VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN HOÀN
KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN HOÀN
KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8. 38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG
HÀ NỘI, năm 2019
tôi hoàn thành luận văn này với kết quả tốt nhất.
Tuy nhiên, với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, luận
văn này không thể tránh được những hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự
chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến
thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 8 năm 2019
Tác giả
Lê Văn Hoàn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ............................................................. 7
1.1. Kê biên tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự ...........................................7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự ...........................................7
1.1.2. Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự .................................................9
1.1.3. Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục kê biên tài sản ...................10
1.2. Khái quát chung về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự................199
1.2.1. Bán đấu giá tài sản ...............................................................................199
1.2.2. Bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự .............................................22
1.2.3. Nội dung pháp luật về bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự .........23
1.2.4. Trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự .............28
Chương 2: THỰC TIỄN KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN 10,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ........................................................................................ 30
2.1. Đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Quận 10, thành phố Hồ Chí
Minh ......................................................................................................................30
Hồ Chí Minh .........................................................................................................69
3.2.1. Nâng cao năng lực cho Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành
án dân sự trong thực hiện kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án ...........69
3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện các nội dung phối hợp và thực hiện tốt cơ chế phối
hợp liên ngành trong thi hành án dân sự .........................................................69
3.2.3. Tranh thủ sự chỉ đạo, phối hợp, hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa
phương trong kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án ...............................70
3.2.4. Giám sát chặt chẽ việc bán đấu giá tài sản kê biên của các tổ chức bán
đấu giá ..............................................................................................................70
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phán quyết của Tòa án được chấp hành phần lớn thông qua hoạt động thi hành
án, đã tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân dân đối với tính nghiêm minh của
pháp luật. Do vậy, hoạt động thi hành án dân sự có một ý nghĩa hết sức quan trọng,
trực tiếp góp phần giữ vững kỷ cương phép nước, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Đảng, Nhà nước, các tổ chức và công dân.
Kê biên tài sản của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành án
dân sự quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2018 (được sửa đổi, bổ
sung năm 2014), theo đó Chấp hành viên tiến hành các trình tự, thủ tục theo quy định
tiến hành kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành để thi hành các nghĩa vụ của
người phải thi hành án bằng tiền trong các bản án, quyết định của Tòa án [32, Tr.24].
Bán đấu giá là một trong những hình thức mua bán tài sản, hàng hóa phổ biến
trong nền kinh tế thị trường. Thông qua bán đấu giá, người mua và người bán có thể
mua và bán được tài sản, hàng hóa. Đấu giá tài sản là một hoạt động mang tính dịch
vụ của tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc của Hội đồng bán đấu giá tài sản Nhà
nước theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau
hành án phát sinh ngày càng tăng về số vụ việc và giá trị thi hành, người phải thi hành
án luôn tìm cách trì hoãn, thậm chí chống đối thi hành án ngày càng diễn biến phức
tạp; đòi hỏi của xã hội và người dân đối với công tác thi hành án ngày càng cao; người
phải thi hành án lợi dụng các quyền khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đối với tài sản để
trốn tránh, kéo dài thi hành án gây bức xúc cho người được thi hành án ngày càng
phổ biến và đa dạng; ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân
và doanh nghiệp chưa cao, có tâm lý chạy theo đám đông, gây khó khăn cho cơ quan
thi hành án và Chấp hành viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; một số cơ quan,
tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong phối hợp, hỗ trợ
thi hành án; một số Chấp hành viên, cán bộ thi hành án còn hạn chế về năng lực, kỹ
năng tác nghiệp, lơ là, chủ quan trong quá trình tổ chức thi hành án nên hiệu quả chưa
cao. Do đó, đòi hỏi khách quan phải tiếp tục có các đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn
thiện thể chế; đề xuất các giải pháp để khắc phục các hạn chế, tồn tại, nâng cao hiệu
2
quả của công tác thi hành án dân sự nói chung và thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản
trong thi hành án dân sự nói riêng.
Vì những lý do trên tôi chọn đề tài: “Kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp
luật thi hành án dân sự từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận
văn tốt nghiệp. Việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về kê biên, bán đấu giá
tài sản trong thi hành án dân sự để nâng cao năng lực, kỹ năng trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cụ thể và khả thi
góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, đồng thời khắc phục những khó
khăn, hạn chế, bất cập trong hoạt động kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án
dân sự hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cưỡng chế kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự đã có một số
tác giả nghiên cứu:
pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác kê biên, bán đấu giá tài sản để thi
hành án dân sự tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
cơ sở lý luận nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về kê
biên, bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Luận văn
cũng luận giải những cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục
liên quan đến việc kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
Nhiệm vụ nghiên cứu: trên cơ sở phân tích và đánh giá những vấn đề lý luận,
pháp lý về kê biên, bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật thi hành án dân
sự. Từ đó nhận diện, đánh giá những thuận lợi, khó khăn, những hạn chế, bất cập của
các quy định pháp luật từ thực tiễn vận dụng, áp dụng tại Chi cục Thi hành án dân sự
Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để
góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng, đảm bảo đúng quy định của pháp luật trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự; kiến
nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến kê biên, bán đấu giá
tài sản trong thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân
sự và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là hoạt động kê biên, bán đấu giá tài sản
trong thi hành án dân sự từ thực tiễn Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố
Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: về nội dung: nghiên cứu phần lý luận chung về kê biên,
bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự; phần thực tiễn áp dụng pháp luật về kê
biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án và kiến nghị hoàn thiện, nâng cao hiệu quả;
về chủ thể, địa phương áp dụng: Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ
Chí Minh.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kê biên, bán đấu giá tài sản theo pháp
luật thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực tiễn kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại
Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao
hiệu quả kê biên, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại Chi Cục Thi hành
án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ
TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Kê biên tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự
1.1.1.1. Khái niệm về thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là hoạt động của hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự,
có chức năng tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án, theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, nhằm khôi phục các quyền và
lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và người dân. Theo quy định của luật thi
hành án dân sự, thì các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được cơ quan thi
hành án dân sự tổ chức thi hành bao gồm:
“- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
- Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
- Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài
nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
- Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
luận đồng tình, ủng hộ thì đến giai đoạn thi hành án việc thi hành sẽ được dễ dàng,
nhanh chóng. Trái lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án được tuyên không công
bằng, toàn diện, khách quan, thiếu tính khả thi sẽ gây khó khăn, cản trở cho việc thi
hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Nếu việc thi
hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét
xử, góp phần củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử, tăng cường niềm tin của
nhân dân đối với các cơ quan nhà nước.
Quá trình thi hành án dân sự là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về tài
sản, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó các trình tự, thủ tục về quá trình thi
hành án dân sự cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục
tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền và lợi ích của con người, của công dân.
8
1.1.2. Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Kê biên tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế bắt buộc của cơ quan
Thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự
phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo Bản án, quyết định của
Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành
án mà không tự nguyện thi hành.
1.1.2.1. Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản
Để áp dụng được biện pháp kê biên tài sản, cần phải căn cứ các quy định của
Luật Thi hành án dân sự, gồm:
- Bản án, quyết định của Tòa án: Bản án, quyết định của Tòa án là một trong
những căn cứ bắt buộc, không thể thiếu để thực hiện biện pháp kê biên tài sản. Điều
này được quy định tại khoản 1, điều 70 của Luật Thi hành án dân sự về căn cứ cưỡng
chế: “bản án, quyết định”. Chấp hành viên phải dựa trên cơ sở bản án, quyết định
của Tòa án để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản.
- Quyết định thi hành án: Quyết định thi hành án là văn bản do Thủ trưởng cơ
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản phải căn cứ vào bản án,
quyết định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về
mặt chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức Chấp hành viên.
1.1.2.3. Căn cứ áp dụng biện pháp kê biên tài sản
Khi tổ chức thi hành một bản án liên quan đến kê biên tài sản của người phải
thi hành án, thì căn cứ để tổ chức cưỡng chế thi hành án phải theo quy định chung,
trong đó hồ sơ thi hành án phải có: Bản án quyết định, đơn yêu cầu thi hành án, Quyết
định thi hành án, các văn bản tài liệu xác minh quá trình tổ chức thi hành án và cuối
cùng là Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên
kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
1.1.3. Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục kê biên tài sản
1.1.3.1. Ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án
Thứ nhất, thẩm quyền ra quyết định kê biên tài sản
Theo quy định tại khoản 5 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự, thì thẩm quyền
này thuộc về Chấp hành viên được phân công tổ chức vụ việc.
10
Thứ hai, về thời điểm ra quyết định kê biên tài sản
Theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án dân sự thì hết thời gian tự nguyện
thi hành án (hoặc chưa hết thời hạn tự nguyện nhưng thuộc trường hợp quy định tại
khoản 2 Đều 45 Luật Thi hành án dân sự) và xác định người phải thi hành án có tài
sản thuộc diện được kê biên để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tự nguyện thi hành án
là 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
Việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì Chấp
hành viên phải chứng minh người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài
sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Thứ ba, điều kiện để ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản
Người phải thi hành án được xác định là có điều kiện thi hành án khi người đó
Theo quy định tại khoản 3, Điều 71 Luật Thi hành án dân sự, khi ra quyết
định kê biên tài sản của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải có căn cứ pháp
lý để xác định đấy là tài sản thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án. Ví dụ:
đối với tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử
dụng tài sản như quyền sử dụng đất, ô tô, mô tô, tàu thuyền…thì căn cứ pháp lý là
giấy chứng nhận quyền sử dụng, sở hữu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho
người phải thi hành án [32, Tr.15].
- Phải lựa chọn tài sản kê biên tương ứng với nghĩa vụ thi hành án.
Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/NĐ-CP ngày
18/07/2015 của Chính phủ thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nói chung, biện pháp
kê biên tài sản của người phải thi hành án nói riêng cần đảm bảo tài sản bị kê biên
phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. Do
đó, Chấp hành viên phải lựa chọn tài sản kê biên ít nhất là lớn hơn hoặc bằng nghĩa
vụ thi hành án và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một
tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó
không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản
thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp kê biên toàn bộ tài sản đó để đảm
bảo thi hành án [14, Tr.6].
- Về thứ tự lựa chọn tài sản kê biên
Trường hợp kê biên tài sản chung của người phải thi hành án với người khác:
12
Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 24 Nghị định số 62/NĐ-CP ngày 18/07/2015
của Chính phủ, thì: “Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản
chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản
khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự” [14, tr.21]. Như
vậy, Chấp hành viên chỉ lựa chọn việc kê biên tài sản chung của người phải thi hành
án với người khác là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có
căn cứ pháp lý chứng minh người phải thi hành án không có tài sản khác đủ để thi
“1. Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc
phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan,
tổ chức.
2. Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng yêu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia
đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia
đình;
c) Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương
tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;
e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình.
3. Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực,
thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc
các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng,
chống cháy, nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường” [32, tr.77].
Việc kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp. Theo quy định tại Điều 90 Luật
Thi hành án dân sự; khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của
Chính phủ; Điều 4 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC
14
thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền kê biên tài sản đã cầm cố, thế chấp trong một
số trường hợp như: người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản
nhưng không đủ để thi hành án thì Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của
đề xuất cả nội dung cưỡng chế kê biên tài sản trong trường hợp cần huy động lực
lượng cưỡng chế để Thủ trưởng cơ quan thi hành án trao đổi, đề nghị các cơ quan liên
quan cử người tham gia phối hợp, hỗ trợ việc cưỡng chế.
Quyết định kê biên tài sản là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong
trường hợp người phải thi hành án có nhiều nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản
không đủ để thi hành án. Mặt khác, việc chậm ra quyết định cưỡng chế có thể dẫn
đến trường hợp người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản gây khó khăn cho việc
thi hành án. Do đó, ngay sau khi có kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án
có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên phải
báo cáo, đề xuất hướng xử lý tài sản cho Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, đồng
thời ban hành quyết định kê biên, xử lý tài sản.
Thứ sáu, về nội dung quyết định kê biên tài sản.
Nội dung quyết định kê biên, xử lý tài sản được thực hiện theo Mẫu số B26 và
C26-THA được ban hành theo Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của
Bộ Tư pháp.
1.1.3.2. Tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch cưỡng chế kê biên tài sản
Khi cưỡng chế kê biên tài sản, thành phần tham gia ngoài cơ quan thi hành án,
còn có các cơ quan liên quan như: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức kê biên, các
cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, nhà ở, công an, cứu thương, cứu hỏa…tham gia
để đảm bảo việc cưỡng chế được thành công, an toàn và hiệu quả.
Thứ hai, thông báo về việc kê biên tài sản
Chấp hành viên phải tiến hành thủ tục thông báo về việc kê biên tài sản cho
người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan, biên bản thông báo được thực hiện theo mẫu số D19 Thông tư số
01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 [4, Tr.7]. Theo quy định tại Điều 39 Luật Thi hành
án dân sự về thông báo thi hành án thì thông báo việc kê biên tài sản phải được gửi
đến cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc kê biên theo quy định trong thời
16
17
kê biên tài sản, khi kê biên tài sản Chấp hành viên phải thực hiện kiểm tra danh sách,
lực lượng tham gia theo kế hoạch; kiểm tra các đương sự; công bố quyết định cưỡng
chế kê biên tài sản, chủ trì yêu cầu các thành phần tham gia cưỡng chế vào vị trí thực
hiện nhiệm vụ đã được phân công
Thứ năm, lập biên bản kê biên tài sản.
Khi kê biên tài sản phải lập biên bản kê biên. Việc lập biên bản có thể do Chấp
hành viên hoặc cán bộ thi hành án lập. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê
biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên
bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên;
mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm
chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế,
Chấp hành viên và người lập biên bản. Đối với biên bản kê biên quyền sử dụng đất,
tài sản gắn liền với đất thì biên bản phải ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất
được kê biên và có chữ ký của những người tham gia. Trong trường hợp người phải
thi hành án không chịu ký vào biên bản kê biên thì phải ghi rõ lý do trong biên bản
và mời người làm chứng ký tên vào biên bản.
Thứ sáu, giao người bảo quản tài sản kê biên.
Trên cơ sở kết quả kê biên, Chấp hành viên lựa chọn các hình thức giao bảo
quản tài sản kê biên theo quy định tại Điều 58 Luật Thi hành án dân sự. Khi giao tài
sản cho người phải thi hành án hoặc người thân thích của họ bảo quản, Chấp hành
cần phải thông báo cho người nhận bảo quản biết trách nhiệm của họ trong việc bảo
quản tài sản và họ phải có trách nhiệm để tổ chức thẩm định giá, người đăng ký mua
tài sản được xem tài sản. Việc giao tài sản cho cá nhân hay tổ chức nào bảo quản chờ
xử lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bán đấu giá và giao tài sản cho người mua
trúng đấu giá sau này, vì thế Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự phải cân
nhắc hiệu quả của công việc mới quyết định giao cho cá nhân hay tổ chức nào bảo
có nhiều người cùng tham gia trả giá và người nào trả giá cao nhất là người mua được
tài sản đó. Với cách hiểu này, bán đấu giá tài sản đã được hiểu là một chế định pháp
luật dân sự - thương mại bao gồm các quy phạm pháp luật về đấu giá. Các quy phạm
19