ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG TUẤN NGHĨA
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI
VỚI ASEAN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.40 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Văn Lịch Hà Nội, 2010 - 1 -
MỤC LỤC
……………………………………………………………………………… 46
2.3. Sự triển khai chính sách đối ngoại của Nga với ASEAN trong thập
niên đầu thế kỷ XXI …… .…………………………………………… 48
2.3.1 Quan hệ chính trị, an ninh và quân sự …………………………… 48
2.3.2 Quan hệ kinh tế …… …………………………………………… 54
2.3.3 Quan hệ về văn hóa - giáo dục …………………………………… 65
CHƢƠNG 3: VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ NGA -
ASEAN …………………………………………………………….……… 68
3.1. Quan hệ truyền thống Việt Nam - Liên Xô / Liên bang Nga … 68
3.2. Việt Nam trong tam giác quan hệ Nga - Việt Nam - ASEAN 73
3.3.1 Vai trò ngày càng được nâng cao của Việt Nam trong ASEAN … . 73
3.2.2 Lợi thế của Việt Nam với vai trò là cầu nối trong quan hệ Nga -ASEAN
……………………………………………………………………………… 75
3.3. Tác động của quan hệ Nga - ASEAN đối với Việt Nam ………… 78
3.3.1 Tác động về chính trị - an ninh…………………………………… 78
3.3.2 Tác động về kinh tế ………….…………………………………… 80
3.3.3 Tác động về văn hóa ……………………………………………… 84
KẾT LUẬN……………………………………………………………… 87
Tài liệu tham khảo…………………………………………….………… 91 - 3 -
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NATO North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
SCO Shanghai Cooperation Organization
Tổ chức hợp tác Thượng Hải
TAC Treaty of Amity & Cooperation in Southeast Asia
Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á
UN United Nations
Liên Hiệp Quốc
WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại thế giới
- 5 -
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Một vài số liệu phát triển kinh tế Nga, giai đoạn 1997 -2006
lạc dưới thời của tổng thống Boris Yeltsin, một nước Nga mới vào đầu thế kỷ
XXI đã và đang trên con đường hồi phục và chờ đợi sự bùng nổ giấc mộng
cường quốc.
―Tự mình vượt qua‖ là từ chủ đề trong bước nhảy vọt mà nước Nga
đang thực hiện. Từ năm 2000, khi kinh tế nền kinh tế Nga bắt đầu được khôi
phục và tăng trưởng cho đến nay, quá trình vận hành của nền kinh tế Nga
tương đối tốt, với nhu cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước tăng cao, tốc độ
tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nhiều năm liên tục đạt 6% đến
7%, các khoản nợ nước ngoài bắt đầu giảm mạnh, tài chính bắt đầu có tích
lũy, tình hình suy thoái kinh tế không những đã thay đổi hoàn toàn mà nước
Nga đã quay trở lại hàng ngũ 10 nền kinh tế hàng đầu thế giới. Năm 2007 là
năm mà nước Nga hậu Xô Viết có quá trình phát triển kinh tế thuận lợi và
mạnh mẽ nhất, mức tăng trưởng kinh tế đạt mức kỷ lục 8.1%, dự trữ ngoại hối
và vàng của Nga đạt gần 500 tỷ USD. Tháng 7 năm 2007, trong báo cáo
―phương hướng phát triển lâu dài nền kinh tế xã hội quốc gia‖ do Bộ thương
mại và phát triển kinh tế Nga công bố đã đưa ra mục tiêu đến năm 2020 là
đưa nước Nga vươn lên trở thành một trong năm cường quốc kinh tế thế giới,
với GDP bình quân trên đầu người đạt 30.000 USD, đứng vào hàng ngũ
những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới.
1
Từ năm 1996, Nga đã trở thành đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN,
–––––––––––––
1. [1, tr. 254 - 255]
- 7 -
và từ đó đến nay, quan hệ nhiều mặt giữa hai bên đã không ngừng được nâng
lên. Nhiều hiệp định và tuyên bố chung đã được hai bên ký kết , nổi bật là Hội
nghị thượng đỉnh lần đầu tiên giữa Nga và ASEAN diễn ra tại Kuala
Lumpur - Malaysia, năm 2005. Là một quốc gia có lãnh thổ trài dài trên hai
Châu lục Âu - Á, Nga ngày càng nhận thức được những lợi thế và bất lợi về
ích của cả Nga và các nước ASEAN, đóng góp vào hòa bình, thịnh vượng,
hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ―Chính sách đối ngoại của Liên bang
Nga đối với ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI‖ nhằm nêu lên những nội
dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của Nga đối với ASEAN, chủ yếu
trong giai đoạn cầm quyền của tổng thống V. Putin (2000-2008), cũng như
những định hướng trong chính sách đối ngoại của Nga đối với khu vực này
trong những năm tiếp theo. Thông qua việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của
Nga với ASEAN sẽ làm nổi bật những cơ hội và thách thức của chính sách
ấy, cũng như triển vọng của mối quan hệ Nga - ASEAN và lợi ích của mỗi
bên trong quá trình thực hiện các chính sách, nhằm phục vụ thiết thực cho
những mục tiêu chính trị và kinh tế của mỗi bên, đồng thời góp phần tăng
cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Nga và nhân dân các
nước ASEAN.
Việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nga với ASEAN trong
những năm đầu thế kỷ XXI mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, sẽ
góp phần thúc đẩy sự hợp tác cùng có lợi giữa hai bên Nga - một đất nước rất
giàu tiềm năng và ASEAN, thuộc Đông Nam Á - một trong những khu vực
phát triển năng động nhất trên thế giới và có vị trí địa - chính trị rất quan
trọng tại Châu Á - Thái Bình Dương.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các vấn đề có liên quan đến chính sách đối ngoại của Nga đối với tổ
chức ASEAN cho đến nay vẫn là chủ đề còn khá mới mẻ. Hầu hết các đề tài
- 9 -
và công trình nghiên cứu viết về Nga trong mối quan hệ với khu vực Đông
Nam Á mà ASEAN là đại diện chủ yếu đã tập trung vào phân tích thực trạng
và những dấu mốc trong quan hệ giữa hai bên trong giai đoạn từ năm 1991
đến năm 2005 bên cạnh những định hướng và giải pháp phát triển mối quan
Châu Á - Thái Bình Dương. Trong đó, trọng tâm là Đông Nam Á và trong
phạm vi thời gian được tập trung vào giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với sự tham khảo các nguồn tài liệu là các loại
sách, tạp chí, tài liệu chuyên khảo, các trang web có uy tín trên mạng Internet
và các bài viết đi trước. Tuy nhiên, còn một số tài liệu quan trọng khác, mà do
điều kiện khách quan, tác giả đề tài chưa thể tiếp cận được.
Đề tài này cũng được thực hiện dựa trên việc vận dụng các phương
pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế như phương pháp lịch sử, phương pháp
thống kê và so sánh…
5. Cấu trúc của luận văn
Đề tài ―Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga đối với ASEAN
những năm đầu thế kỷ XXI‖ được cấu trúc thành ba phần, với các nội dung
chính sau đây:
Chương thứ nhất: Những nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách đối
ngoại của Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ XXI. Phần này trình bày
khái quát bối cảnh quốc tế đầu thế kỷ XXI về chính trị và kinh tế, phạm vi
không gian là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông
Nam Á mà đại diện là tổ chức ASEAN và thực trạng của tổ chức này trong
- 11 -
những năm đầu thế kỷ mới. Phân tích những nhân tố thuận lợi và một số khó
khăn, thách thức có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của ASEAN trong
giai đoạn trên. Ngoài ra, chương này cũng nêu lên đặc điểm, tình hình của
nước Nga qua sự hồi phục và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2000 -
2008, một giai đoạn mới với nhiều thay đổi quan trọng của nước Nga nói
chung, cũng như chính sách đối ngoại của nước Nga nói riêng.
có thể được coi là cột mốc đánh dấu sự thay đổi về chất của môi trường quan
hệ quốc tế. Sau sự tan rã của Liên bang Xô viết, trật tự thế giới hai cực đã bị
thay đổi và nước Mỹ ở vào vị trí siêu cường duy nhất. Ở góc độ quốc gia, Mỹ
chủ trương duy trì một nền địa - chính trị đơn cực do Mỹ làm bá quyền. Các
cường quốc khác, đặc biệt là Nga và Trung Quốc thì chủ trương xây dựng
một thế giới đa cực và phản đối tư tưởng bá quyền của Mỹ. Từ đầu thế kỷ
XXI, ngoài sự thay đổi về địa - chính trị, môi trường địa - kinh tế thế giới
cũng có nhiều biến chuyển rõ nét, nổi bật là sự trỗi dậy của Trung Quốc và
người ta cũng nói nhiều đến ―kỷ nguyên Châu Á‖ với khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương sẽ vươn lên dẫn đầu nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI và
cuộc cạnh tranh về địa - kinh tế này cũng kèm theo những vấn đề về an ninh
tại khu vực.
Đầu thế kỷ XXI, thế giới tiếp tục chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của
xu thế toàn cầu hóa, là xu hướng phát triển chủ yếu của thế giới trong những
thập niên đầu của thế kỷ XXI. Đặc trưng của xu hướng này là sự phụ thuộc
kinh tế ngày càng tăng giữa các nước trên thế giới do quy mô và sự đa dạng
ngày càng tăng của các luồng hàng hóa, dịch vụ và vốn xuyên quốc gia cùng
với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ. Điều quan trọng là
sự gia tăng về lượng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau đó của các quốc gia lại
diễn ra đồng thời với sự xuất hiện một chất lượng mới của các quan hệ kinh tế
quốc tế. Thế giới đang dần trở thành một cộng đồng thống nhất, trong đó các
- 13 -
quốc gia dân tộc là những nhân tố cấu thành của một cơ cấu toàn cầu thống
nhất.
Có thể nói rằng, đặc điểm bao trùm của quan hệ quốc tế sau khi chiến
tranh lạnh kết thúc cũng như những năm đầu của thế kỷ mới là sự nổi trội của
xu thế hòa bình, hợp tác phát triển cùng có lợi và chung sức giải quyết các
vấn đề có tính toàn cầu, xu thế này được quyết định bởi lợi ích chung và sự
đan xen lợi ích giữa các quốc gia, các khu vực trong bối cảnh tương đối hòa
bình. Các tổ chức quốc tế và khu vực đều có cơ hội củng cố và mở rộng phát
1.2. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng đầu thế kỷ XXI
1.2.1 Quan hệ giữa các nƣớc lớn trong khu vực Châu Á - Thái Bình
Dƣơng:
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á mang
những đặc điểm của bối cảnh chung nhưng với những nét đậm nhạt khác biệt
nhau. Điều đó được quyết định bởi tính đặc thù của khu vực mà có thể mô tả
một cách vắn tắt Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đa dạng về văn hóa
và chính trị, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và phát triển năng động nhất
thế giới, có sự hội tụ gần đủ các nước lớn của thế giới, quan hệ với nhau trong
lợi ích đan xen, vừa hợp tác vừa cạnh tranh và kiềm chế nhau.
Châu Á - Thái Bình Dương bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ
nằm trong lòng chảo Thái Bình Dương, là khu vực mang những đặc thù khác
hẳn Châu Âu. Trước hết là sự đa dạng về văn hóa và chế độ chính trị, là nơi
văn hoá Đông Tây gặp gỡ giao thoa, các tôn giáo từ Phật giáo, Nho giáo đến
Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và đạo Tin lành… cùng tồn tại. Thể chế chính trị
tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa một thời đối nghịch nhau trong chiến
- 15 -
tranh lạnh nay vẫn song hành trong khu vực. Khu vực này tập trung các nước
lớn, gồm Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc, là ba trong số năm Ủy viên thường
trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra, còn có các nền kinh tế
lớn nằm trong G7 như Nhật Bản và Canada. Đây cũng là khu vực với các nền
kinh tế có mức tăng trưởng cao tạo nên sự năng động vào bậc nhất thế giới.
Các nền kinh tế có quy mô nhất, nhì và thứ ba thế giới đều tập trung ở khu
vực này.
Tính đa dạng và nhiều chiều của các mối quan hệ giữa các nước lớn
trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương dường như đang là những yếu tố
quyết định bầu không khí quốc tế của khu vực kể từ thời kỳ sau chiến tranh
lập căn cứ quân sự chống khủng bố. Tuy nhiên, kể từ khi chính quyền Bush
xâm lược Iraq (tháng 3/2003) và thi hành chính sách đơn phương mang tính
áp đặt với Nga và một số nước khác thì Nga đã không còn hậu thuẫn Mỹ như
ban đầu. Lợi ích của Nga và Mỹ đã không còn trùng hợp và bắt đầu có những
va chạm dẫn đến những quan điểm khác biệt về cuộc chiến Iraq, xung đột tại
Trung Đông, về Lebanon và quan hệ với Syria, vấn đề hạt nhân của Iran…
Thái độ hai mặt của Mỹ đối với bọn khủng bố ở Cộng hòa Chechnya và sự
can thiệp vào các sự kiện ở các nước láng giềng của Nga trong Cộng đồng các
quốc gia độc lập (CIS) đã và đang làm cho quan hệ Nga - Mỹ không còn êm ả
như trước. Mặc dù quan hệ Nga - Mỹ đang diễn biến phức tạp, tùy thuộc vào
quan hệ lợi ích chiến lược quốc gia của mỗi bên và mục tiêu kiềm chế có tính
chiến lược của Nga và Mỹ, nhưng điều đó cũng không cản trở hai bên hợp tác
phát triển ở những nơi, những lĩnh vực có lợi ích song trùng, đặc điểm trên là
minh họa cụ thể nhất để giải thích về sự gắn kết trong quan hệ giữa Nga - Mỹ.
Tuy nhiên, ta cũng cần thấy rằng giữa hai cường quốc này hiện nay không
những chưa có mối quan hệ chiến lược chặt chẽ mà trên thực tế còn không có
được sự tin cậy lâu dài. Vì thế, đối với Mỹ thì một nước Nga suy yếu nhưng
- 17 -
không hỗn loạn là phù hợp hơn với lợi ích quốc gia của Mỹ. Đối với nước
Nga, sẽ tận dụng mọi khả năng để ưu tiên cho phát triển kinh tế, lấy sức mạnh
thực chất về kinh tế và quân sự để khẳng định mình, đó là mục tiêu chiến lược
và mang ý nghĩa quan trọng nhất.
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã và đang thay đổi theo
hướng được phát triển dần theo từng mức độ, từ không ổn định đến ổn định,
từ nghi kỵ đến tin cậy hơn và Mỹ cũng đã khẳng định vị trí quan trọng của
Trung Quốc trong định hướng chiến lược của mình. Kinh tế là lĩnh vực ảnh
hưởng lớn nhất đến quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc đã đầu tư một nguồn
vốn khổng lồ vào các loại chứng khoán tại Mỹ, đặc biệt là trái phiếu chính
phủ Mỹ. Tính đến tháng 9/2009, Trung Quốc đã đầu tư 797,1 tỷ USD vào trái
phiếu chính phủ của Mỹ
trí này sẽ khó có thể thay đổi trong tương lai. Do vậy, không có lý do gì để
Mỹ và Trung Quốc mâu thuẫn đến mức gây phương hại đến lợi ích quốc gia
của mỗi bên, trong khi sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai bên ngày càng tăng.
Quan hệ Mỹ - Trung luôn tồn tại những tranh chấp, mâu thuẫn nhưng chung
quy lại trong những thập niên tới vẫn là xu hướng hòa giải, nhượng bộ lẫn
nhau để cùng phát triển.
Quan hệ Mỹ - Nhật là mối quan hệ đặc biệt của khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương. Do những yếu tố lịch sử, bước sang thế kỷ XXI, quan hệ Mỹ
Nhật vẫn là mối quan hệ giữa hai đồng minh chiến lược. Nước Nhật là một
trong ba cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới và đang thực hiện các bước đi
trong việc tìm kiếm chiếc ghế Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên
Hiệp Quốc. Liên minh với Mỹ được coi là ―hòn đá tảng‖ trong chính sách đối
ngoại của Nhật trong mấy chục năm qua, mọi động thái trong chính sách đối
ngoại của Nhật đều dựa trên nền tảng là quan hệ Nhật - Mỹ. Đây là mối quan
hệ khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, ngoại giao đến
an ninh, khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực… Theo đánh giá
của cả Mỹ và Nhật, tình hình thế giới và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
sau chiến tranh lạnh và những năm đầu thế kỷ XXI vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ
xung đột và sự hiện diện về quân sự của Mỹ ở Đông Á (lính Mỹ hiện đang
đồn trú tại Nhật và Hàn Quốc) là cần thiết để duy trì an ninh và ổn định ở khu
- 19 -
vực này, sự ổn định của khu vực và lợi ích của Nhật sẽ không được bảo vệ
nếu thiếu yếu tố Mỹ. Trong các cuộc tiếp xúc song phương, lãnh đạo hai nước
đều cho rằng cần phải cải tổ và củng cố hợp tác an ninh Nhật - Mỹ. Sự khác
biệt về quan điểm phòng thủ của Mỹ, Nhật, Hàn Quốc với Trung Quốc, Cộng
hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên… trong đó có vấn đề nhận thức nguy cơ đe
dọa an ninh đến từ đâu, vấn đề hạt nhân của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều
Tiên, vấn đề tranh chấp lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế trên biển…đang
được coi là nhân tố ẩn chứa nguy cơ làm mất ổn định khu vực Đông Á. Các
nước đều nhận thức được rằng nếu Nhật, Mỹ và các nước liên quan không
nước lớn ngày càng coi trọng vai trò của các thiết chế đa phương trong việc
giải quyết các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống. Bối cảnh
chính trị quốc tế tuy có bị xen vào những khác biệt giữa các lợi ích quốc gia -
dân tộc, đặc biệt của các nước lớn, sẽ tạo ra khả năng xảy ra mâu thuẫn nhưng
ít có khả năng hình thành các liên minh chống lại nhau.
1
1.2.2 Sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ kinh tế quốc tế trong khu vực:
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực tập trung nhiều nền
kinh tế lớn của thế giới, tiêu biểu là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và nhóm các
nước ASEAN. Từ thập niên 90 của thế kỷ trước và những năm đầu của thế kỷ
XXI, cùng với xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa, quan hệ kinh tế trong khu
vực đang phát triển rất mạnh mẽ.
Xu hướng tăng cường quan hệ kinh tế của các nước trong khu vực lòng
chảo Thái Bình Dương càng được khẳng định sau sự ra đời của Diễn đàn hợp
tác Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1989. Năm 1994, tại Bogor
––––––––––––––
1. [17, tr. 34 -35]
- 21 -
(Indonesia) các lãnh đạo APEC đã ủng hộ một tầm nhìn với nhiều tham vọng
là thực hiện thương mại tự do và mở cửa từ năm 2010 đối với các thành viên
đã công nghiệp hóa và từ năm 2020 đối với các thành viên là các nước đang
phát triển. Từ đó đến nay, tăng trưởng hàng hóa nội khối hàng năm đã tăng
gấp 5 lần, đạt 8,44 nghìn tỷ USD vào năm 2007, với mức tăng trung bình
8,5%/năm, trong khi mức tăng của thế giới là 7,6%/năm, và đây cũng là thành
tựu của APEC sau 20 năm tồn tại và phát triển, chứng tỏ rằng quá trình hội
nhập cùng với hợp tác kinh tế khu vực đang diễn ra mạnh mẽ và đầy triển
vọng. APEC đang dần chuyển mình thành một khu vực thương mại tự do.
Xu thế phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế của thế giới nói chung và
hợp tác kinh tế và an ninh quốc phòng, từ việc hợp tác chống khủng bố đến
việc đưa tư tưởng tự do dân chủ kiểu Mỹ và nền kinh tế thị trường ra toàn thế
giới, vừa chứng tỏ tham vọng của Mỹ và cũng chứng tỏ khả năng mang lại lợi
ích cho các đối tác của Mỹ.
Hai là, đối với Trung Quốc, một cường quốc khu vực đang trên con
đường trở thành cường quốc thế giới, với tầm ảnh hưởng về kinh tế và quân
sự đang gia tăng mạnh mẽ đã chứng tỏ được vai trò ngày càng quan trọng
trong các vấn đề quốc tế, nhất là trong các vấn đề liên quan đến kinh tế
thương mại trong khu vực và trên toàn cầu. Trung Quốc đã thể hiện được vai
trò của mình trong vấn đề giải quyết khủng hoảng hạt nhân ở bán đảo Triều
Tiên, đưa ra ý tưởng về hình thành Cộng đồng Đông Á (EAC)… Trung Quốc
đã tích cực tham gia vào các thỏa ước về thương mại và an ninh khác nhau,
tăng cường hoạt động trong các tổ chức đa phương quan trọng và bắt đầu
hành động trong khuôn khổ hệ thống quốc tế, chấp nhận hầu hết các thể chế
quốc tế, các quy ước chung, từ đó, trong một chừng mực nhất định, tìm cách
điều chỉnh hệ thống quốc tế có lợi cho lợi ích quốc gia của Trung Quốc.
- 23 -
Các đặc điểm và xu hướng chung trên đây về căn bản vẫn là các xu
hướng chủ yếu chi phối sự phát triển của khu vực và thế giới, tuy hiện nay đã
xuất hiện một số đặc điểm mới làm cho bối cảnh khu vực và quốc tế thay đổi
hết sức nhanh chóng như khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới, xu
hướng ly khai tại một số nước, căng thẳng trong tranh chấp biển đảo giữa các
nước… Các nước đều tận dụng mọi cơ hội và các điều kiện thuận lợi tập
trung phát triển kinh tế, trong đó có việc tăng cường hợp tác kinh tế, thu hút
đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh giao thương quốc tế, làm sao trong thời gian
ngắn nhất có thể đưa đất nước phát triển nhanh và nâng cao vị thế quốc gia.
Sự thiếu linh hoạt hay chậm chạp trong phản ứng chính sách của bất cứ quốc
gia nào sẽ là nguyên nhân của việc đánh mất cơ hội phát triển, đồng thời làm
gia tăng rủi ro và gây phương hại đến lợi ích quốc gia.
Bản, Trung Quốc, Nga, Australia và cả tổ chức EC. Đây là thành công lớn của
ASEAN và thành công này của ASEAN cũng là một nhân tố thuận lợi, thúc
đẩy việc tạo dựng môi trường hợp tác ổn định trong bối cảnh quốc tế mới hiện
nay, vì hòa bình và phát triển của khu vực.
Ngoài các nhân tố thuận lợi thông qua mối liên kết về chính trị, sự tăng
cường thúc đẩy liên kết kinh tế đang chiếm vị trí rất quan trọng, đặc biệt với
sự ra đời của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Sáng kiến này đã thể
hiện quyết tâm của lãnh đạo các nước ASEAN trong việc nâng cấp và phát
triển các mối quan hệ kinh tế, đưa quan hệ kinh tế trong nội khối đi vào chiều
sâu, ngày càng mở rộng và tương xứng với tiềm năng to lớn của thị trường
khu vực.
Về thuế quan, ASEAN đưa ra mục tiêu giảm thuế, tiến tới xóa bỏ hoàn
toàn thuế quan đối với tất cả các hàng hóa lưu chuyển trong nội khối và cũng
tiến tới xóa bỏ hạn ngạch cùng các hàng rào phi thuế quan. Các nước ASEAN