ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG
TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY XÃ KIM THÁI,
HUYỆN VỤ BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG
TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY XÃ KIM THÁI,
HUYỆN VỤ BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 03 09
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Hữu Thụ
Hà Nội - 2018
1.1. Khái quát chung về tín ngƣỡng thờ Mẫu ................................................... 15
1.1.1. Khái niệm tín ngƣỡng thờ Mẫu ........................................................... 15
1.1.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của tín
ngƣỡng thờ Mẫu tại vùng đồng bằng Bắc Bộ ................................................ 20
1.1.3. Nghi lễ thờ cúng của tín ngƣỡng thờ Mẫu tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ.
........................................................................................................................ 30
1.2. Khái quát về Phủ Dầy xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định........ 38
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY
XÃ KIM THÁI, HUYỆN VỤ BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY. MỘT
SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ........................................................... 49
2.1. Thực trạng tín ngƣỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy ............................................. 49
2.1.1. Niềm tin của nhân dân vào tín ngƣỡng thờ mẫu.................................. 49
2.1.2. Thực hành tín ngƣỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy ....................................... 61
2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với tín ngƣỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy. ................ 73
2.2.1. Xu hƣớng vận động.............................................................................. 73
2.2.2. Giá trị và hạn chế ................................................................................. 78
2.2.3. Một số kiến nghị nhằm phát huy giá trị tích cực và hạn chế biểu hiện
tiêu cực của tín ngƣỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy hiện nay ................................ 87
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 98
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 107
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngƣỡng, tôn giáo tồn tại lâu đời theo
chiều dài lịch sử của dân tộc. Gia đình ngƣời Việt nào cũng có bàn thờ tổ tiên;
làng xã nào cũng có đền, miếu thờ Thành hoàng, các anh hùng dân tộc hay thờ
tinh trong đó chủ nghĩa yêu nƣớc cao đẹp.
Tuy nhiên, do bản chất là một tín ngƣỡng dân gian đƣợc truyền khẩu, không
có hệ thống kinh sách, giáo lý, giáo luật, nguồn thông tin phổ cập còn hạn chế
nên nhân dân cũng nhƣ một số con nhang đệ tử chƣa có hệ thống tri thức mạch
lạc về tín ngƣỡng thờ Mẫu dẫn đến nhiều suy nghĩ lệch lạc sai sự thật. Do đó, họ
có những hành vi ứng xử không chuẩn mực hoặc nhiều ngƣời cố tình lợi dụng
những “lỗ hổng” đó để cung cấp kiến thức sai lệch về tín ngƣỡng “thƣơng mại
hóa tín ngƣỡng” nhằm lợi dụng lòng tin của nhân dân để trục lợi cá nhân.
Để giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tâm linh độc đáo của tín
ngƣỡng thờ Mẫu, tránh yếu tố dị đoan, cần có cái nhìn toàn diện, khách quan,
khoa học về tín ngƣỡng này. Việc nghiên cứu vấn đề tín ngƣỡng cụ thể là tín
ngƣỡng thờ Mẫu giúp chỉ ra đƣợc cơ sở hình thành, thực trạng và xu hƣớng vận
động của nó giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về tín ngƣỡng thờ Mẫu để có thể
định hƣớng đúng đắn các hoạt động của tín ngƣỡng thờ Mẫu.
Phủ Dầy – quần thể di tích lịch sử thuộc địa phận xã Kim Thái, huyện Vụ
Bản, tỉnh Nam Định là một trong những trung tâm lớn nhất cả nƣớc về tín
3
ngƣỡng thờ Mẫu, là nơi làm nên nét khác biệt của tín ngƣỡng này với cƣ dân các
địa phƣơng khác ở miền Nam, miền Trung... Điều này đã khắc sâu, in đậm bản
sắc văn hóa, tâm linh ngƣời Việt trong bức tranh văn hóa đặc sắc của nhân loại.
Bên cạnh đó, Phủ Dầy còn có những điều kiện lịch sử, tự nhiên, kinh tế, văn hóa
– xã hội thuận lợi để tín ngƣỡng thờ Mẫu phát triển. Các triều đại phong kiến đã
để lại nhiều dấu tích lịch sử trên vùng đất Thiên Trƣờng nên vùng đất này chính
là nơi lƣu giữ nhiều nhất các huyền thoại, truyền thuyết và di tích lịch sử liên
quan trực tiếp đến tín ngƣỡng thờ Mẫu.
Vì vậy, để có cái nhìn khái quát, khách quan nhất về tín ngƣỡng thờ Mẫu,
tôi đã lựa chọn Phủ Dầy - trung tâm thờ Mẫu vùng Đồng bằng Bắc Bộ là địa bàn
để nghiên cứu với đề tài “Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy xã Kim Thái,
Thánh Mẫu Liễu Hạnh và ba vị còn lại trong Tứ Bất tử (Thánh Gióng, Chử Đồng
Tử, Sơn Tinh).
Năm 1992, Ngô Đức Thịnh xuất bản sách “Hát văn”, là cuốn sách đầu tiên
đặt cơ sở cho việc nghiên cứu đạo Tam phủ, Tứ phủ và nghi lễ Lên đồng. Trong
thời gian này, Đặng Văn Lung cũng đã xuất bản sách “Tam Tòa Thánh Mẫu”.
Năm 1996, Ngô Đức Thịnh xuất bản sách “Đạo Mẫu ở Việt Nam” và tái
bản vào năm 2009, 2011. Tác phẩm đã cung cấp cho ngƣời đọc một cái nhìn
tổng quan hoàn chỉnh nhất về tín ngƣỡng thờ Mẫu.
5
Năm 2000, Nguyễn Chí Bền xuất bản cuốn “Văn hoá dân gian Việt Nam”
giới thiệu khái quát kho tàng văn hoá cổ truyền của Việt Nam trong đó có tín
ngƣỡng thờ Mẫu.
Cuốn “Nữ thần và các Thánh Mẫu Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh xuất bản
năm 2002 thể hiện một cách khái quát về nguồn gốc, về sự tích của phần lớn các
Thánh Mẫu đang đƣợc thờ phụng ở Việt Nam.
Năm 2004, Đặng Văn Lung xuất bản cuốn “Văn hóa Thánh Mẫu” đƣa ra
các tƣ liệu về Mẫu dƣới góc độ văn học, lịch sử. Cuốn “Đạo Mẫu và các hình
thức Shaman trong các tộc ngƣời ở Việt Nam và Châu Á” cũng đƣợc Ngô Đức
Thịnh xuất bản vào năm này.
Năm 2008, Ngô Đức Thịnh xuất bản sách “Lên đồng hành trình của thần
linh và thân phận”, Vũ Ngọc Khánh xuất bản sách “Tục thờ Đức Mẫu Liễu
Hạnh, Đức Thánh Trần”.
Hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa thờ Nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và văn
hóa – Bản sắc và giá trị” tổ chức vào tháng 9 năm 2012 tại Nam Định tập trung
vào các vấn đề về nguồn gốc, lịch sử hình thành, phát triển, đặc trƣng và ý nghĩa
của văn hóa thờ Mẫu ở Châu Á và đặc biệt là ở Việt Nam.
Ngày 6/1/2016, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa
7
Luận án của Nguyễn Ngọc Mai, “Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị”. Thông
qua nghi lễ lên đồng, hầu bóng, tác giả khẳng định nghi lễ lên đồng là một hiện
tƣợng văn hóa phức tạp, trong lên đồng ở đồng bằng Bắc Bộ xƣa có hội tụ đủ cả
các yếu tố nhƣ: Đạo giáo (phép thuật, ảo thuật để trừ tà), Mật tông (bùa chú, phù
chú…), khả năng tâm linh.
Luận án của Nguyễn Hữu Thụ với đề tài “Khía cạnh triết học trong tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” nghiên cứu cơ sở hình
thành tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ với tƣ cách là
một hình thái ý thức xã hội. Phân tích những quan niệm trong sự giải thích về thế
giới tự nhiên, con ngƣời, mối quan hệ giữa con ngƣời với thế giới tự nhiên và với
xã hội trong tín ngƣỡng thờ Mẫu. Khuynh hƣớng vận động của tín ngƣỡng thờ
Mẫu của ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay.
Các công trình trên đã cung cấp nguồn tri thức đầy đủ về lịch sử, chủ thể,
đối tƣợng cũng nhƣ nghi lễ và tổ chức của tín ngƣỡng thờ Mẫu nói chung, tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt vùng đồng băng Bắc bộ nói riêng. Theo đó, tín
ngƣỡng thờ Mẫu gồm 3 lớp thờ: thờ nữ thần, thờ Mẫu thần và cuối cùng là thờ
Tam phủ - Tứ phủ với sự xuất hiện của hình tƣợng Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Trong số các nghi lễ của tín ngƣỡng thờ Mẫu thì nghi lễ hầu đồng là cơ bản nhất.
Trong nghi lễ hầu đồng thì chủ thể là các ông đồng bà đồng, đối tƣợng mà ông
đồng bà đồng hƣớng đến chính là các vị thần linh trong Tam tòa Thánh Mẫu và
Tứ phủ công đồng. Tín ngƣỡng thờ Mẫu đƣợc tín đồ chú ý nhiều nhất là vào dịp
tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ.
2.2. Những công trình về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Dầy.
8
truyền ở cả ba miền: Bắc, Trung, Nam. Đặc biệt, bài viết của Ngô Đức Thịnh về
lễ hội ở Phủ Dầy, Nam Định đã tái hiện chi tiết các bƣớc của một lễ hội truyền
thống đồng thời diễn giải về nguồn gốc làm nảy sinh các nghi lễ đó thông qua
các thần tích hành trạng của Mẫu Liễu Hạnh. Qua đây, ông cũng bƣớc đầu chỉ ra
những ảnh hƣởng, tác động của lễ hội tới đời sống cộng đồng.
Năm 2001, hội thảo quốc tế “Đạo Mẫu và lễ hội Phủ Dầy” đƣợc tổ chức tại
Hà Nội do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh
Nam Định tổ chức với sự tham gia của hơn 100 nhà nghiên cứu.
Hồ Đức Thọ xuất bản cuốn “Huyền tích Thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản
văn hoá - lễ hội Phủ Dầy” năm 2004 đã giới thiệu khái quát về lễ hội Phủ Dầy ở
Nam Định, tác giả coi “hội Phủ Dầy tháng ba là lễ hội truyền thống, là sinh hoạt
văn hóa dân gian trữ tình đáng trân trọng”.
Năm 2005, “Nếp cũ - Hội hè đình đám” (quyển thƣợng) của Toan Ánh đề
cập đến các lễ hội của Việt Nam đặc biệt là lễ hội thờ Mẫu ở cả ba miền Bắc Trung - Nam. Lễ hội Phủ Dầy đƣợc tác giả Toan Ánh đề cập khá chi tiết từ lịch
sử, thần tích, hành trạng tới công tích của thần đến nghi thức tổ chức lễ hội Phủ
Dầy.
Năm 2007, Bùi Văn Tam xuất bản cuốn “Phủ Dầy và tín ngƣỡng Mẫu Liễu
Hạnh” đã trình bày đầy đủ về lƣợc sử Mẫu Liễu Hạnh và sự thờ phụng ở Phủ
Dầy, các di tích trong quần thể Phủ Dầy, lễ hội Phủ Dầy.
10
Năm 2008, Ban quản lý di tích và danh thắng Nam Định xuất bản cuốn “Di
tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định” giới thiệu về các di tích của tỉnh Nam Định
trong đó có quần thể di tích Phủ Dầy.
Nguyễn Duy Hùng năm 2013 đã công bố bài viết “Tín ngƣỡng thờ Mẫu và
lễ hội Phủ Giày” trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 348, tr16-19.
Năm 2016, Nguyễn Duy Hùng công bố bài viết "Những nhân tố tác động
đến lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ ở Phủ Dầy" trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, (381),
Vụ Bản, tỉnh Nam Định hiện nay, đề xuất những kiến nghị nhằm phát huy những
giá trị tích cực và hạn chế những biểu hiện tiêu cực của nó.
3.2. Nhiệm vụ
Xác định một số vấn đề lý thuyết về tín ngƣỡng thờ Mẫu: khái niệm, nguồn
gốc, bản chất và cơ sở hình thành tín ngƣỡng thờ Mẫu vùng Đồng bằng Bắc Bộ.
Khảo sát, đánh giá về thực trạng niềm tin và việc thực hành tín ngƣỡng thờ
Mẫu tại cái nôi của tín ngƣỡng trong giai đoạn hiện nay.
Chỉ ra những vấn đề đang đặt ra và đề xuất khuyến nghị nhằm bảo tồn, phát
huy những giá trị và hạn chế những biểu hiện tiêu cực của tín ngƣỡng ở Nam
Định nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
12
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là niềm tin và sự thực hành tín ngƣỡng
thờ Mẫu tại Phủ Dầy.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Phủ Dầy tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định.
Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về tín ngƣỡng thờ Mẫu tại Phủ
Dầy xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong thời điểm hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đƣờng lối, chính sách pháp luật của Đảng
cộng sản và Nhà nƣớc Việt Nam về tín ngƣỡng, tôn giáo.
Luận văn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: phƣơng pháp duy
vật biện chứng, phƣơng pháp duy vật lịch sử, phƣơng pháp logic lịch sử, phƣơng
pháp khảo sát, phƣơng pháp phân tích, mô tả, nghiên cứu tài liệu, điền dã, ...
Trong đó, luận văn sử dụng phƣơng pháp điền dã thực tế: quan sát, ghi chép
trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong tín
ngƣỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ƣu thế. Chính bởi sự coi trọng thiên
nhiên, đề cao yếu tố âm tính và quan niệm “xét về bản chất tự nhiên và tính nữ
có những điểm chung cơ bản. Đó là: sản sinh, bảo trữ và che chở” [62, tr 386]”
nên “ngƣời Việt có xu hƣớng nữ tính hóa các hiện tƣợng tự nhiên, biến các thần
tự nhiên thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần là Mẹ, Mẫu” [57, tr12].
Với nền tảng là nền nông nghiệp lúa nƣớc cùng chế độ gia đình tiểu nông
phụ quyền sinh sống trong môi trƣờng làng xã, tục thờ Mẫu phát triển từ hình
thức thờ cúng rời rạc các Nữ thần, đến các Mẫu thần và dần quy tụ, thống nhất
thành một hệ thống hoàn chỉnh thờ Tam phủ - Tứ phủ phản ánh tƣơng đối đầy đủ
nhận thức của con ngƣời cũng nhƣ tiến trình lịch sử của xã hội.
Về cách gọi tục thờ Mẫu giới nghiên cứu có nhiều quan niệm khác nhau.
Trong đó khái quát thành ba tên gọi nhƣ sau:
15
Thứ nhất, tục thờ Mẫu đƣợc gọi là tín ngƣỡng thờ Mẫu và chỉ là một loại
hình tín ngƣỡng dân gian. Bởi “hình tƣợng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại
hình tín ngƣỡng dân gian chứ không phải là một tôn giáo chính thống” [76; tr 5354], “tín ngƣỡng này sinh từ thực tế cuộc sống cộng đồng con ngƣời ý thức về
một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con ngƣời ấy tin theo, tôn thờ lễ bái,
cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin
tín ngƣỡng thiêng liêng ấy” [14, tr 22].
Bên cạnh đó, có ý kiến lại cho rằng thờ Mẫu là một Đạo. GS. Ngô Đức
Thịnh cho rằng ““Đạo” ở đây theo ý nghĩa là con đƣờng, cách thức đƣa con
ngƣời đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên” [61, tr17]. Đồng nhất với
quan điểm của GS. Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Đăng Duy cũng kết luận thờ Mẫu là
một “đạo” nhƣng “ở đây cũng vẫn hiểu đạo thờ Mẫu chƣa phải là tôn giáo vì nó
không có tín điều giáo lý, giáo chủ, đạo là con đƣờng, cách theo” [14, tr141]
Thứ ba, có ý kiến lại cho rằng “Đạo Mẫu trong quá trình nảy sinh, vận động
Căn cứ vào những điều trên thì trong luận văn này tác giả gọi tục thờ Mẫu
với tên gọi là tín ngƣỡng thờ Mẫu. Tín ngƣỡng thờ Mẫu là một loại hình tín
ngƣỡng dân gian bản địa là hệ quả của các quan hệ xã hội đƣợc hình thành trong
quá trình lịch sử - văn hóa bắt nguồn từ sự sùng bái tự nhiên, Nữ thần trải qua
quá trình lịch sử tín ngƣỡng có xu hƣớng kế thừa, tiếp thu và giao lƣu tiếp biến
hƣớng đến phát triển thành một tôn giáo bản địa của dân tộc Việt Nam phản ánh
tƣơng đối hoàn chỉnh nhận thức của con ngƣời về môi trƣờng tự nhiên và xã hội.
17
“Mẫu” có gốc từ Hán Việt, trong tiếng việt nghĩa là mẹ, mụ, mế, má dùng
để chỉ đấng sinh thành ra mỗi chúng ta, là tiếng xƣng hô của ngƣời con đối với
ngƣời sinh ra mình. Ngoài ý nghĩa xƣng hô thông thƣờng, từ Mẫu và Mẹ còn bao
hàm ý nghĩa tôn vinh ví dụ nhƣ Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ,
... là các vị thần linh gắn với các hiện tƣợng thiên nhiên, vũ trụ có chức năng
sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con ngƣời nhƣ trời, đất, sông nƣớc,
rừng núi, ... Mẫu còn để chỉ sự sinh sôi, nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn
vật nhƣ những danh xƣng: Mẹ Cây, Mẹ Đất, Mẹ Lúa, Mẹ Chim, Mẹ Cá, ... Nhƣ
vậy, Mẫu trong tín ngƣỡng thờ Mẫu chỉ sự đùm bọc, che chở, bao dung, độ
lƣợng, nuôi dƣỡng, sự sinh sôi nảy nở và không mang ý nghĩa là đấng sáng thế
nhƣ những tôn giáo khác.
Tín ngƣỡng thờ Mẫu “có thể là tín ngƣỡng sớm nhất của con ngƣời Việt
trƣớc khi du nhập tam giáo Phật, Nho và Đạo” [20, tr145]. Ngƣời ta chƣa biết
chính xác tín ngƣỡng có từ khi nào nhƣng một số nhà nghiên cứu cho rằng “tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ III hoặc thứ II
trƣớc công nguyên. Tín ngƣỡng thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc từ lúc ngƣời
Việt khai thác đồng bằng Bắc Bộ” [75, tr49]. Tín ngƣỡng bắt đầu từ tục thờ thần
tự nhiên có từ thời nguyên thủy; qua các giai đoạn lịch sử, chịu sự chi phối của
đời sống kinh tế - chính trị - xã hội dần phát triển thành tục thờ Nữ thần. Ngay từ
sống cơ cực. Lúc này ngƣời phụ nữ là tầng lớp bị vùi dập, chà đạp nhiều nhất.
Họ có xu hƣớng tìm đến tín ngƣỡng dân gian, tôn giáo mong đƣợc che chở, giải
thoát. Việc hình thành thêm Địa Cung Thánh Mẫu (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) đã
19
thỏa mãn đƣợc niềm mong mỏi của nhân dân lúc bấy giờ. Tôn thờ thêm Thánh
Mẫu Liễu Hạnh chính là sự phản kháng của nhân dân lao động nói chung và
ngƣời phụ nữ nói riêng đối với chế độ phong kiến đầy bất công. Sự xuất hiện của
Thánh Mẫu Liễu Hạnh đại diện cho con ngƣời đã hoàn thiện hệ thống Mẫu của
tín ngƣỡng thờ Mẫu. GS. Ngô Đức Thịnh đã đƣa ra một mốc thời gian muộn
nhất cho sự ra đời của hình thức thờ Mẫu Tam phủ “có lẽ muộn nhất cũng là từ
thời Lý” [60, tr.18] và “cũng không rõ từ lúc nào mà Tam phủ biến thành Tứ
phủ” [60, tr.17]. Bên cạnh đó, việc Tam phủ chuyển lên Tứ phủ còn thể hiện lối
tƣ duy trong dân gian, sự bổ sung đầy đủ về vũ trụ thống nhất thành bốn miền do
bốn vị Thánh Mẫu cai quản.
Tín ngƣỡng thờ Mẫu từ rất sớm đã phát triển thành một hệ thống tín ngƣỡng
mang tính tầng bậc, thứ lớp và trở thành tín ngƣỡng đƣợc lƣu hành rộng rãi.
Theo thống kê của Viện Hán Nôm trong tập “Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam”
thì trong tổng số 1000 di tích văn hóa đã có tới 250 di tích thờ cúng các vị thần
hay danh nhân là nữ” [70, tr 6], chiếm ¼ tổng số di tích văn hóa trên cả nƣớc.
Hiện nay cả nƣớc có khoảng 7000 cơ sở thờ tự liên quan đến thờ Mẫu [24]. Di
tích thờ Mẫu ở nƣớc ta trải khắp các vùng miền nổi tiếng là Lạng Sơn, Hà Nội,
Nam Định, Thanh Hóa trong đó tiêu biểu là quần thể di tích Phủ Dầy (thờ Mẹ).
1.1.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của tín
ngưỡng thờ Mẫu tại vùng đồng bằng Bắc Bộ
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo tín ngƣỡng là một
hiện tƣợng xã hội ra đời từ rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở
hầu hết các cộng đồng ngƣời. Tôn giáo, tín ngƣỡng là sản phẩm của con ngƣời
21