VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG KIỀU TRANG
HỢP ĐỒNG ĐÀO TẠO NÂNG CAO TAY NGHỀ GIỮA
NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
H N i n m
7
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG KIỀU TRANG
HỢP ĐỒNG ĐÀO TẠO NÂNG CAO TAY NGHỀ GIỮA
NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành
: Luật Kinh tế
luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 27 tháng 08 năm 2017
Học viên thực hiện
Nguyễn Hoàng Kiều Trang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐÀO TẠO
NÂNG CAO TAY NGHỀ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU
TƢ NƢỚC NGOÀI ......................................................................................... 8
1.1. Khái niệm đào tạo nâng cao tay nghề; vai trò, các hình thức của đào tạo
nâng cao tay nghề .............................................................................................. 8
1.2. Khái niệm hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề và khái niệm, đặc điểm
của hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề giữa người lao động và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài ................................................................................ 15
1.3. Điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề giữa
người lao động và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ........................... 18
Chƣơng : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIAO KẾT,
THỰC HIỆN, CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG ĐÀO TẠO NÂNG CAO TAY
NGHỀ GIỮA NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI TỈNH NINH BÌNH ................................... 25
2.1. Thực trạng pháp luật về giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng đào tạo
nâng cao tay nghề giữa người lao động và với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ....................................................................................................... 25
2.2. Thực tiễn giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng đào tạo nâng cao tay
nghề giữa người lao động và với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
tỉnh Ninh Bình ................................................................................................. 36
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
hội do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra, chưa đủ năng lực để
nắm bắt công nghệ sản xuất và quản lý tiên tiến từ nước ngoài. Có thể nói, đội
ngũ lao động nước ta chỉ đông về số lượng, nhưng chất lượng theo yêu cầu
công nghiệp còn rất hạn chế. Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức lớn
là lao động phổ thông khá dồi dào nhưng lao động có kỹ năng và tay nghề lại
rất thiếu. Trong khi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quy
mô đầu tư lớn, dây chuyền máy móc hiện đại, công nghệ, khoa học kỹ thuật
tiên tiến, đòi hỏi đội ngũ lao động lành nghề, làm chủ được phương tiện máy
1
móc, như vậy mới tạo ra được năng suất lao động cao, tạo ra được sản phẩm,
dịch vụ có chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao tính
cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác.
Để thực hiện được điều này, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư
cho người lao động trong doanh nghiệp mình được học tập nâng cao tay nghề,
tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm tạo
ra nhiều của cải vật chất cho doanh nghiệp. Một mong muốn cơ bản và hợp lý
của người sử dụng lao động là người lao động phải gắn bó làm việc cho
doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định để bù đắp các chi phí đã
đầu tư. Trên thực tế, người sử dụng lao động và người lao động thường ký
hợp đồng có điều khoản cam kết trên. Nhưng các quy định của pháp luật lao
động hiện hành vẫn chưa có quy định rõ ràng nào về thỏa thuận này giữa các
bên. Pháp luật lao động luôn khuyến khích người sử dụng lao động ban hành
quy chế quy định hoặc thỏa thuận với những điều kiện có lợi hơn cho người
lao động so với quy định của Bộ luật lao động năm 2012. Tuy nhiên, những
quy định về bồi thường chi phí đào tạo hiện nay không chỉ gây khó khăn,
vướng mắc trong quá trình áp dụng mà còn tạo ra sự thiếu công bằng. Một
vấn đề mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang gặp phải đó
là sau khi được đào tạo nâng cao tay nghề, được tiếp thu kiến thức về kinh
văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động tại các doanh nghiệp,
đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang là một vấn đề
được xã hội quan tâm. Trong những năm qua, vấn đề này đã được đề cập đến
ở nhiều góc độ khác nhau trong một số công trình nghiên cứu độc lập hoặc
trong các bài viết trên các tạp chí pháp luật như:
3
“Đào tạo nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động theo hợp
đồng học nghề”, khóa luận tốt nghiệp của Chu Bá Hữu, Đại học Luật Hà Nội
(1997), hợp đồng học nghề được tác giả nghiên cứu theo Bộ luật lao động
năm 1994.
“Đào tạo nghề - thực trạng và một số kiến nghị”, khóa luận tốt nghiệp
của Lê Thị Thanh Nhàn, Đại học Luật Hà Nội (2010). Ở đề tài này tác giả
mới đi phân tích và đưa ra các thực trạng của pháp luật Việt Nam về thực
trạng đào tạo nghề, nội dung hợp đồng đào tạo nghề được tác giả nêu ra có
tính chất gợi mở mà chưa đi sâu nghiên cứu nội dung và các vấn đề pháp lý
liên quan đến hợp đồng đào tạo nghề cả về lý luận và thực tiễn.
Luận văn “Hợp đồng học nghề theo luật dạy nghề ở Việt Nam” của
Trần Thị Thoa, khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012. Trong
luận văn cũng có đề cập tới đào tạo nghề nhưng chỉ là những quy định về hợp
đồng học nghề theo luật dạy nghề là chủ yếu mà chưa phân tích cụ thể quan
hệ hợp đồng đào tạo nghề tại các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
lao động về đào tạo nghề nói chung.
Bài viết “Pháp luật lao động và vấn đề bồi thường chi phí đào tạo của
người lao động” của thạc sỹ Nguyễn Thị Hà, khoa KHXH&NV, trường Đại
học Đông Á, “Quy định của pháp luật đối với doanh nghiệp trong việc đào tạo
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ ba: Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề
và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về hợp đồng và pháp luật
về hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề giữa người lao động và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt thực tiễn, luận văn tìm hiểu việc thực hiện pháp luât về hợp
đồng đào tạo nâng cao tay nghề giữa người lao động và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh
Ninh Bình trong thời gian gần đây.
5. Phƣơng pháp luận v phƣơng pháp nghiên cứu
Tổng quan tài liệu đánh giá về chất lượng và hiệu quả thực hiện pháp
luật về hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề tại các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài của tỉnh Ninh Bình.
Sử dụng các công cụ thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, tổng
hợp số liệu. định lượng để đánh giá cơ sở pháp lý của hợp đồng đào tạo nâng
cao tay nghề và những bất cập trong việc thực hiện hợp đồng.
Các thông tin, số liệu sử dụng cho nghiên cứu có thể là thông tin, số
liệu sơ cấp do tác giả tự thu thập hoặc các thông tin, số liệu thứ cấp do các cơ
quan ở địa phương và các cơ quan khác cung cấp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận v n
Về lý luận: Luân văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về
hợp đồng và pháp luật về đào tạo nâng cao tay nghề giữa người lao động và
Theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo được hiểu là việc làm cho trở thành
người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Ở góc nhìn khác, “đào
tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ
cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định”
[7,tr.54].
Đào tạo nâng cao tay nghề là việc bổ túc, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng
lao động, kiến thức chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo
chuyên môn sâu hơn, để người lao động có khả năng làm việc tốt hơn, đáp
ứng được dây chuyền máy móc hiện đại, công nghệ tiên tiến, đáp ứng được
với yêu cầu chất lượng ngày càng cao của xã hội.
1.1.2. Vai trò của đ o tạo nâng cao tay nghề
Dưới góc độ xã hội,đào tạo nâng cao tay nghề tạo ra nguồn nhân lực
chất lượng tốt và do đó, cũng mang lại lợi ích kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế. Nhà kinh tế học Becker đã đưa ra bằng chứng về mối
tương quan giữa trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp và thu nhập: học vấn
và kỹ năng nghề càng cao, thu nhập càng tăng và ngược lại [14]. Khảo sát của
Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của
những người được đào tạo, có tay nghề cao thấp hơn nhiều so với lao động
phổ thông, thậm chí còn thấp hơn cả tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt
8
nghiệp đại học [20]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
còn có ý nghĩa rất to lớn đối với xã hội, nhờ có hoạt động này mà người lao
động không những nâng cao được tay nghề mà còn tăng sự hiểu biết về pháp
luật. Đẩy mạnh sự hợp tác và phát triển trong đoàn thể và góp phần cải thiện
được thông tin giữa các nhóm và cá nhân trong xã hội, làm cho xã hội ngày
càng tốt đẹp hơn, các doanh nghiệp có vị trí hấp dẫn hơn. Chính vì vậy, mà
ngày nay các nhà quản lý giỏi không chỉ dừng lại các chương trình đào tạo có
tính chất đối phó mà họ có nhãn quan nhạy cảm, nhìn xa trông rộng trong
nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thế giới đang dần chuyển sang
một phương thức sản xuất mới, hùng hậu hơn trước đây, nền kinh tế đã làm
cho các doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải thích ứng tốt đối với môi trường
kinh doanh và phải đáp ứng được yêu cầu của cạnh tranh. Đào tạo nâng cao
tay nghề sẽ tạo ra những người lao động có kỹ thuật cao, kỹ năng tốt, năng
suất lao động tăng, sản phẩm làm ra ít lỗi, giảm tiêu hao nguyên vật liệu và
công tác này còn tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào
doanh nghiệp, nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức, làm cải thiện
được mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới xoá bỏ được sự thiếu hiểu biết,
sự tranh chấp, sự mâu thuẫn tạo ra bầu không khí đoàn kết thân ái cùng phấn
đấu phát triển để đạt được hiệu quả cao hơn và khả năng công tác tốt hơn.
Đây là việc làm rất cần thiết của các doanh nghiệp bởi những đòi hỏi
mới về kiến thức, kỹ năng của người lao động luôn là yêu cầu cấp thiết giúp
doanh nghiệp tăng năng suất và hiệu quả lao động. Hơn nữa, khi đầu tư cho
công nhân học tập, nâng cao trình độ, tay nghề, thì doanh nghiệp sẽ giữ được
người lao động, có nguồn nhân lực chất lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng
khả năng cạnh tranh. Đây cũng là lợi thế của doanh nghiệp khi đàm phán ký
kết làm ăn với các đối tác.
10
Đối với người lao động,đào tạo nâng cao tay nghềtạo ra tính chuyên
nghiệp của người lao động, tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy
mới trong công việc của họ, là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao
động trong công việc, tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc
hiện tại cũng như tương lai. Nếu người lao động học tập, nâng cao tay nghề
thì bản thân họ được nhiều cái lợi như: khả năng phát triển thăng tiến trong
công việc (được đề bạt lên tổ trưởng, chuyền trưởng...), tăng thu nhập. Trong
điều kiện sự phát triển của khoa học công nghệ, người lao động luôn phải
kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và
thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề có trình độ
kỹ thuật cao hơn, hoặc được kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp, người
quản lý có kinh nghiệm hơn hoặc được đào tạo bằng các khóa mời giảng viên
đến ôn lý thuyết, luyện tay nghề. Phương pháp này thường được áp dụng bởi
chi phí không cao, người học viên có thể nắm bắt ngay bài học. Họ được thực
hành ngay những gì mà tổ chức trông mong ở họ sau khóa đào tạo. Người dạy
trước tiên sẽ giới thiệu, giải thích về mục tiêu của công việc, sau đó hướng
dẫn tỉ mỉ cho học viên quan sát, trao đổi, học hỏi và cho học viên làm thử cho
tới khi thành thạo dưới sự giám sát chặt chẽ của người dạy. Người học vừa
phải học vừa phải quan sát, lắng nghe những lời chỉ dẫn và làm theo cho đến
khi thuần thục mới thôi. Trong quá trình học, người học cũng như người dạy
đều phải có sự nỗ lực cao, người dạy phải có tay nghề vững chắc, tạo sự tin
tưởng về tay nghề của mình đối với học viên, ngoài ra còn phải biết lắng nghe
những thắc mắc của người học. Như vậy, phải có sự kết hợp của cả người dạy
và người học mới đào tạo ra được học viên có trình độ như mong muốn.
Phương pháp này có ưu điểm là có thể đào tạo được nhiều công nhân
kỹ thuật tay nghề cao trong thời gian ngắn, người học nghề góp phần làm ra
sản phẩm cho doanh nghiệp, chi phí đào tạo thấp do không đòi hỏi phải có cơ
12
sở vật chất như: xưởng trường, lớp học, không phải trả lương cho người
hướng dẫn ( chỉ trả phụ cấp kèm cặp ). Ngoài ra, đào tạo và phát triển trong
công việc giúp doanh nghiệp dễ dàng kiểm soát nội dung chương trình dạy và
học, dễ dàng đánh giá kết quả đào tạo, nhanh chóng có thông tin phản hồi,
giúp học viên mau trưởng thành trong công việc. Vì thế hình thức này phù
hợp với các điều kiện của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay và được nhiều
đơn vị áp dụng.
Nhược điểm của phương pháp này:Học viên ít có khả năng phát triển
không ảnh hưởng đến công việc sản xuất. Tuy nhiên, phương pháp này đòi
hỏi không gian riêng cho học tập dẫn đến chi phí tốn kém cộng thêm việc mua
sắm thiết bị riêng cho học tập nên chỉ có các doanh nghiệp có quy mô lớn mới
có khả năng thực hiện và đào tạo được cho những doanh nghiệp cùng ngành.
Cử đi học tại các trường chính quy:
Trong đào tạo chính quy, học viên được thoát ly khỏi các công việc
hàng ngày tại doanh nghiệp, do đó, thời gian đào tạo ngắn và chất lượng đào
tạo thường cao hơn so với các hình thức đào tạo khác. Tuy nhiên số lượng
người có thể tham gia các khóa đào tạo như thế rất hạn chế.
Với những nghề phức tạp, đòi hỏi trình độ cao, tổ chức có thể cử người
lao động đi học ở trường dạy nghề có thể trong vài tháng hoặc lên tới 2-3
năm. Học viên có thể phải tự bỏ tiền ra đi học nếu xét thấy lợi ích to lớn của
việc đi học hoặc tổ chức hỗ trợ một phần học phí. Phương pháp này cũng
trang bị tương đối đầy đủ kiến thức cả lý thuyết lẫn thực hành cho học viên.
Đây là phương pháp đào tạo có hệ thống nhất, mang lại kiến thức toàn diên
nhất. Tuy nhiên,chi phí rất tốn kém.
Ngoài 3 hình thức trên còn có hình thức trao đổi lao động để đưa công
nhân sang nước ngoài đào tạo, tổ chức các đợt tập huấn, cử công nhân sang
14
học tập, nâng cao tay nghề tại các trụ sở, nhà máy chính của công ty ở nước
ngoài.
. . Khái niệm hợp đồng đ o tạo nâng cao tay nghề v khái niệm
đặc điểm của hợp đồng đ o tạo nâng cao tay nghề giữa ngƣời lao đ ng v
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngo i
. . . Khái niệm hợp đồng đ o tạo nâng cao tay nghề
Hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề về bản chất pháp lý giống như hợp
đồng đào tạo nghề, là một loại hợp đồng trong lĩnh vực dân sự, được tạo ra
bởi sự thỏa thuận của các bên – giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp với người
hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề nói chung. Tuy nhiên, vì đây là một
phạm vi đối tượng có tính đặc thù, nên ngoài những quy định chung, quan hệ
này còn được điều chỉnh bởi một số quy phạm riêng mang tính đặc thù. Điểm
đặc thù rõ nét nhất là yếu tố chủ thể vì thường là các bên chủ thể khác nhau về
quốc tịch. Về phía người lao động, điều kiện chủ thể phải là người lao động
Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên. Về phía doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài phải tuân thủ các điều kiện quy định trong luật đầu tư 2014, luật doanh
nghiệp 2014, doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đầu tư hay đăng ký kinh
doanh theo thủ tục, người đại diện theo pháp luật hay theo ủy quyền theo
đúng quy định.
Hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề là một loại khế ước nên nó mang
những đặc điểm chung của hợp đồng: là sự thỏa thuận trên cơ sở tự do, tự
nguyện, bình đẳng của các chủ thể. Song, vì đây là hình thức pháp lý của quá
trình trao đổi đối tượng là hoạt động đào tạo nghề nên nó có những đặc trưng
riêng so với các khế ước khác.
16
Thứ nhất, trong hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề có sự phụ thuộc
pháp lý của người lao động với doanh nghiệp. Sự phụ thuộc này mang tính
khách quan, tất yếu khi người lao động tham gia quan hệ lao động đào tạo
nghề do doanh nghiệp đầu tư đào tạo. Doanh nghiệp sẵn có ưu thế kinh tế hơn
hẳn, lại có quyền quản lý, người lao động ở vị thế yếu nên rất dễ dẫn đến việc
lạm dụng, phân biệt, đối xử bất bình đẳng, bất công với người lao động. Tuy
nhiên pháp luật cũng giới hạn sự khách quan, tất yếu này trong khuôn khổ để
tránh việc lạm dụng nó xâm phậm đến lợi ích các bên, nhất là ảnh hưởng đến
lợi ích người lao động. Doanh nghiệp có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện về trang
thiết bị, máy móc phương tiện, nhà xưởng, người hướng dẫn,..phục vụ quá
trình đào tạo hay người lao động và doanh nghiệp vẫn bình đẳng trong thực
đồng đào tạo nâng cao tay nghề là sự thỏa thuận, trong đó các bên thực hiện
sự bày tỏ và thống nhất ý chí nhằm hướng tới những lợi ích nhất định trong
việc đào tạo nâng cao tay nghề.
Trình tự giao kết hợp đồng: Trình tự giao kết hợp đồng là một quá trình
mà trong đó các bên chủ thể bày tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến
rồi đi đến thỏa thuận trong việc cùng nhau xác lập các quyền và nghĩa vụ dân
sự đối với nhau, xác định từng nội dung cụ thể của hợp đồng.
Quá trình giao kết hợp đồng chính thức được bắt đầu khi các bên đã
xác định rõ được nhu cầu giao dịch của mình. Trình tự giao kết hợp đồng
thông qua hai giai đoạn: đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng.
1.3.1. Chủ thể giao kết hợp đồng
Các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng đào tạo nâng cao tay nghề
phải tuân theo những quy định của pháp luật về điều kiện chủ thể, bao gồm
năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
18
Đối với người lao động: chủ thể tham gia ký kết hợp đồng đào tạo nâng
cao tay nghề là người lao động có mong muốn và trực tiếp tham gia xác lập,
thực hiện quan hệ pháp luật với doanh nghiệp. Người lao động tham gia quan
hệ này phải có độ tuổi, có sức khỏe phù hợp với yêu cầu của nghề đào tạo.
Dựa trên những tiêu chí nhất định, người lao động được đào tạo nâng cao tay
nghề được chia thành nhiều loại khác nhau. Theo yêu cầu, tính chất của việc
đào tạo nghề ở đây là nâng cao tay nghề, giành cho những người lao động đã
có chuyên môn, tay nghề cơ bản. Dựa theo giới tính, có thể phân thành hai
loại: đào tạo nghề cho nam và đào tạo nghề cho nữ. Dựa theo tình trạng cơ
thể, có người học nghề với thể trạng bình thường và người học nghề là người
tàn tật. Tuy nhiên trong một số ngành nghề đào tạo không được sử dụng lao
động nữ, lao động tàn tật. Người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng
đào tạo, chi phí đào tạo, chế độ hỗ trợ trong thời gian đào tạo, các tiêu chuẩn,
điều kiện cần đạt được sau đào tạo, quyền và nghĩa vụ của các bên.
1.3.4. Quyền v nghĩa vụ các bên
Quyền của các bên:
Người lao động khi tham gia ký kết hợp đồng đào tạo nghề ngoài các
quyền của người lao động khi tham gia quan hệ lao động như tự do tham gia,
hoạt động công đoàn, tham vấn tại nơi làm việc,..còn có các quyền: quyền tự
do lựa chọn tham gia đào tạo, nâng cao tay nghề, không bị phân biệt đối xử;
trong thời gian đào tạo được doanh nghiệp cung cấp chi phí đào tạo, và các
khoản hỗ trợ khác để người lao động đảm bảo duy trì cuộc sống, yên tâm học
nghề, hưởng lương dựa trên khả năng tạo ra sản phẩm, lợi ích cho doanh
nghiệp; được đào tạo, làm việc trong điều kiện bảo đảm an toàn lao động và
vệ sinh lao động; được cấp chứng chỉ sau khi đào tạo xong.
20
Doanh nghiệp ngoài các quyền của người sử dụng lao động khi tham
gia quan hệ lao động như tuyển dụng, bố trí, điều động nhân sự theo nhu cầu
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, khen thưởng, xử phạt lao động vi
phạm,…doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng đào tạo nghề với người lao động
còn có các quyền yêu cầu người lao động làm việc trong khoảng thời gian
nhất định để bù lại khoản chi phí đã bỏ ra đào tạo nâng cao tay nghề cho
người lao động, được hoàn trả chi phí đào tạo nếu người lao động vi phạm
cam kết.
Nghĩa vụ của các bên:
Nghĩa vụ cung cấp thông tin: Trước khi giao kết hợp đồng đào tạo nâng
cao tay nghề, các bên có nghĩa vụ cung cấp thông tin về việc giao kết hợp
đồng. Mọi thông tin phải đảm bảo trung thực, chính xác, khách quan.
Nghĩa vụ giao kết, thực hiện hợp đồng:Hai bên có nghĩa vụ giao kết
hợp đồng đào tạo nghề khi doanh nghiệp đầu tư kinh phí đào tạo nâng cao tay