Chính sách của Australia đối với ASEAN từ 1996 đến nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG HỮU THÁM CHÍNH SÁCH CỦA AUSTRALIA
ĐỐI VỚI ASEAN TỪ 1996 ĐẾN NAY
CHUYÊN NGÀNH: QUAN HỆ QUỐC TẾ HỌC
MÃ SỐ: 60.31.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. VŨ TUYẾT LOAN



2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

07

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

08

4. Phương pháp nghiên cứu

08

5. Nguồn tài liệu nghiên cứu

08

6. Đóng góp của luận văn

09

Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ QUTẾT ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA
AUSTRALIA ĐỐI VỚI ASEAN
10

1.1. Những nhân tố quyết định chính sách của Australia đối với


2

Chương 2
CHÍNH SÁCH CỦA AUSTRALIA ĐỐI VỚI ASEAN
TỪ 1996 ĐẾN NAY
24

2.1. Sự thay đổi Chính phủ và Đảng cầm quyền

24

2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực

24

2.3. Những điều chỉnh trong chính sách của Chính phủ Liên minh
Tự do - Dân tộc đối với ASEAN

25

2.4. Chính sách của Australia đối với ASEAN và một số nước
thành viên

29

2.4.1. Quan hệ với ASEAN từ năm 1996 đến nay 3
Chương 3
TRIỂN VỌNG HỢP TÁC AUSTRALIA - ASEAN TRONG TIẾN
TRÌNH THƯỢNG ĐỈNH ĐÔNG Á 103

3.1. Bối cảnh mới của quốc tế và khu vực

103

3.2. Tác động của các nước lớn đối với quan hệ Australia và
ASEAN

105

3.3. Tác động từ nhu cầu thực tiễn

107

3.4. Thái độ của các nước ASEAN đối với vai trò và vị trí của
Australia ở châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á

108


AAECP
ASEAN-Australia Economic Cooperation Program
Ch-ơng trình Hợp tác Kinh tế ASEAN - Australia
AAF
ASEAN-Australia Forum
Diễn đàn ASEAN Australia
AIDA
Australia-Indonesia Development Area
Khu vực phát triển Kinh tế Australia và Indonesia
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu dịch Mậu dịch Tự do ASEAN
AFTA-CER
ASEAN Free Trade Area-Closer Economic Relationship
Khu vực Tự do th-ơng mại ASEAN và Quan hệ Kinh tế Gần gũi
AMBC
Australia-Malaysia Business Council
Hội đồng Kinh doanh Australia-Malaysia
ANZCER
Australia - New Zealand Closer Economic Relationship
Quan hệ Kinh tế Mật thiết Australia và New Zealand
ANZUS
Australia-New Zealand and United States Security Pact
Hiệp -ớc An ninh Australia - New Zealand và Hoa Kỳ
APEC
Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình D-ơng
ASEAN
Association of South East Asian Nations
Hiệp hội các Quốc các gia Đông Nam á

Foreign Direct Investment
Đầu t- Trực tiếp N-ớc ngoài
FPDA
Five Power Defence Arrangement
Hiệp -ớc Phòng thủ Năm Quốc gia
GATS
General Agreement on Trade and Serveces
Thoả thuận chung về Th-ơng mại và Dịch vụ (WTO)
GATT
General Agreement on Tariffs and Trade
Thoả thuận chung về Th-ơng mại và Thuế quan (WTO)
HPA
Hanoi Plan of Action
Kế hoạch Hành động Hà Nội
MAJDP
Malaysia -Australia Joint Defence Program
Ch-ơng trình Phòng thủ chung Malaysia - Australia
MFA
Ministry of Foreign Affairs
Bộ Ngoại giao
MRA
Mutual RecognitioneAgreement
Thoả thuận công nhận lẫn nhau
NGO
Non Government Organization
Các Tổ chức Phi chính phủ
NTM
Non-Tariff Measures
Các biện pháp Phi thuế quan
SEARP

cường, cải thiện.
Việt Nam là một thành viên của ASEAN, đồng thời là đối tác bạn hàng khá
quan trọng của Australia, do vậy việc tìm hiểu “Chính sách của Australia đối với
ASEAN từ 1996 đến nay” còn có ý nghĩa là góp phần xác định rõ hơn vai trò, tầm
quan trọng và tác động qua lại của quan hệ song phương giữa hai nước Việt Nam -
Australia trong quan hệ đa phương của nhiều quốc gia với Australia và ASEAN.
Việc nghiên cứu Australia, cũng như quan hệ của Australia với các nước
ASEAN ở các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng không được chú
trọng suốt một thời kỳ dài, cho đến tận ngày nay.
Chính vì những lý do trên nên tôi quyết định chọn vấn đề “Chính sách của
Australia đối với ASEAN từ 1996 đến nay” làm đề tại luận văn Thạc sĩ của mình.

7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một số công trình liên quan đến đề tài về quan hệ Australia và ASEAN: cho
tới nay các công trình về đề tài này chủ yếu vẫn gắn với tên tuổi của các học giả
Australia nhiều hơn, hoặc các Viện Nghiên cứu của Australia.
Có thể kể ra một vài công trình nghiên cứu của các học giả Australia như:
Cựu Thủ tướng Australia, G. Whitlam, với cuốn “Australia và châu Á”(Australia
and Asia – The Flinders University of South Australia, July 1979); và công trình
“Cộng đồng Thái Bình Dương”(A Pacific Community- The Harvard University
Press); Ngoại trưởng Australia G. Evans với cuốn sách “Quan hệ đối ngoại của
Australia trên thế giới trong những thập niên 1990” (Australia’s foreign Relations
in the world of the 1990s) v.v.
Còn việc nghiên cứu vấn đề này ở các nước Đông Nam Á nói chung và Việt
Nam nói riêng còn rất ít ỏi.
Ở Việt Nam mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về đề tài này, như

quyền lãnh đạo từ Công Đảng, đứng đầu là Thủ tướng Paul Keating sang một Chính
phủ Liên hiệp mới (Chính phủ Liên minh giữa Đảng Dân tộc và Đảng Tự do của
Australia), đứng đầu là tân Thủ tướng John Howard (từ 1996 đến 2007).
*Đối tượng nghiên cứu của công trình này là quan hệ của Australia đối với
ASEAN và được thể hiện qua quan hệ với một số nước thành viên như: Indonesia,
Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Do giới hạn của một Luận văn Thạc sĩ, vì thế
trong 10 nước ASEAN, em chỉ chọn bốn nước tiêu biểu cho những biểu hiện rõ nét
chính sách của Australia đối với ASEAN.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn trình bày các vấn đề theo phương pháp lịch sử và phương pháp
logic, đồng thời trong luận án cũng sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê, biên
niên, đối chiếu so sánh và biểu đồ.v v. trong mối quan hệ biện chứng giữa logic và
lịch sử.
5. Nguồn tài liệu nghiên cứu
- Những tư liệu chính thống bằng tiếng Anh và tiếng Việt.

9
- Các ấn phẩm do NXB Quốc gia Australia; của Bộ Ngoại giao Australia.
- Các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt, tiếng Anh của các tác giả trong
và ngoài nước.
- Hồi ký của các nhà hoạt động chính trị Australia và các Diễn văn của các
nguyên thủ các nước ASEAN v.v.
- Báo và tạp chí (tiếng Việt và tiếng Anh)
- Tài liệu cập nhật trên mạng Internet bằng tiếng Anh.
6. Đóng góp của luận văn
Thứ nhất “Chính sách của Australia đối với ASEAN từ 1996 đến nay” là
một trong những đề tài luận văn đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về chính sách của
Australia đối với ASEAN (với tư cách là một tổ chức) và Australia với một số nước
thành viên của ASEAN, dự báo triển vọng của mối quan hệ này trong tiến trình
Thượng đỉnh Đông Á, đồng thời luận văn bước đầu đưa ra một vài nhận xét về mối

hệ với những quốc gia ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sự cách biệt khá nghiệt
ngã của thiên nhiên đã được các nhà sử học Australia gọi là “nền chuyên chế của
khoảng cách”, đã tạo nên một dân tộc khá đặc biệt ở phương Nam, đó là người
Australia.
Australia là một nước tư bản chủ nghĩa theo mô hình phát triển phương Tây.
Tính chất tư bản chủ nghĩa của Australia được thể hiện trong mọi mặt, từ kinh tế,
chế độ chính trị đến các hệ thống giá trị văn hoá, tinh thần.
Lịch sử Australia từ khi hình thành Liên bang (1901) đến nay, nhìn từ bên
trong, về căn bản, phát triển khá ổn định dựa trên những nhân tố sau: nền kinh tế tư
bản chủ nghĩa của Australia có trình độ phát triển khá cao, hệ thống chính trị dựa

11
trên các truyền thống, cấu trúc và giá trị mang tính dân chủ phương Tây điển hình.
Tính chất ổn định có thể nhận thấy qua nhiều biểu hiện cụ thể. Từ khi thành lập
Liên Bang và nhất là từ sau 1945 đến nay, các cuộc bầu cử nghị viện và chính phủ ở
Australia đều đưa đến sự cầm quyền của hai Đảng chủ chốt, đó là Công Đảng
(Labour Party) và Liên Đảng Tự do - Quốc gia (Liberal-National Party). Nhưng sự
khác nhau trong đường lối căn bản của chính sách đối nội, đối ngoại của hai đảng là
không đáng kể, nếu có chăng chỉ dừng lại ở ”mức độ” và “biện pháp” của các chính
sách này, hơn là thay đổi mục tiêu và bản chất. Đường lối đối ngoại của hai đảng
này nhìn chung là thống nhất.
* Hai yếu tố căn bản đóng vai trò nền tảng chi phối chính sách đối ngoại
tổng thể của Australia thể hiện như sau:
Một là yếu tố bên trong của chính sách đối ngoại. Tính chất tư bản chủ nghĩa
của hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội ở Australia hướng chính sách đối ngoại đến
mục tiêu là gìn giữ và phát triển hơn nữa mối quan hệ của Australia với thế giới tư
bản phương Tây. Dù là Công Đảng hay Đảng Tự do Quốc gia cầm quyền thì đường
lối đối ngoại của Australia không có thay đổi lớn, vẫn kiên trì bảo vệ chế độ tư hữu
và nền kinh tế thị trường.
Hai là đặc thù về địa - chính trị và dân cư chi phối. Với diện tích đất đai 7,69

cứu thì nó sẽ là trung tâm kinh tế thế giới trong tương lai mà hiện nay điều đó đang
trở thành sự thật. Với những ưu đãi trên, cả Australia và các thành viên ASEAN đều
có nhiều lợi ích chung có thể và cần phải chia sẻ với nhau.
Bên cạnh đó, sau Chiến tranh Lạnh, thế giới đã hoàn toàn thay đổi không chỉ
về mặt chính trị, an ninh - quốc phòng mà thay đổi sâu sắc trên cả phương diện kinh
tế. Sự xuất hiện của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế, buộc các nước nếu
không muốn bị cô lập và tụt hậu cần phải hợp tác với các nước, các tổ chức kinh tế
trong khu vực và toàn cầu trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
Về mặt chính trị, an ninh- quốc phòng, sau Chiến tranh Lạnh các nước trở
nên thận trọng hơn với an ninh của nước mình. Chính vì vậy, sự hợp tác giữa các
nước và các tổ chức về an ninh- quốc phòng thông qua các cuộc đối thoại sẽ giúp
các nước hiểu biết nhau hơn, nhận thức sâu sắc về nhau để tránh những cuộc xung
đột không đáng có như trong quá khứ. Và tất nhiên, Australia và ASEAN không
nằm ngoài xu thế này. 13
1.1.2. Nhân tố chủ quan
Cả Australia và ASEAN đều có nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và
phong phú. ASEAN với diện tích 4.480.000 km
2
, là nơi đủ các hương liệu quý và
khoáng sản… Australia cũng rộng không kém với diện tích vào khoảng 7.686.850
km
2
là nơi hội tụ của các nguồn tài nguyên. Vì vậy, hai bên có thể hợp tác khai thác
tiềm năng này.
Dân số của ASEAN có đến 592 triệu người (2004), là một thị trường lao
động và tiêu thụ hấp dẫn đối với Australia, giúp Australia khắc phục được tình trạng
thiếu nhân công lao động trong nước. Đổi lại, với sự phát triển mạnh mẽ về khoa

hộ các biện pháp hoà bình, đàm phán song phương và đa phương giữa các nước
tuyên bố chủ quyền để giải quyết các tranh chấp đó. Các nước ASEAN còn có một
tầm quan trọng chiến lược đối với Australia ở chỗ, đó là nhóm các quốc gia láng
giềng châu Á gần gũi nhất của nó và điều này đã đưa đến những yếu tố rất nhạy
cảm về an ninh và quốc phòng của Australia. Chiến tranh thế giới thứ II đã cho thấy
Đông Nam Á là khu vực mà từ đó, hoặc qua đó, đối phương có thể tấn công được
vào lãnh thổ thưa thớt dân cư phía Bắc của Australia như Nhật Bản đã làm vào nửa
đầu năm 1942.
Những đặc thù về địa lý cho thấy, cả trên lý thuyết lẫn thực tế, Đông Nam Á
chiếm một vị trí chiến lược quan trọng đối với an ninh và quốc phòng của các nước
trong khu vực rộng lớn châu Á- Thái Bình Dương, đặc biệt là của Australia. Giữ gìn
môi trường an ninh cho khu vực, thiết lập những định chế trên cơ sở đa phương để
duy trì sự ổn định, bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải và hình thành các hệ thống
kiểm soát để tất cả các thành viên đều được bình đẳng trong việc chia sẻ lợi ích từ
khu vực, rõ ràng đã trở thành vấn đề có tính mục đích và tính định hướng cao. Tuy
nhiên, vấn đề nhận thức về lợi ích an ninh-quốc phòng của các nước rất khác nhau,
và trên thực tế chưa bao giờ đạt đến sự đồng thuận và hợp tác chặt chẽ của tất cả các
thành viên khu vực.
Australia chia sẻ vị trí địa lý với các nước ASEAN một cách trực tiếp, gần gũi
hơn, so với Mỹ, Canada, Nhật Bản. Đặc điểm này khiến cho tính chất tác động và
phụ thuộc lẫn nhau về an ninh và quốc phòng giữa Australia và cả New Zealand với

15
các nước khu vực Đông Nam Á trở thành nhân tố khá quan trọng chi phối mối quan
hệ của hai bên. Các chính sách phòng thủ an ninh của Australia qua nhiều giai đoạn
lịch sử đều được xây dựng xuất phát từ cơ sở nhận thức rằng, những đe doạ đối với
sự ổn định và an ninh của Đông Nam Á sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh của
Australia.
Đối với ASEAN, sau Chiến tranh Lạnh, khoảng trống quyền lực vẫn còn đó,
trong khi đó, sự phát triển của Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ thì rất mạnh mẽ và

minh có Mỹ tại khu vực như ANZUS và Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á
(SEATO).
1.2.2. Chính sách của Australia đối với tổ chức ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập vào tháng
8/1967, ngay từ khi thành lập, Australia đã đặt quan hệ với tổ chức này nhưng tiến
triển chậm.
Những năm đầu tiên, Australia coi tổ chức này một kiểu liên minh quân sự
mà Australia có thể tham gia. Australia đã không nhận thức đầy đủ và đúng đắn
mục tiêu cũng như tính chất chủ nghĩa khu vực mà ASEAN đưa ra trong tuyên ngôn
thành lập, đó là nhấn mạnh vào hợp tác kinh tế, chính trị, văn hoá giữa các thành
viên. Do đó, vào năm 1971, khi cán cân lực lượng giữa các siêu cường bắt đầu có
những dấu hiệu thay đổi quan trọng, đặc biệt dưới tác động của việc nối lại quan hệ
Trung- Mỹ, cải thiện quan hệ Xô- Mỹ, các nước ASEAN đã tán thành đề nghị của
Malaysia về việc thiết lập ở Đông Nam Á một “Khu vực hoà bình, tự do và trung
lập” (ZOPFAN-Zone of Peace, Freedom and Neutrality), thì Chính phủ Australia đã
cho đề nghị này là “không hiện thực”. Thực ra, đề nghị này là một bằng chứng cho
thấy, trên tư cách là một tổ chức, ASEAN né tránh có chủ ý việc liên kết về an ninh
và quốc phòng.
Theo đánh giá của Frank Frost, phụ trách Phòng đối ngoại của Ban nghiên
cứu trực thuộc Quốc hội Australia thì “cho đến tận năm 1972, ASEAN chưa có vai
trò gì đáng kể trong nhận thức của Australia ở Đông Nam Á”[88, tr.264].
Mối quan hệ bắt đầu thay đổi (song cũng chủ yếu diễn ra trong nhận thức)
với việc Công Đảng, đứng đầu là Thủ tướng Whitlam lên nắm quyền ở Australia

17
năm 1972. Chính vì vậy mà Australia là nước đầu tiên không phải là thành viên đã
thiết lập quan hệ chính thức với ASEAN, sự kiện được ghi dấu bằng việc thành lập
“Chương trình hợp tác kinh tế Australia- ASEAN” (AAECP: The ASEAN-
Australian Economic Co-operation Programme) vào tháng 4/1974 tại Canberra.
* Về quan hệ kinh tế

năm quốc gia (FPDA); Hợp tác song phương; Vấn đề người tỵ nạn Đông Dương;
“Chương trình hợp tác phòng thủ” (DCP: Defence Co-operation Program) tập
trung vào việc đào tạo, và một mức độ thấp hơn, là cung cấp các trang thiết bị; và
các hoạt động trong lĩnh vực chống buôn bán, vận chuyển, sử dụng các loại chất
kích thích như thuốc phiện, ma tuý. Khu “Tam giác vàng” nằm giữa Thái Lan,
Myanma và Lào chính là lãnh địa của bọn buôn lậu thuốc phiện, ma tuý quốc tế,
đem lại sự lo lắng bất ổn định không chỉ cho các quốc gia Đông Nam Á, mà còn
cho có “người láng giềng” Australia. Do đó, Australia đã có những sự giúp đỡ thiết
thực cho một số quốc gia khu vực trong việc kiểm soát, ngăn chặn việc buôn bán và
nhất là việc vận chuyển các loại chất kích thích, như Thái Lan chẳng hạn.
1.2.3. Chính sách của Australia đối với các nước Đông Dương
Từ những năm của thập niên 50 các nhà hoạch định chính sách Australia đã
coi Đông Dương là cửa ngõ phòng thủ của vùng Đông Nam Á và cho rằng khi đã
giữ được Đông Dương, về mặt phòng thủ chiều sâu thì Australia và New Zealand đã
có được một khoảng đệm an ninh cho mình.
Khu vực Đông Dương luôn thử thách chính sách ngoại giao của Australia ở
Đông Nam Á, đặc biệt là từ đầu thập niên 1980 trở đi.
Sau khi lên cầm quyền tháng 12/1975, quan điểm của Chính phủ Liên Đảng
Tự Do – Quốc gia Fraser đối với Đông Dương vẫn tiếp tục thực thi các chính sách
của Chính phủ tiền nhiệm là Thủ tướng Whitlam, củng cố vai trò khu vực của Việt
Nam nhằm đưa đến sự tồn tại hòa bình giữa các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn
sau chiến tranh.

19
Australia đã có quan hệ với Campuchia từ những năm 1950, sau sự kiện
7/01/1979 Việt Nam giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Pôn Pốt, thiết lập nên
Nhà nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, các nước Phương Tây, đứng đầu là Mỹ
và tổ chức ASEAN coi đó là hành động của Việt Nam là hành động xâm lược và coi
Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Campuchia do Hên Xom Rin làm Chủ tịch là “bù
nhìn”, là “tay sai của Việt cộng”.

Những thành quả do những nỗ lực của Australia ở Campuchia đem lại chính
là kết quả tốt đẹp của việc thực hiện chính sách mới về Đông Dương của Australia
từ khi Công Đảng lên nắm chính quyền (1983), đặc biệt là từ năm 1988 trở đi. Tiến
trình này đã được Việt Nam, Lào, Campuchia nhận thức một cách đầy đủ.
Ngay từ năm 1986, trong báo cáo chính trị của đại hội VI Đảng Cộng sản
Việt Nam, Australia đã được nêu lên với tư cách là một quốc gia mà Việt Nam
mong muốn phát triển mạnh mẽ các mối quan hệ. Buôn bán hai chiều Australia –
Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng vào cuối thập niên 80, từ dưới 5 triệu AUD năm
1984, đã lên đến gần 40 triệu AUD trong năm 1990. Việt Nam là nước thu hút sức
mạnh sự quan tâm của các nhà đầu tư Australia, hứa hẹn triển vọng làm ăn rất tốt
đẹp, nhất là khi tiến trình chuyển “Từ chiến trường thành thị trường” đã tỏ ra rất có
hiệu quả.
Buôn bán hai chiều của Australia với Lào và Campuchia vẫn còn rất thấp,
chưa tới 2 triệu AUD đối với mỗi nước.
Viện trợ vẫn là hoạt động của Australia ở Đông Dương: Trong năm 1990 –
1991, Việt Nam đã nhận hơn 10 triệu trong tổng số 27,2 triệu AUD mà Chính phủ
Australia dành cho khu vực Đông Dương.
Tại Lào, năm 1989, thủ tướng Australia Bob Hawke đã thông báo quyết định
viện trợ cho quốc gia này số tiền 31 triệu AUD, phần lớn để xây dựng chiếc cầu
vượt sông MêKông, nhằm góp phần mạnh mẽ vào việc giảm bớt những căng thẳng
ở khu vực Đông Dương cũng như để thúc đẩy quan hệ buôn bán Thái Lan – Lào.

21
Tại Campuchia, hoạt động viện trợ của Australia thông qua các tổ chức quốc
tề như UNICEF, IRRI và các tổ chức phi Chính phủ khác đã đem đến cho nhân dân
ở đây thực phẩm, đuều kiện để chăm sóc y tế, giáo dục, tổng số tiền viện trợ năm
1989- 1990 là 8,6 triệu AUD.
Như vậy, đến những năm đầu của thập niên 90, quan hệ giữa Australia và ba
nước Đông Dương đã có những bước cải thiện đáng kể về nhiều mặt. Tuy nhiên,
hành động của Australia cũng đã bị phản đối từ các nước ASEAN, Mỹ và Trung

Tuy nhiên, vào những năm đầu của thập kỷ 90, cụ thể là giai đoạn 1991-
1996, có thể nói rằng những điều chỉnh với định hướng khu vực của Chính phủ
Công Đảng của Thủ tướng Paul Keating là tiếp tục theo đuổi chính sách “hướng về
châu Á” hay “hội nhập châu Á”, thúc đẩy quan hệ Australia- ASEAN phát triển.
Đây là “giai đoạn hoàng kim trong quan hệ hợp tác Australia-ASEAN”.
Về mặt nhận thức, Việc Australia định lại vị trí, mục tiêu trở thành một quốc
gia châu Á thực thụ và từ đó đưa ra hàng loạt chiến lược quan trọng để hội nhập vào
châu Á trên mọi lĩnh vực, đã cho thấy Australia dứt khoát thừa nhận vị trí địa lý
thực tế của mình một cách tích cực nhất, rũ bỏ đi tình trạng phân thân và định kiến
nặng nề từng gây nhiều khó khăn và làm chệch hướng chiến lược quốc gia của
Australia trong một thời kỳ dài.
Về chính trị, an ninh và quốc phòng, Australia luôn thừa nhận tầm quan
trọng có tính sống còn của khu vực Đông Nam Á đối với an ninh và quốc phòng của
Australia, song cách tiếp cận và phương thức tìm kiếm những lợi ích an ninh đó đã
thay đổi, thậm chí có những khía cạnh thay đổi căn bản và sâu sắc. Chính sách
“tham dự toàn diện” của chính phủ Australia cho thấy dưới thời Thủ tướng Paul
Keating đã có bước chuyển biến căn bản trong đường lối tìm kiếm, xây dựng lợi ích
an ninh và quốc phòng của Australia ở Đông Nam Á.
Về kinh tế, ASEAN đang ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế, an ninh, phòng thủ của khu vực, trở thành biểu tượng thành
công của xu thế liên kết khu vực. Thực tế này khiến cho nhận định của Australia
rằng khu vực này sẽ dần thay thế Đông Bắc Á để trở thành một nơi có nhịp độ tăng

23
trưởng mạnh nhất châu Á-Thái Bình Dương là có cơ sở, và chiến lược hội nhập
châu Á của Australia do đó tập trung tiêu điểm vào ASEAN. Điều đó cho thấy
Australia có một nhận thức tỉnh táo và biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, quá trình
thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ kinh tế, thưng mại giữa Australia với các nước
ASEAN còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng khác nữa, và tiến trình hợp tác
này dù đã có một vài thành công vẫn chỉ là những bước đi căn bản đầu tiên. Tuy

nghĩa xã hội lâm vào tình trạng thoái trào. Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi,
nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc và tôn giáo, chạy đua
vũ trang, hoạt động can thiệp khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày
càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch nền cơ cấu
kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội. Cộng đồng thế giới
đang đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu (như vấn đề môi trường, dân số,
bệnh tật, năng lượng…). Các nước lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
hợp tác và liên kết khu vực về kinh tế, thương mại, chính trị, quân sự và nhiều lĩnh
vực khác.

Trích đoạn Quan hệ Australia-ASEAN thụng qua sự liờn kết AFTA-CER Quan hệ Australia – Indonesia. Quan hệ Australia-Singapore Quan hệ Australia-Thỏi Lan Quan hệ Australia-Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status