thành lập để đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ
dự thầu, hồ sơ đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác trong quá trình lựa chọn nhà
thầu, nhà đầu tư.
nghiệp và khả năng phân tích kỹ thuật tốt.
- Lựa chọn các nhà thầu có năng lực kỹ thuật, kinh nghiệm chuyên môn và
có biện pháp cung ứng dịch vụ theo hướng hiệu quả cao.
- Thể hiện rõ vai trò của chủ đầu tư trong giai đoạn cung cấp dịch vụ chăm
sóc và duy trì cây xanh thông qua công tác thẩm định và kiểm tra, giám sát.
Nhà thầu: Khác với lựa chọn bên nhận thầu (còn gọi nhà thầu) trong cung
cấp hàng hóa là chọn hàng hóa đã có sẵn, người mua có thể tiếp cận bằng trực giác,
việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc và duy trì cây
xanh mang bản chất của một chuỗi các hành động nhằm chọn ra người cung ứng
dịch vụ tốt nhất. Hơn nữa, tại thời điểm đấu thầu, do sản phẩm của dịch vụ này mới
chỉ được thể hiện trên các thiết kế kỹ thuật, sẽ được hình thành theo một thời gian
nhất định nên sau khi đã chọn được nhà thầu, đòi hỏi phải có sự tham gia, giám sát
của chủ đầu tư. Bởi vậy, vấn đề chất lượng, giá cả của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc
rất nhiều vào nhà thầu sẽ cung ứng dịch vụ và quan hệ hợp đồng giữa chủ đầu tư
với nhàthầu.
Từ nhận thức này, có thể hiểu nhà thầu là chủ thể trung tâm của hoạt động
đấu thầu đối việc cung cấp dịch vụ chăm sóc và duy trì cây xanh, cần có sự xem xét
kỹ lưỡng cả về tư cách pháp lý và các biểu hiện của năng lực thực tế. Theo khoản 2
Điều 17 Dự thảo Nghị định quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung
cấp sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh
phí chi thường xuyên (thay thế Nghị định số 130/2013/NĐ-CP của Chính phủ về
sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích) thì nhà thầu phải đáp ứng các
điều kiện sau:
a) Nhà thầu tham gia đấu thầu phải có chức năng cung ứng dịch vụ sự
nghiệp công phù hợp với dịch vụ sự nghiệp công tham gia đấu thầu; có giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với dịch vụ sự nghiệp công tham gia
đấu thầu;
b) Nhà thầu tham gia đấu thầu phải có tư cách hợp lệ theo quy định tại Điều
5 của Luật Đấu thầu;
Mỗi chủ thể trong hoạt động đấu thầu đều có các trách nhiệm nhất định, được
vụ trách nhiệm của bên mời thầu trong đấu thầu đối với việc đối với việc cung cấp,
20
chăm sóc, duy trì cây xanh nhằm đảm bảo việc các bên thực hiện đúng các yêu cầu
của hoạt động này.
1.2.2.2. Về các hình thức lựa chọn nhà thầu
Có thể nói đấu thầu trong lĩnh vực cây xanh giữ vai trò rất quan trọng trong
việc quyết định thành công của công trình. Bởi vậy các nhà làm luật cũng đã rất
quan tâm đến việc quy định các hình thức đấu thầu sao cho phù hợp với tình hình
thực tế. Theo quy định của pháp luật thì đấu thầu đối với việc đối với việc cung cấp,
chăm sóc, duy trì cây xanh có những hình thức đấu thầu chủ yếu đó là: đấu thầu
rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu.
* Chỉ định thầu
Chỉ định thầu là hình thức đấu thầu đã xuất hiện từ lâu như trong Nghị định
số 88/1999/NĐ-CP ngày 1 tháng 9 năm 1999 và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày
5 tháng 5 năm 2000; Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 của
chính phủ (điều 40).
Tuy nhiên, hiện nay những nghị định này đã không còn bao quát được các
tình huống xảy ra trong thực tế, rất nhiều vấn đề về chỉ định thầu phát sinh và chưa
được điều chỉnh kịp thời. Do đó, hình thức chỉ định thầu hiện nay đã được quy định
khá rõ ràng trong Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính
phủ (Điều 54 đến Điều 56) và điều 22 Luật Đấu thầu năm 2013 nhằm nâng cao
trách nhiệm cũng như tính minh bạch, công khai thì người có thẩm quyền chỉ định
thầu sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực
hoạt động cung cấp, duy trì và chăm sóc cây xanh, năng lực hành nghề trong quyết
định của mình. Các công trình được chỉ định thầu cần được thanh tra, kiểm tra để