LUẬN văn sư PHẠM sử CHÍNH SÁCH của mỹ đối với ASEAN TRONG và SAU CHIẾN TRANH LẠNH - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ

CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI ASEAN
TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

Giáo viên hƣớng dẫn:
Nguyễn Hữu Thành

Sinh viên thực hiện:
Trần Quốc Việt
Mssv: 6086370

Cần Thơ, tháng 4 năm 2012


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đông Nam Á là một khu vực địa chiến lƣợc hết sức quan trọng bởi vị
trí địa lý và sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên của khu vực này. Từ sau
chiến tranh thế giới II, Đông Nam Á luôn là khu vực đƣợc hầu hết các nƣớc
lớn quan tâm vì những lợi ích chiến lƣợc của mổi nƣớc, các mối quan hệ
quốc tế ở đây đang xen chồng chéo lẫn nhau hết sức phức tạp, trong đó có
Mỹ với tƣ cách là một siêu cƣờng luôn đặt Đông Nam Á trong những tính
toán chiến lƣợc của mình, những chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á

mình ở khu vực Đông Nam Á.
Tổ chức ASEAN ra đời năm 1967, đánh dấu một cột mốc rất quan
trọng trong lịch sử và tƣơng lai của khu vực Đông Nam Á, với mục tiêu liên
kết toàn bộ các quốc gia trong khu vực, vực dậy nền kinh tế của các nƣớc
thành viên, nâng cao uy tín, tiếng nói của khu vực trên trƣờng quốc tế... Sau
hơn bốn thập niên phát triển kể từ khi hình thành, tổ chức ASEAN đã đạt
đƣợc nhiều thành tựu to lớn về nhiều mặt, song cũng gặp rất nhiều khó khăn
về chính trị, kinh tế, xã hội và luôn phải chịu sức ép của các nƣớc lớn từ
nhiều phía, trong đó đặc biệt là Mỹ. Mỹ gần nhƣ hiện diện trong mọi hoạt
động quan hệ quốc tế của khu vực cả trong và sau chiến tranh lạnh, những
chiến lƣợc và chính sách của Mỹ đối với ASEAN từ khi thành lập đến nay
có ảnh hƣởng rất lớn đã và đang tác động đến sự phát triển của khu vực
Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam của chúng ta. Việc tìm hiểu vấn đề này
là rất cần thiết không những về mặt lịch sử mà nó còn mang một ý nghĩa
thiết thực cho tƣơng lai khu vực cũng nhƣ đất nƣớc ta, nhất là đất nƣớc ta
đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, cùng hội
nhập và phát triển với các xu thế khu vực và quốc tế. Đảng và nhà nƣớc ta
đã đề ra đƣờng lối đối ngoại “Độc lập tự chủ, rộng mở, đa phƣơng hóa, đa
dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẳn sàng là bạn, là đối tác tin cậy
của các nƣớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
phát triển và hội nhập phát triển”1. Chính vì những lý do trên, nên tôi đã
Trích dẩn theo Lê Khƣơng Thùy, Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh
lạnh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.tr.14
1

Trang 3


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)




Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

Quốc phòng Mỹ... Trong đó tôi nhận thấy rằng, phần lớn các tác giả, các bài
viết tập trung xoáy sâu phân tích rất sâu sắc vấn đề này về nhiều mặt nhƣng
lại nghiêng về khía cạnh chính trị, quân sự, kinh tế, quan hệ đối ngoại,...
nhiều hơn, trong khi khía cạnh lịch sử ít đƣợc chú ý hơn. Vì vậy, trong đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình tôi chỉ tìm hiểu về khía cạnh nhỏ những chính
sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)
dƣới góc độ lịch sử là chủ yếu.

IV. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Là một sinh viên, để hoàn thành đề tài luận văn này tôi đã sử dụng các
phƣơng pháp thông dụng, chủ yếu là phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp
logic, bên cạnh đó tôi còn sử dụng các phƣơng pháp phân tích số liệu kinh
tế, xã hội,... từ các tài liệu tham khảo, từ đó nêu ra một cách tổng thể có hệ
thống vấn đề mình muốn tìm hiểu, đồng thời đƣa ra những nhận định đánh
giá của bản thân trên khía cạnh lịch sử. Trong đề tài "Chính sách của Mỹ đối
với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh" của mình, Mỹ đƣợc lấy làm nhân
tố chủ thể, các nƣớc ASEAN là một nhóm đối tƣợng trong chính sách của
Mỹ, đồng thời tôi chỉ nhấn mạnh, đi sâu tìm hiểu các chính sách của Mỹ đối
với ASEAN từ khi thành lập đến nay. Bên cạnh đó, tôi còn đề cập đến các
biện pháp thực hiện các chính sách của Mỹ trên các mặt quân sự, chính trị,
kinh tế cũng nhƣ khái quát những hệ quả của các chính sách đó đối với các
nƣớc ASEAN để làm rõ những nội dung, đặc điểm chủ yếu và bản chất của
những chính sách này của Mỹ.
Là một sinh viên năm cuối với khả năng và tầm nhìn hạn chế, trong
quá trình tìm hiểu, trình bày đề tài chắc chắn sẽ có nhiều thiếu xót, rất mong
quý thầy cô và các bạn chỉ bảo, đóng góp ý kiến. Xin chân thành cảm ơn.

I. Địa chiến lƣợc Chính trị - Kinh tế Đông Nam Á
Nằm ở phía đông - nam Châu Á, Đông Nam Á bao gồm một khu vực
không gian địa lý rộng lớn với diện tích đất nổi hơn 4.500.000 km vuông.
Đƣợc phân chia thành hai bộ phận là Đông Nam Á lục địa còn gọi là bán
đảo Trung -Ấn và Đông Nam Á hải đảo hay còn gọi là quần đảo Mã -Lay.
Hiện nay Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia độc lập có chủ quyền trong đó
gồm có 5 nƣớc trên bán đảo Trung -Ấn là Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái
Lan, Myanma và 6 nƣớc trên quần đảo Mã –Lay là Inđônêsia, Malaysia,
Philippin, Singapo, Brunây, Đông Timo. Khu vực Đông Nam Á có số dân
khá đông với trên 500 triệu dân vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Hầu hết
các quốc gia ở Đông Nam Á trừ Lào đều tiếp giáp các biển thuộc Thái Bình
Dƣơng và Ấn Độ Dƣơng nhƣ biển GiaVa, biển Timo, biển Philippin, biển
Anđaman và nhất là biển Đông… nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế biển, mở rộng giao lƣu quốc tế và phát triển mậu dịch hàng hải.
Khu vực Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên rất thuận lợi
cho phát triển nông nghiệp nhiệt đới đặc biệt là sản xuất lúa gạo và cây công
nghiệp lâu năm. Ngày nay, Việt Nam, Thái Lan là những quốc gia xuất khẩu
lúa gạo hàng đầu thế giới. Khu vực Đông Nam Á có nguồn tài nguyên thiên
nhiên hết sức phong phú và đa dạng, khu vực này cung cấp cho thị trƣờng
thế giới 60% quặng thiếc, 83% cao su, 90% gai, 50% cùi dừa, 33% dầu cọ,...
Rừng là tài nguyên giàu có của khu vực bao gồm nhiều loại gỗ quý với trữ
lƣợng lớn nhƣ gổ Tết, Mun, Cẩm lai, Gụ, Trắc, Lim, Sến, Táu,... Nơi đây
còn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú nhƣ: thiếc, wonfram, bôxít, crôm, đồng,...và đặc biệt là dầu mỏ, do tầm quan trọng chiến lƣợc của
Trang 7


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

nó, dầu mỏ tập trung nhiều ở Inđônêsia, Myanma, Brunây, Việt Nam và trên
thềm lục địa biển Đông…

Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

đã vấp phải sự phản đối gay gắt từ phía Mỹ, quan hệ Mỹ - Nhật trở nên căng
thẳng. Lợi dụng thời cơ khi phát - xít Đức đang thắng thế ở châu Âu và đang
chuẩn bị tấn công Liên Xô, Nhật đã quyết định “Nam tiến”, mục tiêu chủ
yếu là Đông Nan Á, nhằm độc chiếm toàn bộ khu vực chiến lƣợc và giàu tài
nguyên thiên nhiên này. Rạng sáng ngày 7/12/1941, Nhật Bản bất ngờ tấn
công Trân Châu Cảng - căn cứ hải quân chủ yếu của Mỹ ở Thái Bình
Dƣơng, cuộc tấn công bất ngờ và dữ dội này đã gây thiệt hại nặng nề chƣa
từng có trong lịch sử hải quân Mỹ. Chính sách trung lập, lƣỡng lự của Mỹ
chấm dứt, hôm sau, ngày 8/12, Mỹ tuyên chiến với Nhật Bản. Sau đó, chỉ
trong vòng sáu tháng từ tháng 12/1941 đến tháng 6/1942, Nhật Bản đã
chiếm hầu hết khu vực Đông Nam Á cùng nhiều đảo và quần đảo ở Tây
Thái Bình Dƣơng, quân Anh, Mỹ bị đánh bật ra khỏi Thái Bình Dƣơng và
mất hết các thuộc địa của mình tại khu vực này. Các dân tộc ở Đông Nam Á,
sau nhiều thế kỷ cùng cực dƣới ách thống trị của thực dân phƣơng Tây, nay
lại bị quân phiệt Nhật thống trị, họ đã ngoan cƣờng tiến hành cuộc chiến
tranh chống ách thống trị của phát xít Nhật, tin tƣởng vào thắng lợi của quân
Đồng Minh, tiêu biểu là Mặt trận Việt Minh ở Việt Nam, phong trào “Liên
minh nhân dân tự do chống phát- xít” ở Myanma, ở Philippin có phong trào
“Quân đội nhân dân kháng Nhật”, ở Thái Lan có phong trào “Thái tự do”, ở
Inđônêsia phong trào kháng Nhật phát triển mạnh mẽ... Từ mùa đông năm
1943, những thắng lợi lớn của Hồng quân Liên Xô và quân Đồng Minh ở
châu Âu, Bắc Phi, Địa Trung Hải, đã tác động mạnh mẽ đến mặt trận Thái
Bình Dƣơng, quân đội Mỹ - với tiềm lực khổng lồ về kinh tế, quân sự đã bắt
đầu phản công trở lại ở mặt trận này, gây nhiều thiệt hại cho quân Nhật,
ngày 6/2/1945, Mỹ đã lấy lại đƣợc Philippin, cùng với đó là việc sụp đổ của
Chủ nghĩa phát xít Đức ở Châu Âu, việc Liên Xô tham chiến ở Viễn Đông
và quân Đồng Minh, chủ yếu là quân Mỹ tấn công quyết liệt trên chính nƣớc
Nhật (dội bom chiến lƣợc, bom nguyên tử…)... Nhật Bản đã đầu hàng vô

mới chính thức tuyên bố nền độc lập cho Liên bang Malaya. Còn ở
Myanma, Anh đã ký với Liên minh nhân dân tự do chống phát xít hiệp ƣớc
quy định quyền tự trị hạn chế. Tƣơng tự, Hà Lan cũng trao trả độc lập cho
Inđônêsia vào tháng 8/1950 sau khi đã ký kết nhiều hiệp định bất bình đẳng
với chính phủ mới của Inđônêsia. Còn ở Đông Dƣơng, từ cuối năm 1945,
với sự giúp đỡ của Anh, Pháp đã trở lại xâm lƣợc Đông Dƣơng, sau nhiều
lần thƣơng lƣợng với chính phủ Hồ Chí Minh không thành vì lập trƣờng của
Trang 10


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

hai bên hoàn toàn đối lập nhau, trên thực tế Pháp không quan tâm đến độc
lập hay tự trị của Việt Nam hoặc toàn bộ Đông Dƣơng, mà chỉ quan tâm tái
chiếm Đông Dƣơng một lần nữa. Vì vậy, bất chấp thiện chí từ chính phủ Hồ
Chí Minh, Pháp vẫn ngoan cố thực hiện tham vọng của mình, do đó chiến
tranh là điều không thể tránh khỏi.
Nói tóm lại, có hai nguyên nhân chính khiến Mỹ thay đổi thái độ và
chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á, từ chính sách “chống thực dân”,
cố tìm cách gạt ảnh hƣởng của các nƣớc thực dân châu Âu già cỏi sang
chính sách ủng hộ quyền lợi của các nƣớc thực dân châu Âu ở khu vực này:
thứ nhất, do vấp phải sự phản ứng gay gắt của Anh và Pháp, khi hai nƣớc
này lo sợ mất quyền lợi của mình ở khu vực chiến lƣợc quan trọng này. Thứ
hai, mối lo ngại “nguy cơ Chủ nghĩa Cộng sản”, khiến Mỹ phải cần thiết tập
hợp lực lƣợng “thế giới tự do” để chống Cộng, mà các nƣớc đồng minh Tây
Âu luôn chiếm vị trí hàng đầu. Vì vậy, Mỹ phải gạt vấn đề thuộc địa sang
một bên để tập trung cho vấn đề chống Cộng. Nhƣng đó chỉ là bƣớc dừng
tạm thời của Mỹ, bởi Đông Nam Á, khu vực địa chiến lƣợc và giàu có này
luôn nằm trong dự tính chiến lƣợc của Mỹ và các nƣớc lớn suốt trong thời
chiến tranh lạnh và sau đó. Trên thực tế, sau này khi có thời cơ, Mỹ không

“Đông Nam Á đã trở thành đối tƣợng thèm muốn toàn cầu”.
II. Vài nét về chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á từ sau chiến
tranh thế giới II đến trƣớc khi tổ chức ASEAN ra đời
II. 1. Chính sách của Mỹ đối với các nƣớc Đông Nam Á trong giai đoạn
từ năm 1945-1949
Từ chổ phản đối sự tái chiếm của ngƣời Pháp ở Đông Dƣơng, sau
chiến tranh, chính quyền Mỹ làm ngơ trƣớc sự kêu gọi trợ giúp, ủng hộ từ
chính phủ Hồ Chí Minh và tuyên bố cung cấp vũ khí, phƣơng tiện chiến
tranh, hỗ trợ công việc tái chiếm của Pháp ở Đông Dƣơng. Theo nhận xét
của L. A. Patti đƣợc trích trong quyển Why Vietnam?, thì: “Chính sách của
Mỹ đối với Đông Dƣơng lúc đó (từ giữa tháng 11/1945 đến tháng 3/1946)
đã ngã từ phƣơng hƣớng chiến lƣợc thời chiến sang lĩnh vực kinh tế chính
trị của mối quan hệ giữa Mỹ và Pháp”1. Ngày 13/5/1947, Chính quyền tổng
thống H. Truman đã đƣa ra chỉ thị tuyên bố thi hành chính sách ngoại giao
1

, Trích dẩn theo Lê Khƣơng Thùy, Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh
lạnh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003. tr.39

Trang 12


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

chính thức đối với khu vực Đông Nam Á nhƣ sau: “Lập trƣờng chủ yếu
trong nhận thức của chúng ta là ở Đông Nam Á, chúng ta nhất thiết phải
cùng hội cùng thuyền với ngƣời Pháp, cũng nhƣ với ngƣời Anh và Hà
Lan...với việc nền cai trị của ngƣời châu Âu đƣợc nới ra...các xu hƣớng
Liên Á chống phƣơng Tây có thể trở thành lực lƣợng chính trị quan trọng
nhất, hoặc Cộng Sản cũng có thể nắm lấy chính quyền. Chúng ta cho rằng

mong đợi một sự trợ giúp lớn lao từ Mỹ thì Mỹ lại im lặng và chỉ đóng góp
có giới hạn việc khắc phục hậu quả cuộc khủng hoảng thông qua Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF). Đến khi nhận thấy ảnh hƣởng tài chính sẽ lan tới Mỹ,
Chính quyền Tổng thống B. Clinton tuyên bố cùng Nhật Bản sẽ đóng vai trò
lớn trong việc khắc phục khủng hoảng tại Đông Nam Á. Mỹ đã đề ra chiến
lƣợc bốn điểm để ổn định tài chính nhƣ sau:
1- Ủng hộ cải cách kinh tế của các nền kinh tế Đông Nam Á và Đông Á
Trang 91


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

2- Hiệp đồng với các cơ quan tài chính quốc tế theo hƣớng xây dựng để ổn
định tài chính và khôi phục lòng tin của các nhà đầu tƣ quốc tế để thu hút số
tƣ bản cần thiết cho việc phục hồi và tăng trƣởng kinh tế.
3- Bảo đảm trên cơ sở song phƣơng, dùng viện trợ tài chính nhân đạo và khi
cần thiết, dùng viện trợ tài chính khẩn cấp.
4- Thúc giục Nhật Bản và các cƣờng quốc kinh tế hàng đầu khác có biện
pháp tích cực nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng toàn cầu1.
Thực hiện chiến lƣợc bốn điểm trên, Mỹ đã đóng góp tích cực trong
việc khắc phục khủng hoảng tài chính ở Đông Nam Á, khôi phục lòng tin
của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, tạo cơ sở cho sự tăng trƣởng kinh tế ở khu
vực,... Để thực hiện chiến lƣợc này, Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn việc cấp cho
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 18 tỷ USD2. Tuy nhiên, để nhận đƣợc viện trợ từ
IMF các nƣớc nhận viện trợ phải cam kết thực hiện những điều kiện hết sức
gắt gao nhƣ việc mở cửa thị trƣờng, cải cách tài chính cũng nhƣ những thay
đổi trong cơ cấu kinh tế. Điều này gây ra những khó khăn và thách thức to
lớn đối với các nƣớc trong khu vực, tạo điều kiện cho tƣ bản nƣớc ngoài
thâm nhập, chi phối nền kinh tế cũng nhƣ công việc nội bộ quốc gia. Trong
đó, các tập đoàn kinh tế khổng lồ của Mỹ đã có cơ hội xâm nhập, mở rộng

nhóm tiềm tàng chống Mỹ” và “Mỹ không có ý định gánh vác chi phí cho
sự có mặt về quân sự của mình ở châu Á, và trách nhiệm lãnh đạo khu vực,
để rồi bị gạt khỏi những lợi ích của sự tăng trƣởng do sự ổn định mang
lại”1.
III. 3. Hệ quả của những chính sách của Mỹ đối với các nƣớc ASEAN
thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Bối cảnh quốc tế và khu vực sau Chiến tranh lạnh đã tác động mạnh
đến sự điều chỉnh chiến lƣợc của Mỹ đối với ASEAN. Thời điểm sau Chiến
tranh lạnh khi mà cuộc chạy đua kinh tế đã thay thế cho cuộc chạy đua vũ
trang thời Chiến tranh lạnh, vấn đề ý thức hệ không còn ý nghĩa nhƣ thời kỳ
trƣớc nữa, khu vực Đông Nam Á – ASEAN không còn là khu vực có lợi ích
sống còn nhƣ thời kỳ Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam. Song
khu vực Đông Nam Á, với vị trí địa chiến lƣợc giàu tài nguyên, một nguồn
lao động dồi dào, một thị trƣờng rộng lớn, luôn có một ý nghĩa chiến lƣợc
quan trọng đối với Mỹ cả về mặt an ninh cũng nhƣ các lợi ích kinh tế. Đồng
thời việc mở rộng ASEAN ra toàn khu vực vào cuối những năm 1990, cũng
nhƣ tốc độ tăng trƣởng kinh tế mạnh mẽ của khối ASEAN trong thập kỷ đầu
của thế kỷ XXI, ASEAN trở thành một trong những khu vực phát triển năng
động nhất thế giới, tiếng nói, vị thế của ASEAN đƣợc nâng cao trên trƣờng
1

Trích dẩn theo Lê Khƣơng Thùy, Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003. tr.243

Trang 93


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

quốc tế,... những điều đó càng nâng cao tầm quan trọng của ASEAN đối với


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

trong đó có Đông Nam Á. Việc Mỹ tăng cƣờng hiện diện trở lại ở khu vực
chiến lƣợc này bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, về mặt an ninh: những diễn biến căng thẳng trên bán đảo
Triều Tiên xoay quanh vấn đề hạt nhân của Bình Nhƣỡng; tranh chấp quần
đảo Điếu Ngƣ trên biển Hoa Đông; lãnh thổ Đài Loan; đặc biệt là vấn đề
Biển Đông, các đảo và thềm lục địa của vùng biển này, một vùng biển chiến
lƣợc cả về phƣơng diện quân sự, chính trị, giao thông, kinh tế không chỉ đối
với các nƣớc trong khu vực mà cả những nƣớc ngoài khu vực, đặc biệt là
Trung Quốc và Nhật Bản. Hầu nhƣ toàn bộ nguồn dầu mỏ nhập khẩu từ
Trung Đông và châu Phi của hai nƣớc này phải đi qua Biển Đông. Sự vƣơn
lên nhanh chóng và mạnh mẽ của Trung Quốc cũng nhƣ việc nƣớc này tăng
cƣờng sức mạnh quân sự, đặc biệt là hải quân khiến các nƣớc trong khu vực,
nhất là các nƣớc ASEAN lo ngại. Trung Quốc đã ra tuyên bố đƣờng lƣỡi bò
chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa,
Trƣờng Sa. Đến nay, trên phƣơng diện thế giới, Trung Quốc chƣ thể sánh
bằng Mỹ, nhƣng ở phạm vi khu vực, Trung Quốc đã tạo ra một thách thức
thật sự đối với Mỹ, ngƣời Mỹ nhận ra rằng, cần cũng cố địa vị của họ tại
khu vực chiến lƣợc này.
Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế châu Á – Thái bình Dƣơng
trong mấy thập niên qua đã khiến nơi đây trở thành khu vực phát triển sôi
động nhất thế giới, càng khẳng định vài trò vị thế của toàn bộ khu vực trên
thế giới trong thế kỷ XXI.
Qua tuyên bố của ngoại trƣởng Mỹ tại ARF-17 vừa qua, và sự phản
pháo ngay lập tức của ngoại trƣởng Trung Quốc trong những ngày này xung
quanh giải pháp đối với các tranh chấp ở Biển Đông cho thấy tình hình đang
nóng lên. Cộng thêm các cuộc tập trận đã và sẽ tiến hành từ cả hai phía, cục
diện an ninh Đông Nam Á đang đứng trƣớc nhiều thách thức.

ASEAN phải hết sức nhuần nhuyễn và uyển chuyển trong việc lồng ghép
giữa song phƣơng và đa phƣơng trong quan hệ với các đối tác chủ chốt nhƣ
Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Nga và Liên minh châu Âu.

Trang 96


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

Cuối cùng là ý chí tự lập, tự cƣờng, gần nhƣ là một căn cƣớc nổi tiếng
của ASEAN, sẽ hoà quyện với chân lý "không có gì quý hơn độc lập tự do"
của Việt Nam tạo nên nguồn sức mạnh thời đại để chúng ta cùng nƣơng vào,
tiến theo trào lƣu chủ đạo trong việc hình thành các phối trí hợp tác giữa
ASEAN với các đối tác bên ngoài.

Trang 97


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

C. KẾT LUẬN
Tìm hiểu những chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau
chiến tranh lạnh (1967 – nay), có thể đƣa ra những nhận định sau:
Thứ nhất, từ sau chiến tranh thế giới thứ II, trong con mắt của ngƣời
Mỹ, khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng có một vai trò rất quan trọng chiến
lƣợc toàn cầu của Mỹ, trong đó khu vực Đông Nam Á là một khu vực chiến
lƣợc ngày càng quan trọng, là một mắc xích chiến lƣợc trong chuổi mắc xích
chiến lƣợc vòng cung Đông Á – Thái Bình Dƣơng. Chúng ta thấy rằng từ
khi đƣợc thành lập năm 1967 đến nay, sau hơn bốn thập niên hình thành và
phát triển, khu vực Đông Nam Á – ASEAN với vị thế về địa chiến lƣợc

Đồng thời, thông qua các chính sách của mình Mỹ tìm mọi cách cột chặt
ASEAN trong quỹ đạo tƣ bản của Mỹ.
Thứ tƣ, sau Chiến tranh lạnh, khi mà vấn đề ý thức hệ không còn
mang ý nghĩa nhƣ trƣớc, kinh tế trở thành nhân tố trung tâm, chạy đua kinh
tế thay thế chạy đua vũ trang trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Mỹ vẫn tiếp tục
các chính sách viện trợ kinh tế, quân sự cho khối ASEAN, tuy nhiên viện trợ
của Mỹ dành cho ASEAN đã giảm đi đáng kể và đƣợc điều chỉnh lại phù
hợp với các chiến lƣợc và lợi ích của Mỹ ở khu vực.
Sau Chiến tranh lạnh, mối quan hệ giữa Mỹ và ASEAN đã chuyển từ
quan hệ bạn bè đồng minh sang quan hệ bạn bè đối tác. Mỹ có những điều
chỉnh chính sách kinh tế đối với ASEAN nhằm mở rộng hơn nữa vai trò
kinh tế của Mỹ ở khu vực. Mỹ thực thi một loạt các chính sách kinh tế nhằm
mở cửa thị trƣờng, tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế Mỹ xâm nhập, mở
rộng phạm vi hoạt động vào ASEAN. Việc thành lập ASEAN – 10 vào cuối
thế kỷ XX, đã tạo ra cho ASEAN một thị trƣờng thống nhất, rộng lớn. Sự
bùng nổ kinh tế của ASEAN vào đầu những năm 1990 đã cho thấy tiềm
năng kinh tế to lớn của tổ chức này. Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính
năm 1997 làm chao đảo nền kinh tế nhiều nƣớc trong khu vực nhƣng
ASEAN đã nổ lực, nhanh chóng khắc phục, vƣợt qua khủng hoảng và lấy lại
đà phát triển. Ngày nay, ASEAN là một trong những khu vực có tốc độ tăng
trƣởng cao nhất của thế giới. Những điều này có thể khẳng định rằng
ASEAN tiếp tục sẽ là nơi các nƣớc lớn thể hiện mối quan tâm đặc biệt trong
Trang 99


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

thế kỷ XXI.
Thứ năm, quan hệ giữa Mỹ và ASEAN sau hơn bốn thập niên một mặt
là quan hệ có qua, có lại. Bởi trong thời kỳ chiến tranh lạnh, để thực hiện


Tóm lại, suốt hơn bốn thập niên qua, khu vực Đông Nam Á – ASEAN
luôn nằm trong những tính toán chiến lƣợc của Mỹ, cho dù bối cảnh, tình
hình khu vực có nhiều biến động mạnh mẽ, đặc biệt nhƣ Chiến tranh Việt
Nam, vấn đề Campuchia, những thay đổi sau Chiến tranh lạnh, sự vƣơn lên
của Trung Quốc ngày nay cũng nhƣ việc Mỹ tăng cƣờng hiện diện của mình
trong những những năm gần đây tại khu vực châu Á – Thái bình Dƣơng nói
chung và khu vực Đông Nam Á – ASEAN nói riêng … Song mục tiêu của
Mỹ vẫn là khẳng định vai trò, quyền lợi của Mỹ tại khu vực chiến lƣợc, phát
triển sôi động này của thế giới. Các chính sách của Mỹ có tác động rất lớn
đến tình hình của các nƣớc Đông Nam Á – ASEAN, đặc biệt trong giai đoạn
Chiến tranh Việt Nam. Sau Chiến tranh lạnh tuy ASEAN không còn là khu
vực có ý nghĩa sống còn với Mỹ, nhƣng Mỹ vẫn luôn khẳng định sự có mặt
của mình tại khu vực này. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, chúng ta hãy
còn chứng kiến những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với
châu Á – Thái Bình Dƣơng nói chung và khu vực Đông Nam Á – ASEAN
nói riêng.

Trang 101


Chính sách của Mỹ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh (1967 - nay)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Khƣơng Thùy, Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau
Chiến tranh lạnh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003
2. Lƣu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch, Pháp tái chiếm Đông Dƣơng và
Chiến tranh lạnh, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2002
3. Nguyễn Duy Quý, Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển
bền vững, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status