ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------
TRẦN THỊ MAI DUYÊN
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN BANG NGA
DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG V. PUTIN
GIAI ĐOẠN 2012-2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội – 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------
TRẦN THỊ MAI DUYÊN
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN BANG NGA
DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG V. PUTIN
GIAI ĐOẠN 2012-2016
Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN CẢNH TOÀN
The Association of Southeast Asian Nations
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
CIS
Asia-Pacific Economic Conference
Cộng đồng các quốc gia độc lập
CSTO
Commonwealth of Independent States
Tổ chức hiệp ước an ninh tập thể
EU
Collective Security Treaty Organization
Liên minh châu Âu
EAEU
European Union
Liên minh kinh tế Á - Âu
GDP
Eurasia Economic Union
Gross Domestic Product
IS
Tây ngày càng tiếp cận tới khu vực vốn được coi là sân sau của Nga, đe dọa
sát biên giới Nga. Tuy nhiên, kể từ năm 1999 đến nay, khi V. Putin giữ cương
vị Tổng thống, nước Nga đã dần khôi phục vị thế là một cường quốc lớn,
buộc Mỹ và phương Tây phải tính toán và cần tới Liên bang Nga trong các
vấn đề quốc tế.
Trong 2 nhiệm kỳ liên tiếp giai đoạn 2000-2008, thế giới đã được
chứng kiến những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nga dưới thời
Tổng thống V. Putin theo hướng khẳng định và củng cố vị thế nước Nga trên
vũ đài chính trị quốc tế. Sau khi trở lại làm Tổng thống Liên bang Nga trong
cuộc bầu cử năm 2012, trước những biến đổi của tình hình thế giới, khó khăn
và thách thức trong nước cũng như sức ép từ bên ngoài, Tổng thống V. Putin
đã đưa ra những điều chỉnh mới trong chính sách đối ngoại. Đáng chú ý, ngay
sau khi tuyên thệ nhậm chức ngày 07/5/2012, ông đã ký 11 sắc lệnh đề cập
những nội dung cơ bản của chủ trương chiến lược phát triển nước Nga trong
nhiệm kỳ mới. Ngày 15/02/2013, Tổng thống V. Putin đã đưa ra tuyên bố về
chính sách đối ngoại mới của Liên bang Nga nhằm nâng cao vị thế và uy tín
của đất nước trên trường quốc tế. Trong các văn kiện như Chiến lược An ninh
quốc gia, Thông điệp Liên bang hàng năm, Tổng thống V. Putin đều đưa ra
một số điều chỉnh trong chính sách đối ngoại để phù hợp với đặc điểm tình
hình mới trong nước và quốc tế.
Nga đã từng bước khôi phục và khẳng định vị thế của mình ở các khu
vực ngoại vi và trên thế giới. Sự kiện Crimea vào tháng 3/2014 đã cho thấy
3
Tổng thống V. Putin đang khẳng định quyền của Nga ở khu vực từng là sân
sau. Chiến dịch quân sự của Nga ở Syria năm 2015 cũng là một trong những
ví dụ khẳng định Nga đã và đang khôi phục vị thế trong việc tham gia các nỗ
lực giải quyết các “điểm nóng” trên thế giới. Trên thực tế, Nga đã và đang là
mối quan hệ với Nga mang lại, đồng thời hạn chế những tiêu cực để đảm bảo
lợi ích quốc gia.
Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nga dưới thời Tổng
thống V. Putin trong những năm gần đây có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.
Do đó, tác giả chọn nghiên cứu về “Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga
dưới thời Tổng thống V. Putin giai đoạn 2012-2016” để làm đề tài luận văn
thạc sỹ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tổng thống V. Putin và chính sách đối ngoại của ông đưa ra trong các
nhiệm kỳ của mình không phải là một đề tài nghiên cứu mới, mà là một chủ
đề đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của nhiều
học giả trong và ngoài nước. Đặc biệt, với việc Nga ngày càng khẳng định vị
thế cường quốc thế giới bằng các hành động quyết đoán và mạnh mẽ trong
các vấn đề quốc tế, nên chính sách đối ngoại của Nga và Tổng thống V. Putin
cũng là chủ đề nghiên cứu của lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách ở
nhiều quốc gia. Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về V. Putin và
chính sách đối ngoại trong các nhiệm kỳ ông làm Tổng thống nước Nga. Các
tài liệu này phân tích về V. Putin và chính sách đối ngoại của Nga dưới các
góc độ khác nhau, nhưng tất cả đều thừa nhận sức ảnh hưởng của Nga trên
trường quốc tế đang ngày càng tăng lên và vai trò quan trọng của Tổng thống
V. Putin đối với sự lớn mạnh của nước Nga.
Ở Việt Nam, có nhiều ấn phẩm dịch hoặc tài liệu viết về V. Putin tiêu
biểu như Dương Minh Hào-Triệu Anh Ba (2015), Bản lĩnh Putin; Trương Dự
(2013), Putin - Sự trỗi dậy của một con người (dịch giả Hồng Phượng);…
Các tác phẩm đều cho thấy được về con người V. Putin, qua đó giúp lý giải
được phần nào về những quyết sách mà V. Putin đưa ra khi làm Tổng thống
5
Foreign Policy, Kari Roberts (2017), Understanding Putin: The politics of
identity and geopolitics in Russian foreign policy discourse nhận định về
vai trò của Tổng thống V. Putin trong định hình chính sách đối ngoại của Nga;
Igor Zevelev (2016), Russian National Identity and Foreign Policy, Kimberly
Marten (2013), A new explanation for Russian foreign policy, Stephen J.Blank
(2012), Perspectives on Russian foreign policy đưa ra quan điểm về chính
sách đối ngoại của Nga trong bối cảnh quốc tế mới; Yuki Naruoka (2016),
Russian foreign policy shift and its sources, Konstantin K.Khudoley (2016),
Russian foreign policy admid current international tensions; Keir Giles
(2017), The turning point for russian foreign policy đánh giá về điều chỉnh
chính sách đối ngoại của Nga từ năm 2014; Dmitri Trenin (2016), Russia’s
Asia Strategy: Bolstering the Eagle’s Eastern Wing về chính sách của Nga
đối với khu vực châu Á; Iwashita Akihiro (2006), Russia and its neighbors
in crisis về chính sách của Nga đối với Trung Á; Ivan Safranchuk (2016),
Russia in Reconnecting Eurasia về chính sách của Nga đối với CIS... Trong
đó, phần lớn những tài liệu trong một số năm trở lại đây tập trung nghiên cứu
về những điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nga sau cuộc khủng hoảng ở
Ukraine (2014).
Những tài liệu này đều có sự nghiên cứu rất kỹ và đưa ra những đánh
giá khác nhau về chính sách đối ngoại của Nga, là những thông tin bổ ích
giúp hiểu thêm về chính sách đối ngoại của Nga dưới các góc độ phân tích
khác nhau. Bên cạnh đó, luận văn cũng tham khảo các bài viết học thuật, các
bài nghiên cứu trên các trang báo điện tử, giúp việc tìm hiểu, nghiên cứu về
chính sách đối ngoại của Nga dưới thời Tổng thống V. Putin được đầy đủ,
toàn diện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối ngoại của Nga.
Phạm vi nghiên cứu:
hội và nhân văn như phương pháp phân tích lợi ích, phương pháp phân tích
8
chính sách, phương pháp phân tích tác động, phương pháp hệ thống-cấu trúc,
phương pháp nghiên cứu khu vực… nhằm đưa ra những phân tích, đánh giá
khách quan, toàn diện về vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn có một số đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:
- Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống về chính sách đối ngoại
của Nga trong giai đoạn 2012-2016, đưa ra những phân tích, so sánh và đánh
giá khoa học, qua đó thấy được thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của
Nga với một số đối tác chính, trong đó có Việt Nam.
- Góp phần cung cấp một số thông tin, kiến thức về môi trường chính
trị và quan hệ quốc tế giai đoạn 2012-2016, làm rõ thực tiễn mối quan hệ giữa
Nga với các nước, khu vực.
- Góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn đối với việc hoạch
định chính sách đối ngoại của Việt Nam trước tình hình triển khai chính sách
đối ngoại của Nga.
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc
học tập và nghiên cứu các vấn đề về chính sách đối ngoại, quan hệ quốc tế.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động tới chính sách đối ngoại của Nga
giai đoạn 2012-2016. Chương này phân tích về tình hình thế giới và trong
nước tác động tới việc hình thành và triển khai chính sách đối ngoại của Nga.
Chương 2: Nội dung và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của
Nga giai đoạn 2012-2016. Chương này trình bày về quan điểm, mục tiêu và
toàn cầu bắt đầu thoát khỏi cuộc suy thoái, bước vào giai đoạn phục hồi và
tăng trưởng, nhưng không đồng đều, mong manh, chứa đựng nhiều rủi ro.
Một số nước khu vực EU gặp phải những khó khăn tài chính và chính trị, gây
ra “cơn bão” khủng hoảng nợ công, người dân liên tục xuống đường biểu tình
phản đối chính sách “thắt lưng buộc bụng”, làm nảy sinh những bất ổn xã hội
tại nhiều quốc gia, thậm chí chính phủ một số nước như Hy Lạp, Italy, Đan
Mạch bị thay thế. Vấn đề khủng hoảng nợ công trầm trọng ở châu Âu có nguy
cơ đẩy nền kinh tế thế giới vào một cuộc suy thoái kép, tác động sâu sắc đến
nền kinh tế các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản... Những căng
thẳng về thương mại, chống bán phá giá, tỷ giá tiền tệ… diễn ra ngày càng
gay gắt và quyết liệt, trong bối cảnh các nước có xu hướng triển khai các
chính sách đối ngoại theo hướng đạt được tối đa các lợi ích kinh tế quan
trọng.
11
Hai là, cục diện thế giới tiếp tục có những thay đổi sâu sắc. Bên cạnh vị
trí siêu cường của Mỹ với sức mạnh vượt trội về kinh tế, quân sự và khoa học
công nghệ, sự trỗi dậy và vươn lên của các nước lớn khác như Trung Quốc,
Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Brazil… ngày càng chứng tỏ vai trò, vị thế trên bàn
cờ chính trị không chỉ tầm khu vực mà cả trên phạm vi toàn cầu [56]. Xu
hướng đa cực hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế phát triển; quan hệ giữa
các nước lớn ngày càng đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau trong khuôn khổ vừa
hợp tác, vừa đấu tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau; hợp tác nhưng không dẫn tới
liên minh mới, đấu tranh, nhưng tránh đối đầu quân sự trực tiếp [19, tr.108].
Trong đó, xu thế đa cực định hình rõ nét hơn và yếu tố cạnh tranh có xu
hướng gia tăng. Các nước lớn vừa kiềm chế nhau, vừa lợi dụng lẫn nhau, vừa
va chạm vừa điều chỉnh vì lợi ích quốc gia, nhất là về phạm vi ảnh hưởng
kinh tế - thương mại, những vấn đề lợi ích chiến lược sống còn, như không
vấn đề quốc tế nhằm thể hiện vai trò “cường quốc bình thường”. Ấn Độ thực
hiện chính sách đối ngoại độc lập, năng động, quyết đoán, thực dụng, tự chủ
và cân bằng, để đạt mục tiêu trở thành cường quốc khu vực và thế giới, thực
hiện đẩy mạnh quan hệ với Nga; tích cực tham gia hoạt động của các tổ chức
quốc tế, khu vực; ưu tiên quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, tăng
cường quan hệ hợp tác toàn diện với các nước ASEAN, coi ASEAN là trọng
tâm trong thúc đẩy thực hiện chính sách hướng Đông.
Bốn là, các khu vực không gian địa-chiến lược được Nga xác định, như
khu vực CIS, Trung Á và các khu vực khác trên thế giới chịu sự canh tranh
ảnh hưởng mạnh mẽ giữa các nước lớn. Ở khu vực không gian hậu Xô viết,
EU tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở khu vực CIS qua việc tăng cường cơ chế
Đối tác phía Đông. Mỹ cũng gia tăng cạnh tranh ảnh hưởng và kiềm chế Nga
tại khu vực Trung Á, duy trì vùng đệm an ninh với Afganistan, Pakistan xung
quanh Nga. Trung Quốc viện trợ tài chính để tăng cường kết nối với các nước
CIS ở Trung Á thông qua Sáng kiến Vành đai và con đường. Ấn Độ cũng tăng
cường các mối quan hệ song phương với các nước Trung Á. Trong khi đó,
khu vực Trung Đông-Bắc Phi, Mỹ Latin tiếp tục chịu sự cạnh tranh ảnh
13
hưởng mạnh mẽ của các nước lớn. Ở khu vực Trung Đông-Bắc Phi, Mỹ thông
qua khoản viện trợ 70 triệu USD cho các phe đối lập Syria chống lại Chính
phủ của Tổng thống B. al-Assad. Một số nước EU cũng phối hợp với Mỹ
trong các hoạt động quân sự ở Trung Đông-Bắc Phi. Hành động can thiệp
quân sự của Pháp tại Mali năm 2013 cho thấy Pháp đang tìm cách khôi phục
ảnh hưởng ở châu Phi. Trung Quốc tiến hành viện trợ, cho vay và cam kết đầu
tư hàng tỷ USD đối với các nước đang phát triển ở châu Phi và Trung Mỹ,
nâng cấp quan hệ song phương với nhiều nước như thiết lập quan hệ đối tác
chiến lược với Sri Lanka (2013), quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với
ngoại giao kinh tế để phát huy vai trò toàn diện ở khu vực này nhằm đạt được
tham vọng trở thành cường quốc chính trị thế giới. Ấn Độ chủ trương tăng
cường quan hệ với châu Á-TBD bằng “Hành động hướng Đông” … Không
chỉ vậy, tiềm năng kinh tế của những trung tâm tăng trưởng mới của thế giới,
trong đó có Ấn Độ và Trung Quốc đứng ở vị trị nổi bật, với ảnh hưởng chính
trị gia tăng, mang lại cho Nga những cơ hội không nhỏ [34, tr.56]. Bối cảnh
này góp phần đưa châu Á-TBD trở thành khu vực ngày càng có ý nghĩa quan
trọng đối với các vấn đề lợi ích của Nga.
Sáu là, các vấn đề toàn cầu đòi hỏi hành động phối hợp mạnh mẽ của
tất cả các quốc gia. Một mặt, các vấn đề an ninh phi truyền thống như biến
đổi khí hậu, thảm họa thiên tai, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, cấm
phổ biến vũ khí hạt nhân, sự gia tăng hoạt động của các tổ chức khủng bố, đặc
biệt là IS… ngày càng diễn biến phức tạp, trở thành vấn đề toàn cầu, đe dọa
mọi quốc gia. Mặt khác, các vấn đề an ninh truyền thống như chiến tranh,
xung đột vũ trang... kéo dài, diễn biến phức tạp và có dấu hiệu gia tăng như
vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề hạt nhân Iran, tranh chấp chủ
quyền lãnh thổ, lãnh hải ở Biển Đông, biển Hoa Đông và Bắc Cực, nội chiến
ở Syria, xung đột phe phái ở Yemen, Lybia, Nigeria... tiềm ẩn nhiều nguy cơ,
hiểm họa khó lường, đe dọa đến sự ổn định, hòa bình và phát triển của thế
giới. Những điều này đòi hỏi sự tham gia và phối hợp giải quyết của các nước
lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc... Ngược lại, các cường quốc cũng tìm cách
15
can dự vào các vấn đề có quy mô khu vực, toàn cầu để khẳng định tầm ảnh
hưởng và vị thế quốc tế.
Tình hình thế giới biến động khó lường với những thay đổi sâu sắc, tạo
ra cơ hội và thách thức cho các nước, trong đó có Nga trong quá trình lấy lại
vị thế cường quốc toàn cầu, qua đó tác động tới sự hình thành và triển khai
EU, dẫn tới thế đối đầu Nga - phương Tây, tạo ra bước ngoặt địa chính trị ở
lục địa Á - Âu, khiến các nước, nhất là Mỹ, EU và Trung Quốc có những điều
chỉnh chính sách đối ngoại. Cụ thể:
Một là, Mỹ tăng cường chính sách trừng phạt và cô lập Nga, thay thế
Nga trong quan hệ kinh tế, quân sự với EU và nỗ lực làm suy giảm quan hệ
của Nga với Trung Quốc. Với Nga, Mỹ cáo buộc Nga phải chịu trách nhiệm
gây ra cuộc khủng hoảng tại Ukraine, lấy lý do Nga sáp nhập Crimea để cô
lập Nga. Mỹ thực hiện các biện pháp gia tăng lệnh trừng phạt đối với Nga,
đồng thời chủ trương vận động EU và các nước phương Tây tăng cường gây
sức ép nhiều mặt với Nga [55, tr.46]. Với EU, để làm suy giảm quan hệ EU
với Nga, Mỹ cam kết cùng với NATO bảo đảm an ninh cho các nước EU;
tăng cường thắt chặt quan hệ kinh tế với EU để thay thế Nga. Nhằm ngăn
chặn xu hướng quan hệ Nga - Trung gia tăng sau khủng hoảng Ukraine, Mỹ
tìm cách cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc thông qua cam kết thúc đẩy
quan hệ nước lớn “kiểu mới”.
Hai là, EU tăng cường quan hệ với Mỹ, điều chỉnh chính sách trong
quan hệ với Nga và thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc. Đối với Mỹ, chủ
trương chung của EU là tăng cường quan hệ toàn diện với Mỹ, tiếp tục ủng
hộ quan điểm của Mỹ về các biện pháp trừng phạt, làm suy yếu và ngăn
chặn Nga, đồng thời tăng cường giúp đỡ Ukraine. Trong quan hệ với Nga,
EU liên tiếp thực hiện các lệnh trừng phạt Nga bất chấp những tổn hại lớn về
kinh tế đối với khối này. Trong quan hệ với Trung Quốc, do khủng hoảng
Ukraine dẫn đến mất thị trường tại Nga, nên EU đẩy mạnh quan hệ nhiều
mặt với Trung Quốc, nhất là về kinh tế.
17
Ba là, Trung Quốc xác định tận dụng lợi thế để điều chỉnh sách lược
quan hệ với các nước lớn theo hướng có lợi cho nước này, vì Nga, Mỹ, EU
quan hệ quốc tế và đẩy trục địa chính trị và chiến lược của Nga hướng về
phía Đông, gây ra những thách thức lớn về đối ngoại, buộc Nga phải có
những điều chỉnh, tính toán lại chiến lược, chính sách đối ngoại của mình.
Năm 2016, tình hình nội bộ ở nhiều nước, khu vực có những diễn biến
phức tạp, bất định. Hàng loạt quốc gia ở các châu lục đều có những bất ổn
chính trị hoặc diễn biến chính trị phức tạp, nhất là châu Âu không chỉ chứng
kiến những bất đồng do giải quyết cuộc khủng hoảng di cư, mà còn phải
chứng kiến việc Anh rời khỏi châu Âu (Brexit), đảo chính quân sự lật đổ
Tổng thống R.Erdogan bất thành tại Thổ Nhĩ Kỳ, Thủ tướng Italy M.Renzi
từ chức; … Trong đó, sự kiện Brexit không chỉ làm cho EU đứng trước
nhiều thách thức cần phải giải quyết về kinh tế và chính trị, mà còn khiến
khối này suy yếu hình ảnh trên trường quốc tế. Không chỉ vậy, nước Mỹ
cũng có xu hướng coi trọng hơn việc lấy lại vị thế siêu cường của Mỹ khi
những chính sách của Mỹ ở các khu vực chưa đem lại nhiều kết quả như kỳ
vọng. Những điều này là cơ hội để Nga khẳng định mình và từng bước vượt
qua được những lệnh trừng phạt của Mỹ và EU. Tuy nhiên, bối cảnh này
cũng khiến EU và Mỹ đều có xu hướng kiềm chế vị thế quốc tế đang lên của
Nga, dẫn tới cạnh tranh chiến lược giữa Nga với Mỹ và phương Tây không
những không giảm đi, mà tiếp tục diễn ra quyết liệt ở nhiều khu vực trên thế
giới. Mặc dù Nga đã có những thỏa thuận hợp tác với Mỹ và sự ủng hộ của
EU để cùng phối hợp giải quyết các vấn đề nóng của thế giới như cuộc chiến
chống IS, vấn đề hạt nhân Iran, cuộc khủng hoảng di cư…, nhưng chiến lược
tập hợp lực lượng bao vây, cô lập, làm suy yếu Nga của Mỹ và phương Tây
vẫn không thay đổi.
1.2. Tình hình nội bộ nước Nga
1.2.1. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
Năm 2012, Tổng thống V. Putin trở lại lãnh đạo Liên bang Nga với
nhiều yếu tố thuận lợi khi nước Nga có sự phát triển kinh tế khá ổn định, cùng
19
20
cao; chưa trở thành nền kinh tế tri thức, trong khi Nga là nước có nền khoa
học mạnh nhất nhì thế giới, nhất là khoa học cơ bản… Những điều này khiến
tăng trưởng kinh tế của Nga bị hạn chế.
Đặc biệt, các lệnh trừng phạt kinh tế của Mỹ và EU sau khi Crimea sáp
nhập vào Nga, gây nhiều khó khăn cho nền kinh tế Nga. Theo Bộ trưởng Tài
chính Nga Anton Siluanov, Nga thiệt hại khoảng 40 tỷ USD mỗi năm do các
biện pháp trừng phạt mang động cơ địa chính trị của Mỹ và phương Tây. Mô
hình kinh tế phụ thuộc vào dầu mỏ khiến nước Nga lâm vào một cuộc khủng
hoảng kinh tế nghiêm trọng khi giá dầu thế giới sụt giảm. Sự lao dốc của giá
dầu thô thế giới bắt đầu từ tháng 6/2014, cộng với các biện pháp trừng phạt
kinh tế của phương Tây, đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế Nga. GDP của
Nga năm 2014 chỉ tăng ở mức thấp, 0,6% so với mức tăng 1,3% trong năm
2013 [74] và 2,4% của các năm trước đó; đồng Rúp mất giá 9%, trong khi các
doanh nghiệp nước ngoài rút vốn, bán tháo cổ phiếu, dự trữ ngoại hối của Nga
giảm hơn 70 tỷ USD, xuống còn 440 tỷ USD, mức thấp nhất trong 4 năm kể
từ năm 2010. Những khó khăn của nền kinh tế Nga được thể hiện rõ hơn trong
năm 2015. Theo đó, năm 2015, các số liệu kinh tế chủ yếu của Nga đều giảm
mạnh: GDP giảm 3,7% so với năm 2014, lạm phát ở mức 12,05%; dòng vốn
đầu tư rút khỏi Nga khoảng 70 tỷ USD; thâm hụt ngân sách liên bang khoảng
3% GDP [9, tr.11]. Từ tháng 03/2014 - 12/2015, đồng Rúp mất giá 72,7% so
với USD, 51,7% so với Euro. Đồng Rúp mất giá đẩy lạm phát tăng cao, sức
mua của người dân giảm, tỷ lệ lạm phát/năm lên đến 15,9%, thậm chí là 39%
trong nửa cuối năm 2015, thu nhập người dân giảm 4%, trên cả mức giảm của
GDP (là lần đầu tiên xuất hiện ở Nga kể từ sau năm 2000), lương hưu bị cắt
giảm 3,8%. Tại Diễn đàn kinh tế Gaida (01/2016), Thủ tướng Nga
D.Medvedev thừa nhận, “tình hình kinh tế Nga đang phải gánh chịu những
trên tinh thần hợp tác, xây dựng và hiểu biết lẫn nhau. Bộ đôi quyền lực Nga,
Tổng thống D. Medvedev và Thủ tướng V. Putin, thể hiện sự đoàn kết, thống
nhất, gắn bó, đồng tâm, hợp lực, phối hợp nhịp nhàng trong giải quyết, xử lý
các công việc, tạo được nền tảng cho một nước Nga đoàn kết, thống nhất,
22