ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
Nguyễn Xuân Tùng
CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAN
TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
Nguyễn Xuân Tùng
CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAN
TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Tuấn Minh
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ CỦA HỘI ĐỒNG
CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
1.2. Nhân tố bên ngoài ..................................................................................... 22
1.2.1. Cục diện khu vực ........................................................................... 22
1.2.2. Ảnh hưởng, vai trò của Iran ở Trung Đông .................................. 25
1.2.3. Lợi ích của các đồng minh Trung Đông của Mỹ ........................... 29
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 31
Chương 2. CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAN DƯỚI THỜI
TỔNG THỐNG B.OBAMA VÀ D.TRUMP ............................................... 32
2. 1. Chính sách của Mỹ đối với Iran thời kỳ Tổng thống B. Obama
(2009 - 2016) ................................................................................................... 32
2.1.1. Mục tiêu, nội dung chính sách ....................................................... 32
2.1.2. Triển khai chính sách .................................................................... 35
2.1.3. Đánh giá kết quả triển khai chính sách ......................................... 40
1
2.2. Chính sách của Mỹ đối với Iran thời Tổng thống D. Trump
(2017 đến nay) ................................................................................................. 42
2.2.1. Mục tiêu, nội dung chính sách ....................................................... 42
2.2.2. Triển khai chính sách .................................................................... 45
2.2.3. Đánh giá kết quả triển khai chính sách ......................................... 49
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 52
Chương 3. TÁC ĐỘNG VÀ MỘT SỐ DỰ BÁO ........................................ 54
3.1. Tác động của chính sách ........................................................................... 54
3.1.1. Tác động đối với Mỹ ...................................................................... 54
3.1.2. Tác động đối với Iran .................................................................... 57
3.1.3. Tác động đối với thế giới, khu vực ................................................ 59
3.1.4. Tác động đối với Việt Nam ............................................................ 61
3.2. Một số dự báo về xu hướng chính sách của Mỹ đối với Iran
thời gian tới ...................................................................................................... 63
3.2.1. Cơ sở của các dự báo .................................................................... 63
Sau khủng hoảng 2008, tình hình Trung Đông ngày càng bất ổn, nhiều
vấn đề mới phát sinh, diễn biến phức tạp, vị thế vai trò của Iran ở khu vực
ngày càng được tăng cường, đặc biệt, khi thông tin về chương trình hạt nhân
phi hòa bình của Iran được công bố. Điều này cũng thôi thúc Mỹ tăng cường
gây sức ép, tìm cách kiểm soát Iran để nắm thế chủ động ở khu vực. Chính
3
sách của Mỹ với Iran cũng đã có sự thay đổi khi Obama lên nắm quyền. Đặc
biệt, trong nhiệm kỳ thứ 2 (2013-2016) chính quyền Obama đã đẩy mạnh hoạt
động đàm phán với Iran. Kết quả là một thỏa thuận giải quyết vấn đề hạt nhân
Iran đã được ký kết, mở ra hy vọng cải thiện quan hệ Mỹ - Iran.
Tuy nhiên, từ năm 2017 đến nay, sau khi lên nắm quyền, Tổng thống
D. Trump đã thay đổi hoàn toàn chính sách, cách tiếp cận giải quyết vấn đề
của ông Obama mà điển hình là việc quyết định rút khỏi thỏa thuận P5+1.
Quyết định của chính quyền D. Trump đã gây ra những phản ứng trái chiều
trong dư luận thế giới và khiến tương lai quan hệ Mỹ - Iran trở nên khó
đoán định.
Chính sách của Mỹ với Iran không chỉ gây ra những tác động đến quan
hệ Mỹ - Iran mà còn có những tác động đến tình hình khu vực Trung Đông,
kéo theo những tác động, ảnh hưởng ở cấp độ toàn cầu. Vậy, những yếu tố
nào đã tác động đến chính sách của Mỹ đối với Iran? Chính sách của Mỹ đối
với Iran từ năm 2009 đến nay như thế nào? Gây ra những tác động ra sao và
xu hướng thời gian tới sẽ như thế nào? Luận văn “Chính sách của Mỹ đối với
Iran từ năm 2009 đến nay” sẽ phần nào giúp làm sáng tỏ những câu hỏi này.
Ngoài việc đưa ra một cái nhìn tổng quan về chính sách của Mỹ với Iran dưới
thời Tổng thống B. Obama và Tổng thống D. Trump, việc nghiên cứu vấn đề
này còn giúp chúng ta hiểu thêm về cách thức xây dựng, triển khai chính sách
của Mỹ đối với các quốc gia có vị trí, vai trò quan trọng ở các khu vực chiến
lược, từ đó có thêm một góc tiếp cận khi Mỹ triển khai chiến lược Ấn Độ Thái Bình Dương.
dầu mỏ của Mỹ đối với Iran” của tác giả Lại Diệu Kiều Phương/2016; Đề tài
cấp trường “Tìm hiểu quá trình giải quyết vấn đề hạt nhân Iran dưới thời Tổng
thống Mỹ B.Obama (2009-2016)” của tác giả Bùi Ngọc Nguyên, trường ĐH
Vinh... Đồng thời, cũng có công trình nghiên cứu đánh giá, đề cập đến chính
sách của Mỹ với Iran trong tổng quan của khu vực Trung Đông hay Châu Á
5
như: Sách tham khảo “Mỹ với vấn đề vũ khí hạt nhân trong hơn nửa thế kỷ qua
(1945-2010)” của PGS.TS.Nguyễn Thị Thanh Thủy, Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn (2012); sách tham khảo “Chính sách của Mỹ đối với Trung Đông
thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh” của tác giả Tạ Anh Tuấn, Học viện Ngoại giao
(2013); Đề tài cấp Bộ “Chính sách an ninh đối với Châu Á của chính quyền
Obama” của tác giả PGS.TS. Tạ Minh Tuấn, Học viện Ngoại giao (2010); Đề
tài cấp cơ sở “Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ đối với Châu Phi - Trung Đông
sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và tác động đến Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Xuân Trung, Viện nghiên cứu Châu Mỹ (2012); Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quan hệ quốc tế trường Đại học KHXH và nhân văn “Chính
sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Đông dưới thời Tổng thống Barack
Obama (2009-2012)” của tác giả Lê Thị Hoài Thu; Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Quan hệ quốc tế Học viện Ngoại giao “Chính sách của Mỹ đối với cộng
đồng Hồi giáo ở Trung Đông sau sự kiện 11/9/2001” của tác giả Trần Thị Thu
Hà/ K11; Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế Học viện Ngoại
giao “Chính sách Trung Đông của Chính quyền Barack Obama” của tác giả
Nguyễn Thị Hương Giang/ K12; Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc
tế Học viện Ngoại giao “Chính sách của Mỹ đối với Trung Đông thời kỳ sau
Chiến tranh lạnh” của tác giả Tạ Anh Tuấn/ K12... Ngoài ra, chủ đề chính sách
của Mỹ với Iran còn được phản ánh trong các bài viết trên các tạp chí “Tạp chí
châu Mỹ ngày nay”, “Tạp chí nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông”, „Tạp chí
Khoa học và Chiến lược”, “Thế giới toàn cảnh”...hay một số bài viết trên các
Deal” của Eliot A. Cohen, Eric S. Edelman and Ray Takeyh; hay dự báo,
nhận định về chính sách của Mỹ đối với Iran trong nhiệm kỳ của Tổng thống
Trump trên cơ sở những phát biểu và những động thái chính sách đầu tiên của
Tổng thống Trump trong các bài viết “Policy Recommendations for US-Iran
Relations in the Trump Era” của Shiva Darian, Gabriela Billini, and Nicolás
Pedreira; “Deciphering U.S. Foreign Policy in the Trump Era” của Roncevert
Ganan Almond; “Trump Broke Iran Policy. Let Him Fix It” của Dennis
Ross...; hay những vấn đề liên quan giữa chính trị quốc tế, xung đột giữa Mỹ
và Iran đối với chính sách của Mỹ với Iran trong các bài viết “Iran: Internal
Politics and U.S. Policy and Options” của Katzman, K và “U.S. - Iran
Conflict and Implications for U.S. Policy” của nhóm tác giả Katzman, K.
McInnis, K. Thomas, C.
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên phần nào đã đi sâu làm rõ được
về những chính sách của Mỹ đối với Iran trong nhiệm kỳ của Tổng thống
G.Bush và một phần nhiệm kỳ Tổng thống B. Obama, phần nào đưa ra những
cái nhìn về một số động thái dưới thời D. Trump. Tuy nhiên, những sản phẩm
7
này chưa cập nhật được hết những diễn biến mới của tình hình, chưa đánh giá
tổng thể cả nhiệm kỳ Tổng thống B. Obama, đặc biệt chưa đi sâu làm rõ những
điều chỉnh chính sách dưới thời Tổng thống D. Trump hiện tại và tương lai.
Như vậy, việc tác giả lựa chọn luận văn “Chính sách của Mỹ đối với Iran
từ năm 2009 đến nay” là không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Chính sách của Mỹ đối với Iran.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Từ năm 2009 đến tháng 05/2020, có liên hệ với giai
đoạn 2001 - 2009.
- Về không gian: Trong quan hệ Mỹ - Iran và không gian chiến lược
kỳ Tổng thống B. Obama và D. Trump trên các góc độ: Mục tiêu, nội dung
chính sách; Triển khai chính sách; Đánh giá kết quả triển khai chính sách...
Chương 3: Tác động và một số dự báo: Đánh giá tác động từ chính
sách của Mỹ đối với Iran từ năm 2009 đến nay (với Mỹ, Iran, thế giới, khu
vực và Việt Nam). Đồng thời, đưa ra một số dự báo về xu hướng chính sách
của Mỹ với Iran thời gian tới, ít nhất trong phần còn lại của nhiệm kỳ Tổng
thống D. Trump.
9
Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH
CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAN TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY
1.1. Nhân tố bên trong
1.1.1. Lợi ích của Mỹ
Lợi ích quốc gia được hiểu là mục tiêu và tham vọng của một quốc gia
về kinh tế, quân sự hay văn hóa, chính trị. Mỗi quốc gia đều có lợi ích mà
mình theo đuổi và đó là nền tảng để xây dựng chính sách của quốc gia với các
vấn đề từ đối nội đến đối ngoại.
Từ sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là một trong hai
siêu cường hàng đầu thế giới. Mục tiêu và tham vọng của Mỹ khi đó hay lợi
ích quốc gia của Mỹ là tăng cường sức mạnh của mình về kinh tế, quân sự,
mở rộng ảnh hưởng của văn hóa, chính trị Mỹ ra khắp toàn cầu, hướng tới trật
tự thế giới với duy nhất có một siêu cường là Mỹ. Mục tiêu và tham vọng của
Mỹ đã trở thành hiện thực khi Liên Xô sụp đổ, thế giới bước vào thời kỳ hậu
Chiến tranh lạnh, Mỹ bước vào một thế kỷ mới với tư cách là quốc gia hùng
mạnh nhất thế giới. Việc xác định lợi ích quốc gia trong giai đoạn này với Mỹ
trở nên vô cùng quan trọng, giúp nước Mỹ xác định được hướng đi tương lai
của mình. Những cuộc tranh luận trong nội bộ quan chức chính phủ Mỹ đã sơ
lược vạch ra năm lợi ích quan trọng của Mỹ gồm: (1) Ngăn chặn và giảm
khả năng răn đe, phủ đầu kẻ thù, đối thủ.
Có thể nhận thấy, lợi ích chủ yếu của Mỹ trong vấn đề Iran bao gồm:
(1) Loại bỏ khả năng Iran phát triển và sở hữu vũ khí hạt nhân; (2) Thúc đẩy
dân chủ ở Iran nói riêng và khu vực Trung Đông nói chung; (3) Kiểm soát
nguồn cung dầu mỏ trữ lượng lớn thứ 3 trên thế giới; (4) Tạo điều kiện thuận
lợi để triển khai nhanh chiến lược Đại Trung Đông. Là quốc gia lớn hàng đầu
khu vực, Iran có tiềm năng trở thành quốc gia hùng mạnh nhờ vào dân số
đông, tiềm lực dồi dào, có vị trí chiến lược quan trọng, việc Iran ngả theo Mỹ
hoặc chống Mỹ có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược của Mỹ ở khu vực.
11
Trong những năm gần đây, lãnh đạo cấp cao Iran luôn có thái độ chống đối,
bất hợp tác và kêu gọi nhân dân Iran và trong khu vực đi ngược lại với những
chính sách chung của Mỹ đối với Iran và với khu vực, gây lo ngại ngày càng
gia tăng cho Mỹ.
1.1.2. Tác động của các nhóm lợi ích
Lợi ích có thể hiểu là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Có thể phân
lợi ích thành ba loại là: Lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích tổng thể. Lợi
ích cá nhân tương đối dễ xác định và lợi ích này bao gồm cả lợi ích vật chất và
lợi ích tinh thần đối với mỗi cá nhân. Lợi ích tổng thể có thể là lợi ích vùng, lợi
ích quốc gia hoặc lợi ích toàn cầu. Lợi ích nhóm có thể là lợi ích của một nhóm
người, có mối liên kết hoạt động trong một dạng tổ chức nhất định, có mục tiêu
cụ thể và có ý thức liên kết để đạt được mục tiêu ấy. Lợi ích nhóm là nhân tố
chủ đạo có ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân và lợi ích tổng thể. Tuy nhiên, không
chỉ những nhóm có ưu thế trong xã hội, có mối liên kết hoạt động cụ thể mới
có khả năng tác động đến quá trình lập chính sách. Những nhóm có vị thế yếu
trong xã hội hoặc nhóm chịu mất mát lớn cũng có thể tạo ra những tác động
đến nội dung chính sách. Do đó có thể xác định nhóm lợi ích là nhóm người có
chung mức lợi ích khác biệt so với xã hội trong một giai đoạn do các điều kiện
phân tán cho tiểu bang và các địa phương khiến cho nhóm lợi ích phát triển.
Các tổ chức nhân dân thường phát xuất từ cấp tiểu bang và địa phương, sau đó
mới họp thành tổ chức toàn quốc. Do đó hệ thống tản quyền khiến cho các
nhóm lợi ích khác nhau phát triển. Hệ thống này cũng làm yếu hệ thống đảng
phái chính trị, vì tình trạng kinh tế xã hội khác nhau của 50 tiểu bang khiến cho
khó duy trì được kỷ luật đảng. Thứ ba, ngành tư pháp mạnh và độc lập trong hệ
thống chính quyền Mỹ cũng giúp cho các nhóm lợi ích thêm thế mạnh. Các
nhóm lợi ích có thể dùng hình thức kiện cáo để đạt được những mục tiêu chính
trị mà họ không thực hiện được bằng con đường lập pháp. Thứ tư, truyền thống
13
tự do ngôn luận, báo chí và hội họp hầu như không giới hạn của Mỹ đã khuyến
khích việc thành lập các nhóm lợi ích bằng cách cho họ có nhiều cơ hội phổ
biến các vấn đề xã hội và bầy tỏ lập trường của họ đối với chính sách của lĩnh
vực công. Những thuận lợi như vậy khiến các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm
và ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt
động. Hiện nay ở Mỹ có rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau, được hoạt động một
cách chính thức, với căn cứ pháp lý và thực tiễn được xác định rõ ràng, công
khai. Từ việc Hiến pháp Mỹ năm 1787 cung cấp các cơ sở pháp lý cho cái gọi
là “những nhóm lợi ích đặc biệt” rồi đến việc Đạo luật vận động hành lang
được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1946 (The Federal Regulation of Lobbying
Act) đến năm 1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký ban hành Đạo luật về
Công khai hóa hoạt động vận động hành lang (Lobbying Disclosure Act of
1995) [Trần Đăng Thịnh, 2013, tr 62-65]. Kể từ đó việc xây dựng các chính
sách và pháp luật chịu ảnh hưởng bởi sự tranh giành hay thỏa hiệp giữa các
nhóm lợi ích khi những người đứng đầu ở đất nước và các bang đều thông qua
hoạt động vận động hành lang để có thể bước lên nắm quyền với sự hậu thuẫn
của các nhóm lợi ích.
Trong giai đoạn từ 2009 đến nay, các nhóm lợi ích chủ chốt có ảnh
thắng sớm, dễ dàng trong việc giải quyết chế độ ở Iraq, chính quyền Bush đã
coi giải phóng Iraq là gợn sóng tích cực trên toàn khu vực và củng cố vị thế
của nước Mỹ, quản lý được tình hình khu vực, là hồi chuông báo cho chế độ ở
Iran - láng giềng của Iraq và chọn cách coi thường nỗ lực hợp tác của Iran,
phản đối bất kỳ liên hệ nào với lãnh đạo Iran. Đồng thời, chính quyền của
Tổng thống Bush đã chọn chấm dứt kênh ngoại giao đã được thiết lập để giải
quyết các vấn đề Afghanistan, một động thái trái ngược với chính sách của
thời kỳ tổng thống Clinton. Lý do được nêu cho quyết định này là vụ đánh
bom khu nhà ở Riyadh dành cho người nước ngoài mà Mỹ gán cho lãnh đạo
15
của al-Qaeda, những người đã tìm nơi ẩn náu ở Iran. Tháng 5/2006, một đề
nghị chính phủ Mỹ tham gia đàm phán trực tiếp với Iran về vấn đề hạt nhân
đã bị chính quyền Tổng thống Bush từ chối mà duy trì quan điểm về việc đình
chỉ làm giàu uranium là điều kiện tiên quyết để bắt đầu cuộc đối thoại
[Suzanne Maloney, 2008, tr 25-28]. Việc chấm dứt đàm phán, hợp tác khiến
Mỹ không thể kiểm soát được sự mở rộng ảnh hưởng của Iran, không thể xác
định được mục tiêu của Iran trong việc can dự vào tình hình ở Afghanistan và
Iraq, đồng thời, chấm dứt nỗ lực giải quyết chương trình hạt nhân của Iran tại
thời điểm lãnh đạo Iran chuẩn bị đình chỉ các hoạt động làm giàu. Quyết định
của Mỹ dừng cuộc đối thoại với Iran về Afghanistan cũng giúp thuyết phục
những người ra quyết định của Iran rằng chính quyền Bush không phải là đối
tác đàm phán đáng tin cậy. Quan điểm của Iran là Mỹ chỉ chấp nhận sự
nhượng bộ nào do Iran đưa ra mà không có sự đáp lại, như một biện pháp
tăng cường áp lực đối với chế độ lãnh đạo ở Iran và Mỹ luôn tuân theo lợi ích
của chính mình mà không xem xét lợi ích của phía bên kia.
Song song với việc từ chối tham gia đàm phán, chính quyền Bush bắt
đầu triển khai chính sách chuyển hướng, tác động vào nội bộ của Iran khi ủng
hộ phe đối lập tại Iran đòi hỏi quyền lợi, phản đối chế độ Iran. Tháng 7/2002
Trung Đông sau hai cuộc tấn công vào Afghanistan (tháng 10/2001) và Iraq
(tháng 3/2003). Các kẻ thù của Iran bị loại bỏ, mở đường cho Iran tăng cường
ảnh hưởng tại khu vực Hồi giáo, đặc biệt là ở Iraq thời hậu Saddam và hậu
Taliban ở Afghanistan khiến Iran đã đạt được vị thế của một quốc gia không
thể thiếu đối với bất kỳ loại chiến lược nào. Hơn nữa, chương trình hạt nhân
của Iran đang tiến lên với tốc độ điên cuồng khi chính phủ Iran đã dịch
chuyển các cơ sở nghiên cứu vào gần khu cư dân, ngăn chặn được các cuộc
tấn công bất ngờ từ Mỹ, và ngăn chặn được việc Mỹ nắm bắt thông tin tiến
trình phát triển hạt nhân của Iran, cuối cùng là dẫn đến sự xuất hiện của Nhà
nước Hồi giáo (IS) tự xưng.
17
1.1.4. Quan điểm, vai trò của Tổng thống B. Obama và D. Trump
1.1.4.1. Quan điểm, vai trò của Tổng thống B. Obama
Trong chiến dịch tranh cử, Obama nói với cử tri Mỹ rằng nếu ông thắng
cử, việc ông là tổng thống da màu đầu tiên của tổ tiên người da đen và lại
được nuôi dưỡng ở nước ngoài sẽ làm thay đổi sự đa dạng về mặt địa chính trị
của nước này. Trên diễn đàn quốc tế cũng như trong nước, ông đều thể hiện
mình là hiện thân của sự thành công, của tài năng, điều có thể xảy ra trong
những xã hội tự do và cởi mở. Bức thông điệp của ông: Nếu tôi làm được, bạn
cũng có thể làm được. Đó là bức thông điệp cho thấy ông Obama đang thể
hiện một quan điểm không phân biệt giữa các người dân, các quốc gia trên
khắp thế giới [44].
Trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Obama chính là những bài
học lý thuyết mà ông rút ra được từ khi là người chuyên hoạt động cộng đồng
ở Chicago: lắng nghe những quan điểm khác nhau, hiểu những động cơ khác
nhau và rồi tập trung vào sự tương đồng chứ không phải khác biệt. Ông nói rõ
về tư duy của mình, mô tả cách tiếp cận tập thể đối với các vấn đề ngoại giao
có thể loại bỏ những định kiến cũ rích hoặc những thứ giáo điều về hệ tư
đáng tin cậy, xây dựng các quan hệ đối tác về an ninh và quốc phòng, đưa ra
các cam kết ngoại giao, áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế, ký kết các hiệp
định thương mại tự do, thực hiện các chương trình viện trợ phát triển, đấu
tranh chống hoạt động chiêu mộ và hệ tư tưởng của các phần tử cực đoan ở
trong nước…
1.1.4.2. Quan điểm, vai trò của Tổng thống D. Trump
Nhìn vào biểu hiện bề ngoài, có thể cảm thấy Tổng thống D.Trump
cầm quyền không theo chủ thuyết thống nhất và bài bản nào bởi rất hay bất
ngờ thay đổi quan điểm và có những quyết sách theo ngẫu hứng nhiều hơn là
dựa theo chiến lược hay chính sách xuyên suốt như sợi chỉ đỏ. Ông Trump
19
không bao giờ trình bày thật đầy đủ và hệ thống về quan điểm cầm quyền
của mình mà chỉ xác định mục tiêu muốn đạt được và cách thức triển khai
thực hiện để đạt được mục tiêu ấy. Với ông Trump, mục tiêu được đề ra là
“làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” và cách thức thực hiện là “Nước Mỹ trước
hết”. “Nước Mỹ trước hết” được ông Trump hiểu và thực hiện chung là bảo
vệ và tăng cường lợi ích thiết thực cho nước Mỹ, nhưng nội hàm cụ thể của
nó lại được xác định cho từng vụ việc, vào từng thời điểm và đối với từng
đối tác cụ thể. Ông Trump chỉ tập trung vào tất cả những gì được coi là có
lợi cho nước Mỹ và cách thực hiện là bằng mọi giá. Vì thực hiện bằng mọi
giá nên mọi cái gì cản trở đều bị ông Trump bất chấp hết, có thể với mức độ
khác nhau nhưng thực chất như nhau. Đối với ông Trump, cái có lợi cho
nước Mỹ kia không được định nghĩa một cách cứng nhắc và giáo điều mà
biến động trong từng vụ việc cụ thể, với từng đối tác cụ thể. Cho nên cùng
chuyện xung khắc thương mại nhưng ông Trump xử lý với Trung Quốc khác
với EU hay Nhật Bản. Cùng là vấn đề hạt nhân và tên lửa nhưng ông Trump
vận hành quan hệ của Mỹ với Triều Tiên khác với Iran. Sách lược của ông
Trump tạo nên sự hỗn hợp giữa bất ngờ, mập mờ và dễ thay đổi để tuỳ ý
thấy có lợi cho Mỹ và đi lối đường riêng khi thấy như thế có lợi hơn cho
nước Mỹ.
Thứ hai, ông Trump coi trọng và tập trung trước hết vào những nhóm lợi
ích đối với Mỹ trong dạng “tiền tươi thóc thật”, có thể được định tính hoá và
định lượng hoá dễ dàng, chứ không chung chung, lung mung và mơ hồ dưới cái
vỏ bọc của những định nghĩa hay khái niệm về hệ giá trị chung mà Mỹ và các
đồng minh lâu nay vẫn đề cao. Ở đây có thể thấy quan điểm chủ trương”Nước
Mỹ trước hết” của ông Trump đã làm thay đổi rất cơ bản quan hệ của Mỹ với
cả đối tác lẫn đồng minh hay đối thủ lâu nay của Mỹ như thế nào.
21
Thứ ba, gây xung khắc để thực thi sách lược "gia tăng áp lực tối đa"
được ông Trump vận dụng với tất cả các đồng minh và đối tác bên ngoài
trong mọi vụ việc, đi cùng với việc có thể bất ngờ thay đổi quyết sách. Ông
Trump cho rằng làm như thế sẽ gây khó khăn và khó xử cho phía bên kia
khiến họ cuối cùng sẽ phải nhượng bộ Mỹ và bị Mỹ khuất phục, đẩy các phía
này vào tình thế không biết thế nào mà lường được với Mỹ nên sẽ luôn bị
động đối phó, luôn khó có đối sách đối phó và rồi không có sự lựa chọn nào
khác ngoài nghe theo Mỹ.
Thứ tư, ông Trump đi ngược lại những gì được coi là xu thế vận động
của thế giới từ khá lâu nay và coi đấy là liệu pháp giúp “tăng lợi, giảm thiệt”
cho nước Mỹ. Thế giới thúc đẩy chủ nghĩa đa phương thì ông Trump chủ
trương hành động đơn phương. Thế giới thực thi tự do hoá mậu dịch thì ông
Trump coi trọng bảo hộ mậu dịch. Thế giới coi trọng các thể chế đa phương
và luật pháp quốc tế thì ông Trump coi thường các thể chế ấy và sẵn sàng bất
chấp luật pháp quốc tế. Đối với ông Trump, nước Mỹ quan trọng đối với thế
giới như thế nào không quan trọng và đáng kể bằng việc thế giới quan trọng
đến đâu đối với nước Mỹ. Nổi bật và cụ thể nhất là việc ông Trump coi Trung
Quốc là đối thủ đáng gờm nhất của nước Mỹ và chính trị quốc tế chỉ là cuộc
chơi một cấp, cụ thể là, ảnh hưởng xã hội khá hạn chế. Trong năm nước lớn
hàng đầu khu vực, chỉ có Thổ Nhĩ Kỳ và Israel có chế độ dân chủ. Chẳng hạn,
chính quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ đã bỏ phiếu từ chối cho phép quân đội Mỹ sử
dụng Thổ Nhĩ Kỳ để làm bàn đạp chống Iraq năm 2003. Ở Israel, phong trào
định cư đã xoay sở để định hình chính sách của Israel đối với Palestine trong
thời kỳ đầu tiên của Thủ tướng Yitzhak Rabin từ năm 1992 đến năm 1995, bất
chấp khoảng cách chính trị sau này đối với phong trào xã hội này. Đôi khi,
người ta lập luận rằng, chẳng hạn, Hezbollah và Hamas là những diễn viên
không phải là nhà nước đã thay đổi căn bản các vấn đề đối ngoại trước đây
23