Tiểu Luận Sự thay đổi cấu trúc sức mạnh của hệ thống quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
Chiến tranh lạnh kết thúc với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở
Đông Âu và Liên Xô. Hệ thống đối đầu lưỡng cực của thế giới bị phá
vỡ và thay vào đó là quá trình tái lập sự cân bằng thế giới mới. Sự sụp
đổ của Liên Xô cùng các đồng minh Đông Âu của Liên Xô, về thực
chất, là khúc dạo đầu cho quá trình phân bổ lại cơ cấu sức mạnh ở cấp
độ toàn cầu.
Trước những thay đổi cục diện toàn cầu, tập hợp lực lượng mới trên
thế giới cũng như những đòi hỏi của tình hình, tất cả các quốc gia dù
lớn nhỏ đều phải đánh giá lại đường lối phát triển và vị thế quốc tế
mới của mình nhằm tạo cho mình một chỗ đứng có lợi nhất trong trật
tự thế giới mới.
Xu thế “hợp tác, liên kết” trở thành xu thế phổ biến của các quốc
gia. Những thay đổi trong so sánh lực lượng, sự nổi lên của những vấn
đề mang tính toàn cầu, hay lợi ích của các quốc gia là động lực chính
để xu thế trên lan rộng và phát triển thành xu hướng “quốc tế hóa” trên
phạm vi toàn cầu. Tham vọng của tôi khi thực hiện đề tài này là nhằm
phác thảo một cách khái quát nhất, từ nguyên nhân, biểu hiện và tác
động của nó trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh cũng như một
vài quan điểm của các chuyên gia, các nhà chính trị học, kinh tế học,
xã hội học về xu thế thời đại này.
I. NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH
1. Sự thay đổi cấu trúc sức mạnh của hệ thống quan hệ quốc tế
sau chiến tranh lạnh.
Chiến tranh lạnh kết thúc đồng nghĩa với việc chấm dứt sự tồn tại
thế giới lưỡng cực. Quyền lực chi phối đời sống quốc tế bị khuyếch
tán theo chiều hướng “đa cực”.
Nhóm nước liên minh quay quanh trục Liên Xô cũng vận động theo
nhiều khuynh hướng khác nhau: một số nước Đông Âu bị hút về phía
Tây Âu và trở thành những thành tố của cực “chiến thắng”; số khác,
sau một thời gian tìm kiếm con đường phát triển đã nhận thức được

suy cho cùng đều xuất phát từ lợi ích quốc gia mà thôi.
3. Sức ép từ kinh tế và xu hướng “quốc tế hóa”
Lợi ích dân tộc và kinh tế của từng quốc gia nay đã vượt lên trên sự
hấp dẫn của các mục tiêu chính trị chung mang tính ý thức hệ. Từ năm
1970, nền kinh tế thế giới chuyển dần sang phát triển theo chiều sâu.
Các nước đều chú trọng đến phát triển tiềm lực kinh tế của mình. Đại
diện thương mại Hoa Kỳ, Michael Kantor đã phát biểu thẳng: “Sau thế
chiến 2 và trong thời kì chiến tranh lạnh chúng ta luôn mở cửa thị
trường của mình cho hàng hóa thế giới mà không hề đòi hỏi sự báo
đáp tương xứng từ phía các nước khác…Nhưng kể từ thời điểm
này( năm 1995) chúng ta chẳng bao lâu sẽ không còn là một thế lực
thống trị kinh tế duy nhất trên thế giới nữa. Châu Âu và Nhật Bản đã
tái cơ cấu và trở thành những địch thủ cạnh tranh đáng sợ. Giờ đây
chúng ta kiên quyết đòi hỏi thị trường của bạn hàng phải mở cửa cho
hàng hóa, dịch vụ và đầu tư của Hoa Kỳ. Chúng ta không thể chiu
đựng hơn cảnh “các kỵ sỹ tự do” cưỡi lên hệ thống mậu dịch toàn
cầu”
[2]
. Làn sóng liên kết các quốc gia trong các tổ chức kinh tế khu
vực và quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.
Một thành tố không thể không kể đến đó là vai trò của các công ty,
tập đoàn đa
quốc gia, chính những nhân tố này đã góp phần thúc đẩy xu thế hợp
tác, liên kết trên thế giới.
Như vậy kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng
hợp của các quốc gia và là động lực chính của xu hướng khu vực hóa,
toàn cầu hóa.
4. Sự nổi lên của các vấn đề mang tính toàn cầu
Thế giới hậu chiến tranh lạnh phải đối mặt với những vấn đề mang
tính toàn cầu như “ vấn đề vũ khí hạt nhân”, “ ô nhiễm môi trường”, “

về mặt kinh tế, tạo ra những cơ hội cũng như những thách thức về
3
[]
Samuel Hungtington (2003), Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao Động, Hà
Nội, tr. 153.
kinh tế, xã hội, chính trị chưa từng có, do đó đòi hỏi phải có sự liên
kết, hợp tác của tất cả các quốc gia.
II. CÁC HÌNH THỨC BIẾU HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA XU
THẾ
Xu hướng “ hợp tác, liên kết” giữa các quốc gia ngày nay đã phát
triển thành xu hướng “ toàn cầu hóa” trên toàn thế giới. Tác động của
xu thế này được thể hiện trong nhiều khía cạnh và có những ảnh
hưởng nhất định trong đời sống quốc tế.
1. Tác động tích cực
Hợp tác, liên kết đang mở rộng không gian của nền kinh tế quốc
dân vượt ra ngoài giới hạn chủ quyền lãnh thổ. Các quốc gia liên kết
với nhau trong các tổ chức quốc tế mang tính khu vực hoặc liên châu
lục không chỉ về thương mại mà cả về chính trị, pháp lý và tiền tệ,
như: UN, EU, IMF,…Chỉ cần theo dõi sự biến thiên số lượng thành
viên Liên Hợp Quốc có thể nhận thấy điều đó: năm 1945, Liên Hợp
Quốc có 51 thành viên; năm 1960 – 100 thành viên, và năm 1993,con
số đó đã là 184 nước thành viên. Cơ hội của các nước khi tham gia các
tổ chức quốc tế và khu vực này là rất lớn:
Thị trường cũng như thương mai quốc tế được mở rộng, các nước
tận dụng được nguồn vốn dồi dào từ bên ngoài để phát triển đất nước.
Chính vì vậy với việc phát triển các mối liên hệ hợp tác giữa các quốc
gia sẽ đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như gia tăng các
luồng tư bản quốc tế, tất yếu sẽ làm cho đời sống của người dân tăng
lên.
Cơ hội tiếp nhận công nghệ mới của các nước sẽ dễ dàng hơn. Nó

mang lại nhiều lợi ích cho các nước tham gia, đồng thời đây còn là vấn
đề mang ý nghĩa sống còn đối với mỗi quốc gia, nhất là trong việc
thích ứng với một môi trường quốc tế đầy phức tạp.
2. Tác động tiêu cực
Xu hướng hợp tác, liên kết bên cạnh những mặt tích cực kể trên đã
và đang
biểu hiện nhiều mặt tiêu cực.
Xu hướng hợp tác, liên kết giữa các quốc gia mà nói rộng ra là
xu hướng quốc tế hóa đang làm “mềm” các giới hạn lãnh thổ; ý thức
phân biệt “ bên trong” và “bên ngoài” quốc gia đang bị mờ dần bởi sự
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và tri thức.
Xu thế này càng phát triển càng làm tan vỡ các hàng rào bảo hộ của
các quốc gia; do vậy các quốc gia không chỉ được hưởng những mặt
tích cực của quá trình này mà còn phải chịu cả những chấn động của
hệ thống kinh tế toàn cầu trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính, nguyên,
nhiên liệu, gần đây nhất là khủng hoảng tài chính – kinh tế Mỹ 2008,
và hàng loạt các vấn đề khác như: ô nhiễm môi trường, dịch bệnh…tất
cả đều là hệ quả của sự phát triển xuyên quốc gia.
Một ảnh hưởng tiêu cực nữa đó là sự chênh lệch về trình độ phát
triển của các quốc gia ngày càng lớn.Những nước nào đã giàu thì càng
giàu thêm mà những nước nào đã nghèo thì càng thảm hại hơn.
Xu thế hợp tác, liên kết dẫn tới xu thế toàn cầu hóa, mà dưới áp lực
của xu thế này khoảng cách giàu nghèo trên thế giới sẽ ngày một gia
tăng, nó đang đẩy hàng triệu người lao động đến chỗ thất nghiệp, phá
vỡ những phương thức sinh sống truyền thống của họ, trực tiếp hay
gián tiếp tạo ra các dòng di cư, sự tàn phá môi trường thiên nhiên ở các
nước thứ ba. Nó tạo cơ hội cho giới đầu cơ và reo rắt sự khốn cùng
cho người lao động.
Quá trình quốc tế hóa phát triển không chỉ có các lực lượng kinh tế
tham gia vào quá trình này mà còn có cả các thế lực phản động, bọn

cộng đồng thế giới – tác giả) trên phương diện chính trị và vật chất đã
trở thành một hiện thực nghiệt ngã và nhiều khi đau đớn”
[5]
.
Tuy nhiên dù nói gì đi chăng nữa thì thế giới ngày nay là thế giới
của hội nhập, thế giới của liên kết, hay như Friedman thì chúng ta
đang sống trong một “thế giới phẳng”.

CÁC NGUỒN TÀI LIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG BÀI
1. Samuel Hungtington(2003), Sự va chạm của các nền văn minh,
Nxb Lao Động, Hà Nội.
5
[]
Cohen W (1998), Annual Report to the President and the Congress, Wash, p.5.
2. Thomas L.Friedman(2005), Thế giới phẳng, Nhà xuất bản Trẻ,
Hà Nội.
3. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia(2001), Trật tự
thế giới sau chiến tranh lạnh, Viện Thông tin Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
4. Vụ tổng hợp kinh tế - Bộ Ngoại Giao( 1999), Toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam(2001), Giáo trình Lịch sử quan
hệ quốc tế 1945-1990, Học viện Quan Hệ Quốc tế, Hà Nội.
6. Trương Tiểu Minh (2002), Chiến tranh lạnh và di sản
của nó , Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội
Môc lôc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status