chính sách của mỹ đối với nga dưới thời tổng thống obama - Pdf 24

MỤC LỤC
1
DANH MỤC TấN VIẾT TẮT
SORT - Strategic Offensive Reductions Treaty: Hiệp ước về Giảm thiểu các hoạt
động tiến công chiến lược
OECD - Organisation for Economic Co-operation and Development: Tổ chức hợp
tác và phát triển kinh tế
START - Strategic Arms Reduction Treaty: Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược
CTBT - Comprehensive Nuclear Test Ban Treaty: Hiệp ước cấm thử vũ khí
toàn diện
NPT - Non-poliferation Treaty: Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân
EU - European Union: Liên minh châu Âu
INF - Intermediate Range Nuclear Forces: Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm
trung
CFE - Conventional Forces in Europe Treaty: Hiệp ước vũ khí thông thường châu
Âu
NATO - North Alantic Treaty Organization: Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây
Dương
IMF - International Monetary Fund: Quỹ tiền tệ quốc tế
GWOT - Global War on Terror: Cuộc chiến toàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố
BIT - Bilateral Investment Treaty: Hiệp ước đầu tư song phương
CIS - Commonwealth of Independent States: Cộng đồng các quốc gia độc lập
WTO - World Trade Organization: Tổ chức thương mại quốc tế
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi Liờn Xụ tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất với sức mạnh
toàn diện vượt trội, còn Nga với tiềm lực quân sự to lớn kế thừa từ Liờn Xô,
sau một thời gian lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng cũng đã từng
bước vươn lên, khôi phục dần vị thế cường quốc dưới thời Tổng thống Putin.
Quan hệ Mỹ-Nga có một vị trí quan trọng trong cấu trúc quyền lực toàn cầu đầu

Iran and Russia”)
2
của Tổng biên tập trang mạng “Dự báo chiến lược” –
Stratfor George Friedman, đã nêu ra các điểm kế thừa chính sách đối ngoại
dưới thời Tổng thống George W. Bush của Tổng thống Obama trong quan hệ
với châu Âu, Iran và Nga.
Trong bài nghiên cứu “Chớnh sách đối ngoại của Obama” (“Obama’s
foreign policy”)
3
của Tiến sĩ Henry R. Nau tại viện nghiên cứu Hoover thuộc
Đại học Stanford, Mỹ, cũng đã đưa ra những cơ sở so sánh chính sách đối ngoại
của Tổng thống Obama với Tổng thống tiền nhiệm George W. Bush nhằm đánh
giá bản chất chính sách đối ngoại của Tổng thống Obama.
Bài nghiên cứu “Obama đang lặp lại sai lầm của Bush đối với Nga”
(“Obama is making Bush’s mistake on Russia”)
4
của tác giả Jamie M. McFly
và Gary Schmitt trên trang mạng Foreign Policy của Mỹ đó cú những phân tích
về một số sai lầm trong chính sách đối với Nga của Tổng thống Obama.
Ngoài ra cũn cú một vài bài nghiên cứu đánh giá ưu nhược điểm của
chính sách đối với Nga của Tổng thống Obama như bài “Đỏnh giỏ “Tỏi khởi
động” và những bước đi kế tiếp cho chính sách đối với Nga của Mỹ”
1
Đỗ Văn Minh (2010), “Quan hệ Nga-Mỹ đến 2020”, Cục diện thế giới đến 2020, NXB Chính trị quốc gia
2
George Friedman, “Obama Continues Bush Foreign Policy on Europe, Iran and Russia”, Stratfor, Feb 11,
2009
3
Henry R. Nau, “Obama’s Foreign Policy”, Hoover Institute , Policy review, No 160, April 1,
2010http://www.hoover.org/publications/policy-review/article/5287

Chương I là: Một số yếu tố cơ bản tác động tới quá trình định chính sách
đối với Nga của Tổng thống Obama. Chương này tập trung khai thác và làm rõ
5
Samuel Charap, Assessing the “Reset” and the Next Steps for U.S. Russia Policy, Center for American
Progress, April 2010
6
Eric Edelman và Bob Joseph, “Analysis: Evaluating the Us-Russian reset”, Foreign Policy Initiative
(http://www.foreignpolicyi.org/node/19243 cập nhật ngày 12/5/2011)
3
các nhân tố tác động và những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự hình thành chính
sách “tỏi khởi động” quan hệ với Nga của Tổng thống Barack Obama.
Chương II là: Sự kế thừa và điều chỉnh trong chính sách đối với Nga của
Tổng thống Obama. Đây là chương quan trọng nhất với nội dung chính bao
gồm mục tiêu, ưu tiên, nội dung, và biện pháp thực hiện của chính sách đối với
Nga của Tổng thống Obama. Trong đó, nội dung của chính sách trải rộng trong
cả lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế.
Chương III là: Đánh giá kết quả và dự báo chính sách đối với Nga của
Tổng thống Obama trong thời gian qua. Chương cuối cùng của khóa luận có
nội dung tập trung đánh giá những thành tựu và hạn chế của chính sách đối với
Nga của Tổng thống Obama trong thời gian qua. Từ đó, đánh giá một cách
khách quan về chính sách trên trong tương quan so sánh với chính sách của
Tổng thống George W. Bush cùng với việc dự báo những khả năng có thể xảy
ra trong chính sách đối với Nga của Tổng thống Obama trong thời gian cuối
của nhiệm kỳ.
4
CHƯƠNG I. MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI
VỚI NGA CỦA TỔNG THỐNG MỸ BARACK OBAMA
1. Bối cảnh thế giới và khu vực Châu Âu
1.1. Tình hình thế giới
Từ tiếp cận của chủ nghĩa hiện thực mới, có thể thấy quá trình hoạch

đầu tư, mở rộng thị trường [
3
;89]. Toàn cầu hóa đang làm cho quá trình “phi tập
trung hóa quyền lực” diễn ra nhanh hơn thông qua các hình thức tập hợp lực
lượng mới v.v Đồng thời sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia về an ninh
và phát triển cũng ngày càng gia tăng. Và “khi lợi ích giữa các quốc gia đan
xen vào nhau và ngày càng phụ thuộc lẫn nhau thì tư duy về đối ngoại và
phương thức quan hệ quốc tế cũng thay đổi mạnh mẽ” [
4
;13].
1.1.2. Khủng bố quốc tế, nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân và các
vấn đề toàn cầu
Sự kiện “Ngày thứ ba đen tối” 11/09/2001 là một trong những thảm họa
an ninh đối với Mỹ có nguồn gốc từ chủ nghĩa khủng bố. Các cuộc chiến tranh
tại Afghanistan và Iraq đã trở thành biểu tượng cho cuộc chiến tiêu diệt chủ
nghĩa khủng bố do Mỹ lãnh đạo trên toàn cầu. Tuy nhiên, khủng bố quốc tế
ngày càng dấn sâu vào con đường nguy hiểm với những thủ đoạn ngày càng
tinh vi. Năm 2009, thế giới chứng kiến sự bành trướng đáng lo ngại của Taliban
– một nhóm khủng bố nguy hiểm tại khu vực Trung Đông. Lực lượng này đã
mở rộng phạm vi kiểm soát ở Afghanistan và Pakistan, gia tăng đáng kể các vụ
tấn công khủng bố, gây thương vong nhiều hơn cho binh sĩ Mỹ và NATO tại
đây cũng như cho lực lượng an ninh của hai nước Nam Á này. Ngay cả cho tới
nay, khi Mỹ đã tiêu diệt được tờn trựm khủng bố khét tiếng Osama Bin Laden
đã lãnh đạo cuộc khủng bố vào Mỹ năm 2001 thì chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan
và chủ nghĩa khủng bố với những chân rết khắp nơi của nó thì Mỹ cũng không
thể ngăn chặn và hủy diệt toàn bộ mạng lưới khủng bố toàn cầu. Chủ nghĩa
khủng bố vẫn không thể bị tiêu diệt tận gốc khi thiếu sự trợ giúp và tập hợp lực
lượng của các quốc gia khác bởi nó là một trong những vấn đề mang tính chất
toàn cầu. Chống khủng bố đã trở thành ưu tiên của chính sách đối ngoại Mỹ và
là tiêu chí để phân định bạn thù của Mỹ trong thời điểm hiện nay [

khủng hoảng đã làm lung lay mạnh vai trò trung tâm tài chính của Mỹ trên thế
7
giới. Hàng loạt các thể chế tài chính khổng lồ hàng đầu của Mỹ phá sản kéo
theo đó là sự sụt giảm lòng tin của giới kinh doanh và đầu tư. Mỹ hiện là “con
nợ lớn” với tổng nợ quốc gia tính đến tháng 10/2008 là 10.000 tỷ USD, với
25% nợ nuớc ngoài như Nhật Bản 586 tỷ, Trung Quốc 400 tỷ, Anh 224 tỷ [
6
].
Bên cạnh những khó khăn về tài chính, cũng như nhiều quốc gia công nghiệp
khác, Mỹ phải đối mặt với vấn đề an ninh năng lượng. Nguồn năng lượng của
Mỹ chủ yếu nhờ nhập khẩu, do đó nhập khẩu dầu và năng lượng đã chiếm hơn
ắ tổng thâm hụt thương mại hòa hóa và dịch vụ của Mỹ tính đến năm 2008
[3;314]. Còn về sức mạnh quân sự của Mỹ, mặc dù Mỹ vẫn là quốc gia đầu tư
nhiều cho quân sự hàng đầu trên thế giới nhưng đó cú những bằng chứng rõ
ràng cho thấy an ninh nội địa của Mỹ vẫn chưa được đảm bảo. Ngoài sự kiện
11/9/2001, vụ đánh bom máy bay không thành tại Detroit vào tháng 12/2009,
và vụ tấn công bất thành ở quảng trường Times ở New York vào tháng 5/2010
lại tiếp tục cho thấy những yếu kém và thất bại của hệ thống tình báo Mỹ. Như
vậy, chính sách an ninh “đỏnh đũn phủ đầu” một thời của Tổng thống George
Bush đõu đã làm cho người dân Mỹ cảm thấy an toàn hơn.
Nước Mỹ của thế kỷ XXI còn phải đối đầu với nhiều thách thức mới từ
sự nổi lên của , đe dọa vị trí trung tâm của Mỹ trên bản đồ thế giới. Năm 2009,
thế giới chứng kiến 3 sự kiện "lần đầu tiên" chứng tỏ vai trò, vị thế ngày càng
tăng của các nền kinh tế mới nổi trong việc quyết định các vấn đề mang tính
toàn cầu. Đó là: Hội nghị cấp cao lần đầu tiên của nhóm BRIC, gồm Brazil,
Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, được tổ chức vào tháng 6/2009 tại thành phố
Ekaterinburg (Nga) với quyết định phối hợp hành động nhằm đối phó với cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu và thúc đẩy hồi phục kinh tế. Tại Hội nghị cấp
cao nhóm G8 diễn ra tại L'Aquila ( í ) vào tháng 7/2009, lãnh đạo 7 nước công
nghiệp phát triển và Nga lần đầu tiên ra tuyên bố chung với 6 nước đang phát

cũng như chính sách kiềm chế ảnh hưởng của Nga tại lục địa Á-Âu cũng khó
mà hoàn thành.
9
Khu vực được coi là địa bàn ảnh hưởng truyền thống này của Mỹ cũng
đang ngày một độc lập hơn so với Mỹ. Tham vọng của EU ngày càng lộ rõ là
gây dựng thế cân bằng sức mạnh với Mỹ và giành cho mình một suất trên bàn
cờ quyền lực chính trị thế giới. Sức mạnh tổng hợp về kinh tế của EU hiện nay
đã tương đương với Mỹ với các chỉ số tương đương là 12,2 tỷ và 11,8 tỷ USD)
và mỗi bên đều chiếm ẳ GDP toàn thế giới [
8
].Tuy nhiên hiện nay các nước EU
đang phải đối phó với hệ lụy của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gồm: sản
xuất công nghiệp suy giảm mạnh, tình trạng suy thoái lan rộng với tốc độ
nhanh, tình trạng thất nghiệp gia tăng, vừa phải giúp đỡ các nền kinh tế yếu ớt
có nguy cơ bị đổ bể bởi cuộc khủng hoảng nợ công tại khu vực đồng tiền chung
Châu Âu (Eurozone) bao gồm: Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và
Italia. Mức thâm hụt ngân sách trung bình trong khu vực Eurozone trong năm
2010 dự báo là 7,25% và nợ công khoảng 84% GDP còn của toàn khối hoảng
7% và 80% tương ứng [9]. EU cũng đang cố gắng tạo dựng vị thế bằng các
chiến lược đối ngoại rộng mở, đặc biệt là trong quan hệ với Nga và thông qua
đối thoại và tăng cường hợp tác nhiều mặt.
1.2.2. Quan hệ Nga-EU
Là nước có trữ lượng khí đốt lớn nhất thế giới và nằm ngay sát sườn châu
Âu, Nga đang là một nhân tố có ảnh hưởng nhất định đối với nền kinh tế các
nước EU. Hiện nay, EU là đối tác thương mại chính, là nguồn đầu tư nước
ngoài cơ bản đối với nền kinh tế Nga, còn Nga cũng là một trong ba đối tác
thương mại lớn nhất của EU, sau Mỹ và Trung Quốc, đồng thời là nhà cung cấp
năng lượng chính cho châu Âu [
9
].Hậu quả của chính sách bài Nga đã khiến cho

điều chỉnh nhất định trong chính sách đối với Nga, để vừa thu phục được người
Nga vừa áp đặt ảnh hưởng trở lại vào khu vực Châu Âu.
2. Di sản chính sách đối với Nga của Tổng thống tiền nhiệm George W.
Bush
2.1. Chính trị - an ninh
11
Chớnh sách đối với Nga của Tổng thống Obama còn được hoạch định từ
di sản quan hệ Mỹ-Nga của Tổng thống tiền nhiệm George Bush. Sau sự kiện
11/9, với sức mạnh về chính trị, quân sự và kinh tế vượt trội, Tổng thống Bush
thực hiện chính sách đơn phương cứng rắn, xử lý các vấn đề đối ngoại trên cơ
sở lợi ích quốc gia vị kỷ, nhấn mạnh vào lĩnh vực an ninh quân sự hơn [
11
;156].
Sự ngạo mạn trong chính sách đối ngoại toàn cầu và chính sách đối với Nga
của Tổng thống George Bush đã khiến cho quan hệ Nga-Mỹ xấu đi chưa từng
thấy từ sau Chiến tranh lạnh. Tiếp theo chương trình phòng thủ tên lửa NMD và
việc hủy bỏ Hiệp ước ABM 1972 với Nga, tháng 3/2004 Tổng thống Bush còn
thúc giục NATO kết nạp các thành viên mới gồm Bulgaria, Estonia, Latvia,
Lithuania, Romania, Slovakia và Slovenia vào tổ chức nhằm thu hẹp không
gian chiến lược của Nga. Tháng 5/2007, chính quyền Bush bắt đầu các cuộc
thảo luận chính thức với Ba Lan và Séc về việc lắp đặt hệ thống NMD và ngay
sau đó Nga đã phản ứng mạnh bằng việc đe dọa sẽ rút khỏi INF và CFE. Trong
Thông điệp Liờn bang đầu tiên trên cương vị tổng thống Liên bang Nga, ông
Dmitry Medvedev cho biết: “Một hệ thống tên lửa Iskander sẽ được triển khai
tại khu vực Kaliningrad, để nếu cần, sẽ được dùng làm vô hiệu hóa hệ thống lá
chắn phòng thủ tên lửa mà Mỹ thiết lập ở Đông Âu” [
12
].
2.2. Kinh tế-thương mại
Trong lĩnh vực kinh tế thương mại, chỉ sau khi Nga thể hiện mong muốn

Kinh tế Nga trong vòng 10 năm trở lại đõy đó cú những bước phát triển vượt
bậc. Số liệu Cục Thống kê Liên bang Nga công bố cũng cho thấy, GDP quý 1-
2010 của Nga tăng trưởng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, vượt xa dự đoán
Chính phủ Nga đưa ra trước đó [
15
]. Phát biểu trên tờ Ria Novosti, nhà phân tích
chính trị Nga Vyacheslav Nikonov núi: “Cỏch đõy một thập kỷ, tổng sản phẩm
quốc nội của chúng ta chỉ đạt 250 tỷ USD và đến nay, con số này đã là hơn
1.600 tỷ USD” [
16
]. Phó Thủ tướng thú nhất của Nga Sergei Ivanov dự báo: đến
năm 2020, Nga sẽ trở thành một trong năm nền kinh tế lớn nhất thế giới [3;49].
Triển vọng phát triển của nền kinh tế khổng lồ này là rất lớn và có tiềm năng.
Bên cạnh đó, sau 8 năm dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Putin, nước Nga đó
cú những biến đổi sâu sắc về thế và lực. Sự mất cân bằng giữa định hướng
13
“phương Tõy” và “phương Đụng” bắt đầu được điều chỉnh và Nga dần lấy lại
uy tín đã mất trong hai thập kỷ qua. Một nước Nga mạnh mẽ và tự tin hơn đang
có vai trò quan trọng tác động đến những thay đổi tích cực trên thế giới.
Trong “Học thuyết đối ngoại” được công bố vào ngày 12/7/2008, khẳng
định mục tiêu chiến lược toàn cầu của Nga là bảo đảm an ninh cũng như vị thế
của Nga trong câu lạc bộ các nước lớn, biến Nga thành một trung tâm quyền
lực của thế giới [5;54].Để tăng cường sức cạnh tranh địa - chiến lược, Nga đang
ưu tiên cải cách quân đội (sản xuất máy bay thế hệ mới, tàu ngầm, tên lửa…) và
tăng cường hiện diện tại các nước thuộc khu vực “sõn sau” của Mỹ như
Venezuela, Syria [3;315]. Phát biểu tại Bộ Quốc phòng đầu năm 2009, Tổng
thống D. Medvedev khẳng định: “Trong giai đoạn hiện nay, nước Nga đang
được coi là một trong những nước có nền quân sự mạnh nhất, nhưng do sự phát
triển của tình hình thế giới thì vấn đề hiện đại hóa quân sự đang là điều cấp
bách. Chủ trương hiện đại hóa quân đội Nga được xuất phát từ những mối đe

trí trung tâm đại lục địa là mối quan tâm chiến lược đối với Mỹ. Khả năng Nga
có thể tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố tại
Afghanistan cũng là lợi ích đáng kể đối với Mỹ trong việc cải thiện quan hệ với
Nga.
Thứ tư, những mối quan hệ truyền thống, cỏc kờnh ảnh hưởng và uy tín
của Nga ở một loạt nước và khu vực trên thế giới biến Nga thành một trung
gian có hiệu quả giữa Mỹ và các nước, các khu vực đó [
18
;52]. Cụ thể là hiện
nay, một mối quan ngại mới đối với Mỹ xuất hiện là sự nổi lên mạnh mẽ của
Trung Quốc trong nền chính trị thế giới với tham vọng bành trướng và thống
lĩnh khu vực chõu Á-Thỏi Bỡnh Dương, thậm chí mở rộng ra thế giới và quan
hệ ngày càng thân thiết giữa Trung Quốc và Nga. Giữa Trung Quốc và Nga đã
từng có thỏa thuận lịch sử là “Tuyờn bố Nga-Trung về thế giới đa cực và thiết
lập trật tự thế giới mới” tháng 4/1997 và cho tới nay là nền tảng cho quan hệ
đối tác chiến lược giữa hai nước. Đây là nguy cơ thực sự đối với Mỹ trong việc
15
thực hiện mục tiêu bảo vệ vị trí lãnh đạo toàn cầu khi hai nước trên đang là
những quốc gia có tiềm lực mạnh trên thế giới. Nếu chiến lược đơn phương
kiềm chế Nga của Mỹ được tiếp tục thực hiện thì nguy cơ một sự đối đầu giữa
một bên là Mỹ và bên kia là Nga-Trung là hoàn toàn có thể. Trong khi đó, cả
Nga và Mỹ đều hiểu sự phân bố lại lực lượng trên bàn cờ chính trị thế giới sẽ
khiến đe dọa lợi ích của cả hai. Như vậy, Mỹ thực sự cần Nga trong việc ngăn
chặn tham vọng nước lớn của Trung Quốc để giữ vững “khoảnh khắc đơn cực
Mỹ” càng lâu càng tốt. Như vậy, giữa hai nước có những lợi ích chung đặc biệt
quan trọng đối với nhau mà quan hệ có tính chất “cựng thắng” là phần nhiều.
3.2.2. Trong lĩnh vực kinh tế
Trong thời điểm hiện nay, nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế của
tất cả các quốc gia nói riêng đều đang chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới xuất phát từ Mỹ. Cả Mỹ và Nga đều đang phải đối phó

khi Nga dù không còn là siêu cường, nhưng Nga vẫn giữ được tiềm năng của
một cường quốc lớn và những khả năng không nhỏ trong những lĩnh vực có lợi
ích đặc biệt đối với an ninh quốc gia của Mỹ. Cũng trên cơ sở nhận thức đó,
mà Tổng thống Barack Obama và chính quyền của mỡnh đó thống nhất tái
khởi động quan hệ Mỹ-Nga với những mục tiêu và biện pháp cụ thể. .
17
II. SỰ KẾ THỪA VÀ ĐIỀU CHỈNH TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
NGA CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA
1. Mục tiêu của chính sách đối ngoại đối với Nga dưới thời Tổng thống
Obama
1.1. Mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ
Nét nhất quán trong chiến lược đối ngoại của Mỹ từ sau Chiến tranh thế
giới thứ hai đến nay là luôn tìm cách khẳng định và duy trì địa vị lãnh đạo thế
giới, ngăn chặn bất cứ nước nào hoặc thế lực nào nổi lên thách thức vai trò bá
chủ của Mỹ. Đây là mục tiêu chiến lược dài hạn, và là yếu tố bất biến chi phối
chiến lược an ninh của Mỹ trong nhiều thập kỷ tới [
21
]. Tổng thống Mỹ Barack
Obama kế nhiệm với nhiệm vụ hết sức nặng nề là phải tiếp tục theo đuổi mục
tiêu chiến lược đó nhằm bảo đảm lợi ích cốt lõi của nước Mỹ. Trong chính sách
đối ngoại, Tổng thống Obama xác định ba mục tiêu lớn, đó là: cải thiện quan hệ
với thế giới đã bị giảm sút do chính sách của chính quyền Bush, qua đó củng cố
vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới; xử lý vấn đề Iraq và Afghanistan theo
hướng ổn định tình hình; và đối phó với sự cạnh tranh đang tăng lên của các
cường quốc đang lớn mạnh, nhất là Trung Quốc và Nga [
22
]. Trong đó, mục tiêu
được Tổng thống Obama đặt lên hàng đầu trong chiến lược toàn cầu là khẳng
định vị trí lãnh đạo và bảo đảm vị thế và sức mạnh Mỹ trên toàn thế giới. Mục
tiêu này được khẳng định trong Chiến lược an ninh quốc gia tháng 5/2010 của

cho việc điều chỉnh chiến lược là chống khủng bố và ngăn ngừa sự vươn lên
của các nước lớn thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ [
25
]. Cụ thể là chính sách
của Tổng thống George W. Bush trong chiến lược với Nga hình thành trên cơ
sở “nước thắng trận đối với nước bại trận” hay là chính sách kiềm chế Nga.
Trong định hướng chính sách đối với Nga, mặc dù với mục tiêu chiến lược
tương tự của ông G. W. Bush, nhưng Tổng thống Obama đã phê phán chính
sách “diều hõu” của Tổng thống Bush đối với Nga và tuyên bố sẽ đảo chiều
chính sách trước đó bằng kế hoạch “tỏi khởi động” quan hệ Mỹ-Nga nhằm kiến
tạo sự thiện cảm từ phía Nga và chuyển hóa tính chất quan hệ từ căng thẳng
sang hợp tác. Về mặt chính trị, quan hệ song phương được thúc đẩy thể hiện
19
qua một loạt các chuyến thăm cấp cao, nổi bật là chuyến thăm Nga của Tổng
thống Obama (7/2009) và chuyến thăm Mỹ của Tổng thống Nga Medvedev
(7/2010) với Tuyên bố 10 điểm là: (i) Mỹ tuyên bố ủng hộ việc kết nạp Nga vào
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO). (ii) Cam kết tiếp tục phát triển quan hệ
chiến lược mới dựa trên cơ sở tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, công khai, có thể
dự báo được. (iii) Nỗ lực áp dụng các biện pháp mới trong lĩnh vực phát triển
công nghệ dân dụng theo tiêu chuẩn công khai và chính sách đổi mới công nghệ
trên cơ sở đối tác bình đẳng và hai bên cùng có lợi, nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh của quốc gia và xây dựng tiềm lực cho sự phát triển. (iv) Mở rộng
hợp tác trong lĩnh vực chống khủng bố, cũng như hợp tác trong các diễn đàn
quốc tế để tiến hành cuộc chiến chống khủng bố. (v) Phối hợp hành động nhằm
nâng cao tính công khai trong hoạt động quản lý nhà nước. (vi) Nõng cao hiệu
quả sử dụng năng lượng và phát triển công nghệ và ngành năng lựợng sạch.
(vii) Đơn giản hoỏ cỏc thủ tục liên quan tới chế độ cấp phép cho các hoạt động
đi lại, công tác và học tập của các công dân Nga và Mỹ. (viii) Khẳng định cả
hai nước cú cỏc lợi ích chung trong việc ủng hộ nhân dân Kyrgystan ổn định
tình hình sau các sự kiện tháng 4/2010. (ix) Thống nhất chủ trương xây dựng

tranh lạnh: “hóy đặt những hành động Chiến tranh lạnh liên quan tới việc lên kế
hoạch cho các vũ khí chiến lược ở phía sau chúng ta” [15;136].
Khác với chủ trương trên của chính quyền Tổng thống Bush, Tổng thống
Obama lại theo đuổi chính sách mềm mỏng hơn đối với Nga trong vấn đề này.
Trong bối cảnh an ninh hạt nhân bị đe dọa khi hiệp ước START hết hiệu lực,
Tổng thống Obama quyết tâm nối lại tiến trình thỏa thuận song phương cắt
giảm vũ khí hạt nhân và vũ khí chiến lược. Chính sách của Tổng thống Obama
là thúc đẩy việc nhanh chóng ký kết với Nga một Hiệp ước thay thế cho
START II sẽ hết hiệu lực vào tháng 12/2009 ( Hiệp ước START II - được ký
kết vào năm 1993-chỉ cho phép Nga và Mỹ sở hữu từ 1.700 đến 2.200 đầu đạn
hạt nhân) [
28
].
Do đó, ngay trong những cơ hội đầu tiên tiếp xúc với người đồng cấp của
Nga như tại Hội nghị các quốc gia mới nổi G20 ở London vào tháng 4/2009,
Tổng thống Obama đó cú những động thái thân thiện, tạo cảm tình với Tổng
21
thống Nga Medvedev. Tại đây, hai tổng thống cũng đó cú cỏc cuộc hội đàm và
đi đến Tuyên bố chung về việc đàm phán cắt giảm vũ khí chiến lược vào ngày
1/4/2009 [21]. Đây là bước đi quan trọng nhằm đảo chiều xu thế đối đầu giữa
hai nước và từng bước đưa quan hệ Mỹ-Nga vào quĩ đạo ổn định chiến lược.
Trong tuyên bố chung này, hai nhà lãnh đạo đã vạch ra các nội dung sẽ thảo
luận và hợp tác trong thời gian tới trên hơn 20 lĩnh vực của quan hệ trong đó có
việc chuẩn bị cho việc phê chuẩn Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện
START, Thỏa thuận 123 và một hiệp ước kiểm soát vũ khí mới – sẽ cắt giảm
kho vũ khí hạt nhân của cả hai nước [
29
] .
Nhằm mục tiêu thể hiện mạnh mẽ hơn mong muốn hợp tác cắt giảm vũ
khí hạt nhân, Tổng thống Obama đó cú một bài phát biểu tại Prague, Séc vào

sân bay tại các nước Trung Á – thuộc không gian hậu Xô Viết, đồng thời còn
đồng ý chia sẻ tin tức tình báo cho Mỹ tại Afghanistan [12;207]. Vào tháng
4/2008 trong tuyên bố về khuôn khổ chiến lược trong quan hệ Mỹ-Nga tại
Sochi, Tổng thống George W. Bush và Tổng thống Nga Vladimia Putin đã cam
kết hợp tác chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế trên phương diện song phương
và đa phương. Tuy nhiên, những cam kết này có phần mờ nhạt bởi cả hai vị
Tổng thống đều đang ở vào những tháng cuối của nhiệm kỳ cùng với những
căng thẳng gia tăng sau xung đột tại Georgia.
Phải đến khi Tổng thống Obama lên nắm quyền thì cơ hội hợp tác trong
hoạt động chống khủng bố mới được mở lại. Tổng thống Obama vẫn coi vấn đề
chống khủng bố là ưu tiên cao trong chính sách đối ngoại và chính sách đối với
Nga nhưng không coi cuộc chiến này là cơ hội để mở rộng ảnh hưởng của Mỹ
trên toàn cầu. Tổng thống Obama chủ trương “dõn sự húa” vấn đề chống khủng
bố. Một động thái có tính chất biểu tượng là việc ông Obama quyết định từ bỏ
khái niệm GWOT với tuyên bố rằng quốc gia nào không đi theo Mỹ tức là ủng
hộ khủng bố được Tổng thống Bush khởi xướng không những đe dọa an ninh
của Mỹ mà còn làm xói mòn quan hệ giữa Mỹ và những đồng minh lâu năm
của mình [25;378]. Tổng thống B. Obama đã tuyên bố từ bỏ thuật ngữ GWOT
mặc dù vẫn coi Al Qaeda là kẻ thủ trực tiếp đe dọa an ninh của Mỹ [
33
]. Tuyên
bố chung giữa hai vị Tổng thống bên lề Hội nghị G20 tại London, Anh vào
ngày 1/4/2009 đã hình thành nên một thỏa thuận hợp tác quân sự bền vững giữa
hai nước trong cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan [
34
]. Trong đó, hai vị
23

Trích đoạn Hiệp ước START mớ Đồng thuận trong vấn đề Iran Hợp tác trong cuộc chiến tại Afghanistan Tính không chắc chắn trong hợp tác chiến lược Sự mờ nhạt trong hợp tác kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status