Chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á những năm đầu thế kỷ XXI - Pdf 33

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, với vị trí địa - chiến lược quan trọng,
Đông Nam Á là khu vực thu hút sự quan tâm của các nước lớn, nhưng các
mối quan hệ quốc tế ở đây đan xen lẫn nhau hết sức phức tạp. Với tư cách là
siêu cường, Mỹ đã dính líu vào Đông Nam Á tới mức hầu như hiện diện trong
mọi mối quan hệ quốc tế của khu vực. Ý đồ chiến lược, chính sách của Mỹ
không chỉ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các quốc gia trong khu
vực mà còn tác động không nhỏ tới quan hệ đối nội, đối ngoại của từng quốc
gia. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò của Đông Nam Á trong chính
sách đối ngoại của Mỹ phần nào giảm sút bởi vì mục tiêu ngăn chặn chủ
nghĩa cộng sản trên thế giới và ở châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD) của
Mỹ đã không còn là mục tiêu chiến lược hàng đầu khi chế độ XHCN ở Đông
Âu và Liên Xô sụp đổ, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn lại như Trung
Quốc, Việt Nam... đang tiến hành cải cách theo hướng kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XXI, đặc biệt là từ sau sự kiện khủng bố
tại Mỹ ngày 11/9/2001, Mỹ đã điều chỉnh chiến lược toàn cầu và phát động
cuộc chiến chống khủng bố. Chống khủng bố đã trở thành ưu tiên số một,
quan trọng hơn bao giờ hết đối với nước Mỹ trong cả hai nhiệm kỳ của Tổng
thống G. Bush và cũng chính nó đã tạo ra những đổi thay trong chiến lược
toàn cầu của Mỹ nói chung, chính sách đối với CA-TBD và Đông Nam Á nói
riêng. Sự kiện 11/9 đã buộc chính quyền G. Bush phải xem xét lại chính sách
Đông Nam Á của mình. Sự hoạt động của các tổ chức Hồi giáo cực đoan, mối
liên hệ của chúng với tổ chức Al Qaeda là đe dọa lớn nhất đối với an ninh của
Mỹ. Đông Nam Á đã trở thành một trong những mặt trận chính trong cuộc
chiến chống khủng bố của Mỹ. Thông qua hoạt động chống khủng bố, Mỹ
tăng cường sự hiện diện quân sự tại khu vực đồng thời lôi kéo, gây áp lực với


đối ngoại của Mỹ đối với thế giới nói chung và khu vực Đông Nam Á nói


3

riêng từ lâu đã trở thành đề tài được giới nghiên cứu trong và ngoài nước
quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động đối ngoại. Đã có
nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề này ở những mức độ khác nhau.
Các công trình được xuất bản thành sách có thể kể đến: Mỹ thay đổi lớn chiến
lược toàn cầu của Lý Thực Cốc, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998, trong đó nêu lên
các chiến lược lớn của Mỹ đối với các khu vực trên thế giới; sự tranh giành
ảnh hưởng của Mỹ và Liên Xô trước đây và những dự đoán cho tương lai của
Mỹ; Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh
của Lê Khương Thùy, Nxb KHXH Hà Nội, 2003; Về chiến lược an ninh của
Mỹ hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004 của Lê Linh Lan (chủ biên); Nhân tố
địa - chính trị trong chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đối với khu vực Đông
Nam Á, Nxb CTQG, Hà Nội 2007 của Nguyễn Văn Lan (chủ biên) v.v...
Bên cạnh đó còn có các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước
như "Chính sách châu Á của Bill Clinton" của tác giả người Ấn Độ MV.
Rappai, Trung tâm Thông tin khoa học công nghệ môi trường - Bộ Quốc
phòng đã nêu lên chính sách đối ngoại của Tổng thống Mỹ Bill Clinton đối
với các khu vực và quốc gia ở châu Á, khẳng định sự can thiệp ngày càng
tăng của Mỹ vào CA-TBD; "Học thuyết Bush" của Jamie Glozov, Tạp chí
châu Mỹ ngày nay, số 2/2003; "Chính sách ngoại giao của Mỹ trong một thế
kỷ mới" của Ivoh Daaelder & James Lindsay, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số
06/2003; Hai bài viết "Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu sau chiến tranh
lạnh của Mỹ: từ George Bush (cha) đến Bill Clinton" đăng trên Tạp chí châu
Mỹ ngày nay, số 1/2001 và "Nhìn lại sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của
Mỹ sau Chiến tranh lạnh" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 1(68)
tháng 3/2007 của tác giả Hà Mỹ Hương đã nêu lên những nhân tố chi phối

thống G. Bush trong đó có chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
- Dự báo xu hướng chính sách của Mỹ với Đông Nam Á trong những
năm tới.
3.2. Nhiệm vụ


5

Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Phân tích chính sách Đông Nam Á của chính quyền Clinton từ đó rút
ra những thành công và hạn chế của chính sách này.
- Phân tích vị trí chiến lược của Đông Nam Á và nội dung cũng như
quá trình triển khai chính sách Đông Nam Á của chính quyền Bush, từ đó tìm ra
những điểm khác biệt so với chính sách Đông Nam Á của chính quyền Clinton.
- Phân tích chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong tổng thế chính
sách của Mỹ đối với Đông Nam Á.
3.3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách của Mỹ đối
với Đông Nam Á và việc triển khai chiến lược này trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, quân sự, đồng thời phân tích chính sách của Mỹ đối với Việt Nam
trong một số lĩnh vực chủ yếu.
- Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là thời gian từ khi
G. Bush lên cầm quyền (2001) đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những nhận định, đánh giá của Đảng và Nhà
nước ta về quan hệ quốc tế và chiến lược của Mỹ từ sau chiến tranh lạnh đến
nay. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một cách chọn lọc các công trình nghiên
cứu trong và ngoài nước về chính sách của Mỹ và việc triển khai đối với khu

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của luận văn bao gồm 3 chương với 7 tiết.


7

Chương 1
KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐÔNG NAM Á
CỦA CHÍNH QUYỀN BILL CLINTON (1992 - 2000)

1.1. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA CHÍNH QUYỀN B. CLINTON

Bill Cliton lên làm Tổng thống Mỹ trong bối cảnh thế giới bước vào
thời kỳ hậu chiến tranh lạnh sau sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu Liên Xô và sự tan rã của trật tự thế giới đối đầu hai cực. Những thay đổi này
lại được thúc đẩy nhanh thêm bởi sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ hiện đại. Nguy cơ chiến tranh giữa các nước lớn giảm
đi nhưng các xung đột lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo lại tăng lên cùng với những
mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Những vấn đề kinh tế nổi lên chiếm ưu
thế trong các chương trình nghị sự của tất cả các quốc gia. Do vậy, duy trì hòa
bình, ổn định trong môi trường quốc tế mới và tìm kiếm lợi thế tương đối
trong trật tự quốc tế mới đang hình thành là mục tiêu chiến lược của mỗi
nước.
Sau chiến tranh lạnh, nước Mỹ đứng trước những cơ hội và thách thức
đan xen nhau. Môi trường quốc tế về cơ bản thuận lợi cho việc thực hiện mưu
đồ bá chủ của Mỹ. Nước Nga đang trong thời kỳ chuyển đổi đầy khó khăn.
Các trung tâm kinh tế Nhật Bản, Tây Âu tuy mạnh nhưng chưa đủ tiềm lực
tổng hợp thách thức vị trí của Mỹ. Bên cạnh đó, sự tan rã của Liên Xô và hệ
thống XHCN là cơ hội to lớn để Mỹ truyền bá mô hình kinh tế thị trường và
dân chủ nhân quyền kiểu phương Tây ra toàn thế giới. Tuy nhiên, Mỹ lại phải

kinh tế của Mỹ; Thúc đẩy dân chủ nhân quyền ở nước ngoài [9, tr.11]. Trên
cơ sở đó, khi tập trung vào các mối đe dọa mới và các cơ hội mới, mục tiêu
chính của Mỹ là:"Tăng cường an ninh của Mỹ qua việc duy trì tiềm lực phòng
thủ mạnh và thúc đẩy các biện pháp hợp tác an ninh, khuyến khích sự thịnh
vượng kinh tế của Mỹ qua việc mở rộng của thị trường nước ngoài và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu; thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài" [9, tr.12].


9

Để thực hiện các mục tiêu này, chính quyền Clinton chủ trương xây dựng một
chính sách đối ngoại gồm ba nội dung chính:
Thứ nhất, khôi phục sức mạnh kinh tế Mỹ thông qua đẩy mạnh kinh tế
đối ngoại, tự do hóa thương mại toàn cầu nhằm đảm bảo an ninh kinh tế, trên
cơ sở đó hỗ trợ cho chiến lược quân sự quốc phòng, bảo vệ vững chắc vị trí bá
quyền của Mỹ. Giành lại vị thế lãnh đạo kinh tế trong nền kinh tế thế giới
được chính quyền Clinton coi là ưu tiên và lợi ích quốc gia sống còn của Mỹ
trong giai đoạn mới. Quyết tâm đó được Tổng thống B. Clinton khẳng định
trong tuyên bố nhậm chức ngày 20/1/1993:"Tôi sẽ tập trung vào kinh tế như một
chùm lase". Theo đó, kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong trong tất cả các
lĩnh vực trong đó có quan hệ đối ngoại: "Lợi ích kinh tế phải là trọng tâm chủ
yếu của chính sách đối ngoại Mỹ" [10, tr. 16] và: "Trên mặt trận kinh tế, chắc
chắn với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, hoạt động kinh tế do sự phụ thuộc
lẫn nhau nhiều hơn và sự thu hẹp lại của khoảng cách về thông tin liên lạc
ngày càng trở nên quan trọng trong chính sách đối ngoại của chúng ta" [60, tr.
25]. Xuất phát điểm của chính sách phục hồi kinh tế của chính quyền Clinton
là kinh tế đối ngoại gắn liền với kinh tế trong nước và do đó, cùng với các
chính sách kinh tế trong nước, thì chính quyền B. Clinton kiên trì theo đuổi tự
do hóa thương mại, coi đây là biện pháp chiến lược quan trọng nhất và là
động lực chính của chính sách kinh tế đối ngoại Mỹ.Với các nước đang phát

đã tìm nhiều cách để thúc đẩy dân chủ nhân quyền ở các nơi trên thế giới, đặc
biệt là ở các nước đang phát triển, đồng thời tác động vào các nước XHCN
còn lại. Những biện pháp chính quyền Clinton đã áp dụng là Bộ Ngoại giao
Mỹ nghiên cứu và viết báo cáo về tình trạng nhân quyền trên thế giới để gửi
Quốc hội, thông qua các Hội nghị nhân quyền quốc tế, các cơ chế đa phương
để tác động vào những nước mà Mỹ cho là "vi phạm nhân quyền". Ngoài ra,
Mỹ còn sử dụng các biện pháp kinh tế như gắn vấn đề dân chủ nhân quyền
với ưu đãi thương mại, Quy chế Tối huệ quốc, thậm chí cấm vận, cô lập chính
trị... Tuy nhiên, chính quyền Clinton cũng chủ trương không đặt ra yêu cầu
đạt được mục tiêu dân chủ nhân quyền bằng bất cứ giá nào trong quan hệ với


11

các nước, không để vấn đề này ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế và an ninh của
Mỹ.
Tóm lại, nhằm xây dựng sức mạnh một cách toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị tư tưởng, chiến lược đối ngoại của Mỹ sau
chiến tranh lạnh tập trung vào ba nội dung chính: an ninh kinh tế, an ninh
quân sự và thúc đẩy dân chủ nhân quyền. Đảm bảo lợi ích kinh tế được coi là
ưu tiên cao nhất của chính quyền Clinton nhưng sức mạnh quân sự vẫn được
chú trọng và lần đầu tiên, dân chủ nhân quyền được nâng lên thành một trụ
cột bên cạnh hai nội dung truyền thống là kinh tế và quân sự. Có thể nói, cơ
sở tư tưởng của chính sách đối ngoại của Clinton là sự kết hợp giữa chủ nghĩa
tự do và chủ nghĩa hiện thực, hay nói cách khác, đó là "chủ nghĩa hiện thực
dân chủ" theo cách gọi của chính Clinton.
1.2. NỘI DUNG VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH ĐÔNG
NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN B. CLINTON

Dưới chính quyền B. Clinton, CA-TBD ngày càng chiếm vai trò quan

cách chặt chẽ với Mỹ trong các mục tiêu về an ninh, kinh tế và chính trị [1, tr.
10].
Trên cơ sở những mục tiêu đó, chính quyền Clinton đã xây dựng chiến
lược châu Á - TBD bao gồm các nội dung: Thứ nhất, duy trì và tiếp thêm sinh
lực cho các liên minh trụ cột giữa Mỹ với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia,
Thái Lan và Philippines. Thứ hai, dính líu với các quốc gia hàng đầu khác
trong khu vực, trong đó có "các kẻ thù cũ" trong cuộc chiến tranh lạnh trước
đây. Thứ ba, xây dựng một cấu trúc khu vực để duy trì sự phát triển kinh tế,
thúc đẩy sự hợp nhất và bảo đảm sự ổn định lâu dài. Thứ tư, ủng hộ dân chủ
và nhân quyền phục vụ cho các lý tưởng cũng như các lợi ích của Mỹ [ 59, tr.
10].
Để thực hiện các mục tiêu trên, Mỹ tiếp tục nhấn mạnh đến việc củng
cố các liên minh song phương vốn là trọng tâm chiến lược của Mỹ trong suốt
hơn 40 năm qua, đồng thời tuyên bố rằng, Mỹ cam kết đóng góp tích cực vào


13

an ninh khu vực thông qua sự tham gia tích cực vào các diễn đàn đa phương
mới hình thành như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Theo quan điểm chiến
lược của Mỹ thì những cơ cấu đa phương đó "sẽ bổ sung chứ không phải thay
thế các quan hệ tay đôi của Mỹ trong khu vực" [58, tr. 8-9]. Đây là nét mới
trong chiến lược Đông Á, lần đầu tiên chính quyền Mỹ chú trọng hơn tới các
kênh hợp tác khác ngoài các liên minh song phương và ủng hộ những nỗ lực
tiến tới xây dựng cơ chế hợp tác an ninh đa phương ở khu vực. Những biện
pháp này của chính quyền Clinton là nhằm bảo đảm an ninh cho khu vực CATBD, từ đó tiếp tục mở rộng thương mại và tạo ra môi trường dân chủ có lợi
cho CNTB trên phạm vi toàn cầu. Chiến lược An ninh của Mỹ đối với khu
vực Đông Á - Thái Bình Dương (EASR) năm 1998 tiếp tục nhấn mạnh "sự
hiện diện (của Mỹ) ở tiền duyên, củng cố các liên minh song phương, và tham
gia tích cực trong các diễn đàn an ninh đa phương, đặc biệt là Diễn đàn Khu

định để phát triển. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, trong vấn đề xây dựng trật tự
thế giới mới ở khu vực CA-TBD, các nước lớn đều muốn khẳng định vai trò
ảnh hưởng của mình đối với khu vực. Tình hình đó giúp cho Đông Nam Á có
khả năng trở thành một nhân tố quan trọng cân bằng giữa các nước lớn. Đứng
trước cơ hội mới này, một số nước Đông Nam Á đã điều chỉnh chiến lược chỉ
dựa vào Mỹ và phương Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh sang thực hiện
chiến lược ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa. Ngoại trưởng Indonesia
Ali Alatas đã nói: "Chúng tôi không thể ngăn không cho bốn cường quốc
(Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga) vào khu vực này, nhưng phải cân bằng giữa họ
với nhau và giữa họ với ASEAN" [35, tr. 206]. Đây cũng là lý do khiến cho
ASEAN, một mặt vừa tiếp tục duy trì quan hệ song phương tốt đẹp với Mỹ,
Nhật, Trung Quốc, Nga, mặt khác cũng tỏ thái độ của mình trong việc quyết
định các công việc của Hiệp hội và khu vực chứ không hoàn toàn tuân theo "ý
kiến chỉ đạo" của các nước lớn. Điều này chứng tỏ ASEAN đã trở thành một
tổ chức khu vực ngày càng có uy tín và tự chủ hơn, họ có thể quyết định các
vấn đề của mình không cần sự can thiệp của các nước lớn.
Như trên đã đề cập, dân chủ nhân quyền là một trong 3 trụ cột chính
trong chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh lạnh. Ở châu Á, vấn đề này
được thể hiện rõ hơn bất cứ khu vực nào, đã có lúc nó được coi như ưu tiên
cao nhất và trở thành vấn đề nguyên tắc trong quan hệ giữa Mỹ với các nước
Đông Nam Á, cũng như với Nhật Bản và Trung Quốc, hai đối tượng chủ chốt


16

của Mỹ. Đây là một trong những vấn đề gay cấn biểu hiện rõ rệt nhất sự bất
đồng giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á, cũng như tính tự chủ của ASEAN
trong quan hệ với Mỹ. Giới chức Mỹ dưới chính quyền Clinton thường chỉ trích
mạnh những thành tích về nhân quyền tại các quốc gia ASEAN. Theo các nhà
nghiên cứu, sau chiến tranh lạnh, không một vấn đề nào trở thành trung tâm

quyền của mình mà ở đây chỉ đơn thuần là sự sắp xếp lại thứ tự các mục tiêu
mà thôi [72, tr. 96]. Nhân quyền vẫn tiếp tục là vấn đề tồn tại trong quan hệ
giữa Mỹ và ASEAN. Mỹ vẫn luôn nêu vấn đề nhân quyền của Indonesia và
Myanmar trong các Hội nghị PMC. Đặc biệt, việc các nước ASEAN tiếp nhận
Myanmar làm thành viên ASEAN bất chấp sự phản đối của Mỹ và các nước
phương Tây đã phản ánh sự mâu thuẫn trong cách nhìn nhận về vấn đề nhân
quyền của Mỹ và ASEAN. Đối với các nước ASEAN, việc kết nạp Myanmar
không chỉ nhằm thiết lập một tổ chức khu vực thống nhất, mà còn nằm trong
lợi ích của Đông Nam Á tránh việc Myanmar rơi vào quỹ đạo của một cường
quốc khu vực. Qua đó có thể thấy rõ tính độc lập tự chủ của ASEAN tăng lên
rõ rệt khi họ giành lấy quyền tự quyết của mình, như khẳng định của Bộ
trưởng Ngoại giao Indonesia, Chủ tịch ủy ban thường trực ASEAN Ali
Alatas: "Việc kết nạp ai là thành viên, dành cho nước nào quy chế quan sát
viên đó là quyền của ASEAN" cũng như việc các Bộ trưởng Ngoại giao
ASEAN khẳng định kiên quyết chống lại mưu đồ của bất cứ nước nào đưa
những vấn đề không liên quan đến thương mại như gắn tiêu chuẩn lao động
với vấn đề thương mại vào chương trình nghị sự cuộc họp cấp Bộ trưởng đầu
tiên của WTO tháng 12/1996 [7, tr. 2]. Có thể thấy, những thay đổi của thời
kỳ sau Chiến tranh lạnh đã tạo cho ASEAN một cơ hội đặc biệt để có thể phát
triển thành một lực lượng quan trọng ở CA-TBD mà Mỹ cũng phải tính tới
trong các vấn đề song phương và quốc tế.
1.2.2. Trong lĩnh vực quân sự - an ninh
Mặc dù coi kinh tế và dân chủ nhân quyền là những mục tiêu hàng đầu
trong chính sách đối ngoại của mình ở châu Á, nhưng Mỹ vẫn chú trọng đến
chính sách an ninh như một trụ cột quan trọng nhất của "Cộng đồng CA-


18

TBD" (quan điểm do Tổng thống Cliton đưa ra năm 1993) nhằm duy trì lợi

19

Philippines và Thái Lan. Đồng thời, lợi dụng mối lo ngại của các nước Đông
Nam Á, Mỹ thúc ép họ mở rộng thêm khả năng tiếp cận của Mỹ đối với khu
vực. Bởi vì, tuy Mỹ đã tái khẳng định cam kết của mình với các nước đồng
minh và bạn bè và tiếp tục có mặt trong khu vực CA-TBD, song sự điều chỉnh
chính sách của Mỹ và việc Mỹ rút quân khỏi Philippines vẫn gây cho các
nước này mối lo ngại về những nguy cơ tiềm tàng như việc Trung Quốc tăng
cường hiện đại hóa quân đội, sự thiếu tin cậy giữa các nước trong khu vực,
vấn đề Campuchia và nhất là vấn đề tranh chấp ở biển Đông. Ngoài ra, cùng
với việc giảm bớt sự có mặt ở CA-TBD, Mỹ đòi Nhật Bản phải gánh vác một
phần nghĩa vụ an ninh khu vực. Điều đó khiến cho các nước Đông Nam Á hết
sức lo ngại. Mặc dù Nhật Bản luôn tuyên bố không có ý định trở thành cường
quốc quân sự nhưng phần lớn các nước Đông Nam Á dù có cách nhìn khác
nhau về vai trò an ninh của Nhật đều không chấp nhận sự có mặt của quân đội
Nhật ở Đông Nam Á. Chẳng hạn, năm 1997, khi Mỹ và Nhật sửa đổi Hiệp
ước an ninh chung và coi vùng biển Đông Nam Á thuộc phạm vi phòng thủ
chung của mình thì các nước ASEAN đã phản đối quyết liệt. Cuối cùng, Mỹ,
Nhật đã phải đặt vùng biển Đông Nam Á ngoài phạm vi phòng thủ [33, tr. 5].
Sự phản ứng này cho thấy tính chủ động tăng lên của ASEAN trong cả các
vấn đề an ninh khu vực. Song chính vì những nguyên nhân nói trên, các nước
ASEAN vẫn muốn tiếp tục duy trì sự hợp tác an ninh với Mỹ. Quan hệ quân
sự giữa Mỹ và một số nước thành viên ASEAN như Philippines, Thái Lan
vẫn được tiến hành thông qua các cuộc tập trận song phương hay đa phương
hàng năm, thậm chí các nước ASEAN khác như Singapore, Indonesia cũng đã
tiến hành các cuộc tập trận với các lực lượng vũ trang của Mỹ. Năm 1995, Mỹ
và Thái Lan đã tiến hành 35 cuộc tập trận và năm 1996 có cuộc tập trận lớn
mang tên "Hổ mang vàng". Để chia sẻ trách nhiệm, Mỹ khuyến khích
Australia tiến hành các cuộc tập trận chung với các nước ASEAN. Ngoài ra,
các nước ASEAN còn tăng cường khả năng phòng thủ thông qua các quan hệ

trung lập (ZOPFAN); hơn nữa, Thái Lan cần thúc đẩy quan hệ mọi mặt với
các nước láng giềng để thực hiện chính sách ngoại giao đa phương của mình,
do đó chính phủ Thái Lan đã quyết định từ chối lời đề nghị của Mỹ về kho vũ
khí nổi. Như vậy, mặc dù rút hết lực lượng quân sự ở Philippines nhưng thực


21

chất Mỹ vẫn mong muốn duy trì sự có mặt ở Đông Nam Á dưới hình thức
khác, không thường trực. Tuy nhiên, với lực lượng phản ứng linh hoạt và
trang thiết bị hiện đại, Mỹ có khả năng khi cần điều quân từ vùng biển nọ
đến vùng biển kia dễ dàng và như vậy sẽ đỡ tốn kém hơn nhiều so với việc
chi phí để lập một căn cứ quân sự mới trong khi các nước trong khu vực
không muốn điều đó [23, tr. 23-27]. Do vậy, Mỹ cũng không quá sốt sắng
trong việc ép buộc các nước ASEAN chấp thuận sự trở lại của quân đội Mỹ.
Về phần mình, các nước ASEAN cũng không muốn Mỹ đặt căn cứ
quân sự trong khu vực. Ngày 2/11/1994, khi đề cập về vấn đề này, Bộ trưởng
Ngoại giao Indonesia đã nêu rõ: "Cần có Mỹ ở châu Á như một nhân tố cân
bằng nhưng sự hiện diện của họ không phải dưới hình thức căn cứ quân
sự"[28,tr.193] Chính vì vậy, Thái Lan đã từ chối đề nghị của Mỹ đặt các căn
cứ quân sự trên lãnh thổ của mình. Ngày 30/10/1994, Bộ trưởng Nội vụ Thái
Lan Chao Valit cảnh cáo việc Mỹ đưa vũ khí đến vịnh Thái Lan có thể gây ra
lo ngại cho các nước láng giềng. Để đảm bảo an ninh và tăng cường tính tự
chủ, giữa các nước ASEAN đã tăng cường hợp tác quân sự với nhau. Ngày
22/7/1992, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 25 ở Manila,
Tổng thống Philippines Fidel Ramos kêu gọi hợp tác phòng thủ chung giữa
các nước ASEAN. Ngày 2/8/1994, Malaysia và Philippines ký Hiệp ước
phòng thủ chung. Đặc biệt, các nước ASEAN đã đưa ra sáng kiến biến Đông
Nam Á thành khu vực phi vũ khí hạt nhân. Từ ngày 14 đến 15/12/1995, Hội
nghị cấp cao ASEAN lần thứ năm họp tại Bangkok đã ký kết Hiệp ước khu

7-11] Như vậy, nếu ở đây xảy ra xung đột sẽ có thể làm gián đoạn việc vận
chuyển này và có ảnh hưởng có hại đến các nền kinh tế ở khu vực lẫn nền
kinh tế của Mỹ, nhất là khi có khoảng 87% lượng dầu nhập khẩu từ Trung
Đông được vận chuyển qua các con đường biển Đông Nam Á. Có thể thấy,
biển Đông có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt chiến lược, quân sự lẫn
kinh tế không chỉ với các nước trong khu vực mà cả đối với Mỹ.
Trong một thời gian dài trước đây, Mỹ luôn giữ lập trường "không can
thiệp" vào tranh chấp ở biển Đông, ngay cả trong vụ xung đột giữa Trung
Quốc với Việt Nam tại Trường Sa năm 1988, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình
Dương của Mỹ tuy nhận định đây là vụ việc "hết sức nghiêm trọng", nhưng
Mỹ vẫn "không can thiệp". Sau chiến tranh lạnh, khi tranh chấp chủ quyền ở
biển Đông ngày càng phức tạp, Mỹ bắt đầu thay đổi chính sách. Ngày


25

25/2/1992, khi Trung Quốc công bố "Luật lãnh hải", xác định chủ quyền về
mặt pháp lý đối với biển Đông, Mỹ tỏ ra lo ngại. Mỹ tuyên bố nếu có quốc gia
nào sử dụng vũ lực để giành chủ quyền ở Trường Sa, họ sẽ có thể can thiệp.
Tuy nhiên, ở thời kỳ này, khi Mỹ chưa điều chỉnh chiến lược an ninh CATBD, mặc dù quan tâm đến tranh chấp ở quần đảo Trường Sa cũng như các
vấn đề thuộc biển Đông và lo ngại về xung đột vũ trang tiềm tàng nảy sinh từ
những tranh chấp này, nhưng lập trường không can thiệp của Mỹ vẫn giữ
nguyên. Sự quan tâm của Mỹ đối với vấn đề này thực sự rõ rệt và mang tính
thực chất là từ năm 1995, khi Philippines phát hiện thấy Trung Quốc xây
dựng các kết cấu tại đảo Vành Khăn cách đảo Palawan của Philippines 135
dặm về phía Tây. Các hành động phản ứng gay gắt của các bên tranh chấp có
nguy cơ làm bùng lên thành xung đột ảnh hưởng đến an ninh khu vực. Đây là
một trong những nguyên nhân khiến cho Mỹ tỏ rõ lập trường đối với vấn đề
này. Mỹ bắt đầu chuyển quan điểm từ trung lập bị động sang trung lập tích
cực (active neutrality). Trong Bản báo cáo về Chiến lược an ninh quốc gia của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status