TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN ===
===
BÙI THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
NHÓM DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG CỦA CÔN TRÙNG
NƯỚC TẠI SUỐI CHẢY QUA RỪNG TỰ NHIÊN THUỘC
XÃ NGỌC THANH, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH
VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Động vật học
HÀ NỘI - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN ===
===
BÙI THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
Sinh viên
Bùi Thị Huệ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thực tiễn đảm
bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học, trong
các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, … nào khác.
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Bùi Thị Huệ
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU ................................................................................................................
1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
4.1. Vị trí địa lý................................................................................................ 18
4.2. Địa hình.................................................................................................... 19
4.3. Địa chất – thổ nhưỡng.............................................................................. 19
4.4. Khí hậu – thủy văn.................................................................................... 20
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................. 21
3.1. Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu..............................21
3.1.1. Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera)............................................. 31
3.1.2. Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata)............................................. 32
3.1.3. Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera)................................................. 32
3.1.4. Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera)................................................ 32
3.1.5. Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera)............................................. 32
3.1.6. Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera)........................................... 33
3.1.7. Thành phần loài Hai cánh (Diptera)..................................................... 33
3.1.8. Thành phần loài Cánh vảy (Lepidoptera).............................................. 33
3.1.9. Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera)............................................. 33
3.2. Phân bố của côn trùng nước theo các đợt thu mẫu tại khu vực nghiên cứu .. 34
3.2.1. Số loài và thành phần loài côn trùng nước theo các đợt thu mẫu..........34
3.2.2. Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước theo đợt thu mẫu ở khu vực
nghiên cứu....................................................................................................... 35
3.3. Cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu....................................................................................................................... 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ..................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 43
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
nội địa. Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính
thích nghi phù hợp, nổi trội bởi số lượng loài cũng như số lượng cá thể lớn… đặc
biệt chúng là mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn [27]. Bên cạnh
việc đóng vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh thái thủy vực và là cầu
nối mật thiết với con người, một số loài côn trùng nước lại là tác nhân truyền bệnh,
tác nhân gây bệnh, tác nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp… Khác
với nhóm côn trùng trên cạn, các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả trong môi
trường nước và trong môi trường cạn. Do vậy, chúng là đối tượng lý tưởng dùng
trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hóa. Trên thế giới đã có rất
nhiều thành tựu to lớn khi nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc phân
loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa…
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã được quan tâm
nghiên cứu. Đặc biệt ở các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, những
nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước cao.
Xã Ngọc Thanh là xã vùng núi duy nhất của thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc với tổng diện tích hơn 7.732,68 ha. Địa hình chủ yếu của xã là đồi núi thấp với
độ cao so với mặt nước biển dao động từ 25m đến 300m. Khu vực nghiên cứu có
nhiều dạng thủy vực khác nhau, trong đó thủy vực dạng suối tương đối đa dạng và
phong phú. Các suối này là điều kiện rất tốt cho sự phát triển của các loài thủy sinh
vật nói chung và các loài côn trùng nước nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay các
nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khu vực này mới chỉ tập trung nghiên cứu đa
dạng sinh học về loài ở các suối thuộc Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh [30] hoặc đa
dạng sinh học về loài Phù du [4], đặc biệt những nghiên cứu về cấu trúc nhóm dinh
dưỡng chức năng của chúng ở khu vực nghiên cứu vẫn chưa được quan tâm. Để góp
phần tìm hiểu nhóm sinh vật có ý nghĩa này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đa dạng sinh học và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức năng
của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc Thanh,
thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”.
1
1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Côn trùng nước bao gồm những loài côn trùng mà có một phần hoặc cả vòng
đời sống trong môi trường nước. Chính vì sự đa dạng về thành phần loài, hình thái
cấu tạo và các đặc điểm thích nghi cùng với vai trò quan trọng của chúng đối với hệ
sinh thái và đời sống con người. Do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày
càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân
loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, các
mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg,
1984; Cummins, 1994) [27]. Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà
khoa học đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như:
McCafferty, 1983; Kawai, 1985; John, Yang và Tian, 1994; Yoon, 1995; Merritt và
Cummins, 1996; … Các nghiên cứu này đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về
côn trùng nước bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng…
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm
Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông
(Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera),
Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera).
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí còn
được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng. Dựa vào những bằng chứng
hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ
Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm [15]. Các loài thuộc bộ
Phù du được mô tả từ rất sớm. Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù
du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758). Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm
thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera [31].
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình
là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás
(1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham et al (1935) [12].
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42 họ
loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [1].
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là một
trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiện
nay. Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặc
điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes,
1976) [19].
4
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có 3 đốt
bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loài
thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu). Chúng có ăng ten dài dạng chỉ, tơ đuôi
khá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước. Hầu hết, cánh của các loài thuộc bộ Cánh
úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn. Các đặc điểm đó dùng để phân biệt chúng
với bộ Cánh màng. Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian dài sống ở nước. Các
thiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm. Thiếu trùng luôn có
tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa. Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần
ngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi. Thiếu trùng sống chủ yếu ở
nước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) [19].
Morse J. C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins (1996)
khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựng
khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại các
loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [28].
Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú. Những nghiên
cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956,
1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [22].
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,
cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm. Tuy nhiên, giai đoạn ấu trùng lại
sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [28].
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt như:
sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ. Chúng trải qua 5
lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình. Ấu trùng rời khỏi
các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng. Các loài thuộc họ này lại phân bố rất hẹp. Ở
châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một
số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [28].
Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật. Hiện nay, số loài thuộc bộ
côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng 10.000 thuộc nhóm
côn trùng nước [28]. Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dưới nước được xem
là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới. Hiện nay, các công trình nghiên cứu
về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: các
nghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969),
Nertrand (1973), Jach (1984). Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji
(1995, 1998, 2003) [29] đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học
của bộ Cánh cứng ở châu Á.
Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã định
loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài
6
và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánh
cứng [30].
Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố,
đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich
& Hortle (1989) [27]. Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975,
(1994) và Munroe (1995) [27]. Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành
lập khóa định loại cụ thể tới loài.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu côn trùng nước đã được một số tác giả đề cập
đến, những nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực phân loại học đối với các bộ phổ biến
của côn trùng nước cũng như những nghiên cứu ảnh hưởng của côn trùng nước tới
người, gia súc các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, y tế, chăn nuôi, môi trường sử
dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị. Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu
chính về côn trùng nước ở Việt Nam cho đến giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Nguyễn Xuân Quýnh và cs. (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhóm
động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa ra khoá định
loại tới họ ấu trùng Phù du [8].
Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007,
2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam. Những nghiên cứu này, đã công bố
hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và đã bổ sung danh
sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tới
loài [31] [32] [34] [35] [36] [37] [38].
Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Tam
Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ. Trong đó, có 10 loài lần đầu
tiên ghi nhận cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đó là: Platybaetis edmundsi
Muller - Liebenau, 1980; Baetiella trispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratella
albostriata Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000;
Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes
trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis cornigera
Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [13].
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Ba Vì,
Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ. Trong đó có một loài ghi nhận
lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [15]. Trong khoảng
thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một số Vườn
niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp:
Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông
Dương. Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae,
Aeshnidae và Agrionidae. Trong 139 loài, Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống
mới là Merogomphus [1].
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại các
nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng
khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [8].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng
nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ
9
Chuồn chuồn ở khu vực này. Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại thiếu
trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ phân
loại đến bậc giống [2].
Nguyễn Thị Minh Huệ (2009) trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước VQG
Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế xác định được 15 loài thuộc 11 họ. Cũng trong năm
đó, Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự khi nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại VQG
Tam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 12 họ tại khu vực này [2][6].
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về phân loại học nghiên cứu về ứng
dụng của bộ Chuồn chuồn đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Đặng Ngọc
Thanh và nhóm nghiên cứu (2002), nghiên cứu đã đưa ra những dữ liệu về ấu trùng
Chuồn chuồn dùng để dánh giá chất lượng môi trường nước.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu
trong thơi gian gần đây. Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick
(1988), Stark và cộng sự (1999) [19], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn
trưởng thành. Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số
sinh vật và tại Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên. Ngoài ra, tác giả còn kết hợp với các tài liệu có liên quan
đến khu vực nghiên cứu để đưa ra dẫn liệu về thành phần loài Cánh úp. Kết quả đã
ghi nhận được 58 loài, 21 giống, 5 họ thuộc bộ Cánh úp. Đây có thể coi là dẫn liệu
đầy đủ và cập nhật nhất về thành phần loài bộ Cánh úp tại VQG Hoàng Liên [5].
Năm 2016, tác giả cũng đã công bố về thành phần loài Cánh úp tại VQG Hoàng
Liên, đã có 27 loài thuộc 14 giống và 4 họ được ghi nhận [3].
Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu về
Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âu
như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913).
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóa
định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta. Hoàng Đức Huy (2005) mô
tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vào
giai đoạn ấu trùng [8].
Năm 2016, Nguyễn Văn Hiếu và cs. đã ghi nhận được 36 loài, 35 giống, 17
họ thuộc bộ Cánh lông, trong đó có 1 loài ghi nhận mới cho VQG Hoàng Liên, tỉnh
Lào Cai [3].
Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh
vảy và bộ Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai
cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản
mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng
với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn
11
Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [31]; Cao Thị Kim Thu,
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã
12
Hướng tiếp cận côn trùng thuỷ sinh theo nhóm chức năng dinh dưỡng (FFGs)
cung cấp nhiều thông tin về quá trình chuyển hoá vật chất hữu cơ, mối quan hệ dinh
dưỡng, các dòng năng lượng có trong dòng chảy.
1.2.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nhóm chức năng dinh dưỡng của
côn trùng thủy sinh đã được một số nhà nghiên cứu tiến hành. Tuy nhiên các nghiên
cứu mới chỉ được thực hiện tại các dòng chảy đầu nguồn và hầu hết đều tập trung
khảo sát sự đa của côn trùng thủy sinh và khái quát về đánh giá chất lượng nước
sạch [9].
Tại khu vực nghiên cứu có nhiều dạng thủy vực khác nhau, trong đó thủy
vực dạng suối tương đối đa dạng và phong phú. Các suối này là điều kiện rất tốt cho
sự phát triển của các loài thủy sinh vật nói chung và các loài côn trùng nước nói
riêng. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khu vực
này mới chỉ tập trung nghiên cứu đa dạng sinh học về loài ở các suối thuộc Trạm Đa
dạng sinh học Mê Linh [30] hoặc đa dạng sinh học về loài Phù du [4] mà chưa
nghiên cứu về nhóm côn trùng nước trong toàn bộ khu vực, đặc biệt các nghiên cứu
về phân bố và cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của chúng ở khu vực này còn ít
và tản mạn.
13
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, sử dụng mẫu côn trùng nước thu được tại suối chảy
qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; mẫu
tre, nứa và cây gỗ nhỏ và trung bình. Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, ít đá tảng lớn. Suối
nhiều mùn bã thực vật. Độ che phủ 80 - 90%.
0
’
”
Điểm 3 (Ký hiệu R3): Độ cao: 117m, tọa độ: N: 21 23 57, 3 ,
0
’
”
E:105 42 52, 6 . Độ rộng dòng nước từ 3-5m. Hai bên suối có rừng cây bụi, rừng tre,
nứa và cây gỗ nhỏ và trung bình. Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, đá tảng lớn. Suối nhiều
mùn bã thực vật. Độ che phủ 90 - 95%.
0
’
”
0
’
”
Điểm 10 (Ký hiệu R10): Độ cao: 59m, tọa độ: N: 21023’10,3”,
E:105042’45,0”. Độ rộng của suối từ 3 - 4m. Hai bên suối có rừng cây gỗ nhỏ và gỗ
lớn. Nền đáy chủ yếu là đá tảng, đá nhỏ. Suối nhiều mùn bã thực vật. Độ che phủ 70
- 90%.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Thu mẫu ngoài tự nhiên được tiến hành theo phương pháp của Merritt
Cummins (1996) [27], Morse et al. [28] (1994), Nguyen (2003) [33].
Trước khi thu mẫu, tiến hành xác định tọa độ và độ cao của điểm thu mẫu
bằng thiết bị GPS MAP 78 của Đức.
Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand
net). Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber Sample (diện tích thu mẫu
là 0,1 m2; kích thước mắt lưới 250µm).
Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân
đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước). Ở nơi có nhiều bụi cây
dùng vợt tay để thu mẫu. Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được
thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu.
Mẫu định tính được thu ở các điểm bất kì, ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh
dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ
hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay.
Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 5 mẫu. Diện tích thu mẫu là
0,1m2. Như vậy, tổng diện tích thu mẫu cho mẫu định lượng tại mỗi điểm là 0,5m 2.
Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất. Do các cá thể côn trùng
nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại
thực địa. Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 80 0, ghi etiket đầy đủ và
đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm Động vật,
Khoa Sinh - Kỹ Thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
3.2. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay thêm ít nước. Dùng
Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon – Weiner là
số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài. Do vậy, số
lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài
càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác định thông qua
hàm số Shannon – Weiner.
Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau
đây:
Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốt
Nếu chỉ số đa dạng từ 1 – 3: ĐDSH khá
Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém và rất kém
Nguồn: Nguyễn Huy Chiến, 2007 [1]
17