Chính sách của Mỹ
Nghiên cứu Trung Quốc
số 5(84-2008)
25 (*) TS. Lê Khơng Thùy
Viện Nghiên cứu Châu Mỹ iện nay, Mỹ và Trung Quốc
là hai nớc lớn có ảnh hởng
chi phối đến tình hình an
ninh, kinh tế, chính trị trên
thế giới và khu vực châu á - Thái Bình
Dơng (TBD). Sự trỗi dậy và ảnh hởng
ngày càng lớn của Trung Quốc đã làm
cho các nhà chiến lợc Mỹ và nhiều nớc
khác đặc biệt quan tâm. Họ cho rằng,
trong các nớc lớn ở khu vực, Trung
Quốc là nớc duy nhất có khả năng cạnh
tranh và gây ảnh hởng đến các lợi ích
của Mỹ. Mỹ nhiều lần tuyên bố: Mỹ là
một quốc gia TBD, với những lợi ích bao
Quốc nh một đối tác mang tính xây
dựng và đề ra 2 mục tiêu chính:
Trớc hết là nhằm theo đuổi mọi quan
tâm và lợi ích của Mỹ ở mức độ thích
hợp.
Thứ hai là cố gắng xây dựng sự tin
cậy lẫn nhau và thoả thuận trong các
H
Lê Khơng Thuỳ
Nghiên cứu trung quốc
số 5(84)-2008
26
lĩnh vực Mỹ quan tâm, hội tụ với những
quan tâm khác giữa hai bên.
Trên cơ sở các mục tiêu đó, chính
quyền Clinton đã đa ra chính sách
cam kết toàn diện hay còn gọi là chính
sách can dự đối với Trung Quốc, thực
hiện các biện pháp nh:
- Tăng cờng các quan hệ và tiếp xúc
kinh tế, thơng mại với Trung Quốc để
thúc đẩy nớc này phát triển dân chủ;
- Đa ra chính sách ba không đối với
Đài Loan, một chính sách đợc đánh giá
là rõ ràng về vấn đề Đài Loan. Bên cạnh
đó, Mỹ vẫn đồng thời, dùng chính sách
kiềm chế dựa trên tinh thần cảnh giác
chiến lợc đối với Trung Quốc thông qua
cáo quốc phòng năm 2001, Mỹ xếp Trung
Quốc lên trớc Nga là nớc đối thủ tiềm
tàng chính của Mỹ. Chính sách đối với
Trung Quốc đợc điều chỉnh từ chú
trọng đến hợp tác là chủ yếu dới thời
Clinton sang chính sách nhấn mạnh đến
kiềm chế với các biện pháp:
- Tiếp tục dùng các vấn đề kinh tế,
nhân quyền gây sức ép với Trung Quốc.
- Tăng cờng hợp tác với các nớc
đồng minh: nâng cấp quan hệ Mỹ - Nhật
Bản thành quan hệ đối tác đặc thù, coi
Nhật Bản là trung tâm chiến lợc an
ninh mới.
- Điều chỉnh quan hệ Mỹ - ấn Độ, lợi
dụng ấn Độ để kiềm chế Trung Quốc.
- Từng bớc xây dựng vòng vây chiến
lợc đối với Trung Quốc, từ Mông Cổ qua
Trung á, Nam á và Đông Nam á,
- Tăng cờng quan hệ với Đài Loan
thông qua bán vũ khí tiên tiến và công
khai bày tỏ sự kiên quyết bảo vệ Đài
Loan qua tuyên bố sẽ làm hết khả
năng để giúp Đài Loan phòng vệ.
Chính sách của Mỹ đối với Trung
Quốc sau 11-9: Sau 11-9, Mỹ đã điều
chỉnh chiến lợc toàn cầu, chống khủng
bố trở thành mục tiêu hàng đầu, coi
trọng ngăn chặn phổ biến vũ khí hủy
diệt và trừng trị các thế lực Hồi giáo cực
trọng trong cuộc chiến chống khủng bố
và trong việc giải quyết các vấn đề quốc
tế khác.
- Phạm vi lợi ích chung của cả hai
nớc ngày càng tăng trong các vấn đề
kinh tế, và giải quyết vấn đề hạt nhân
của Bắc Triều Tiên, Iran Quan hệ tốt
đẹp có lợi cho cả hai nớc.
Để thực hiện mục tiêu chiến lợc, Mỹ
đã đa ra biện pháp quan trọng là tăng
cờng tiếp xúc với Trung Quốc, thông
qua tiếp xúc toàn diện, trực tiếp tác
động khiến cho tình hình kinh tế, chính
trị của Trung Quốc phát triển theo
hớng có lợi cho Mỹ. Mặc dù vậy, học
thuyết hoà nhập không làm thay đổi về
căn bản chiều hớng vốn có trong chính
sách của Mỹ đối với Trung Quốc là thực
hiện đồng bộ tiếp xúc và kiềm chế.
Do vậy, các chiến lợc gia Mỹ nhấn
mạnh tiếp xúc có điều kiện và giữ
nguyên tắc; và Mỹ vẫn không lơi lỏng
việc cảnh giác và kiềm chế Trung Quốc.
Từ đó, có thể thấy rõ tính hai mặt trong
chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc.
Bớc sang nhiệm kỳ hai của chính
quyền Bush, chính sách đối với Trung
Quốc tiếp tục có sự điều chỉnh. Chính
quyền Bush đặc biệt nhấn mạnh thúc
đẩy dân chủ với phạm vi đợc mở rộng
ra sao đối với mục tiêu chính sách và lợi
ích khu vực của Mỹ, vẫn còn là những
Lê Khơng Thuỳ
Nghiên cứu trung quốc
số 5(84)-2008
28
câu hỏi lớn đối với các nhà chiến lợc
Mỹ. Thuyết về mối đe dọa từ Trung
Quốc một lần nữa lại nổi lên ở Mỹ. Tình
hình đó khiến cho nhiều nhà quan sát
cho rằng chính sách của Mỹ đối với
Trung Quốc sẽ có những thay đổi mới
theo hớng cứng rắn. Tuy nhiên, trên
thực tế, mặc dù trong mọi văn kiện bàn
về chiến lợc cũng nh trong bố trí lực
lợng chiến lợc cụ thể, Trung Quốc là
đối thủ đợc Mỹ coi trọng nhất. Nhng,
t tởng chủ đạo của Mỹ không phải là
ngăn chặn toàn diện mà thông qua các
biện pháp mềm để kiềm chế Trung
Quốc. Thứ trởng Ngoại giao Mỹ Robert
B. Zoellick cho rằng: Việc làm thế nào
đối phó với sức mạnh đang không ngừng
trỗi dậy của Trung Quốc là một vấn đề
quan trọng trong chính sách ngoại giao
của Mỹ và ông nêu ra quan điểm Mỹ
phải thay đổi chính sách hoà nhập
trong 30 năm qua nhằm giúp Trung
Quốc vận dụng hành động mang tính
chất vấn đề mất cân bằng mậu dịch với
Mỹ (thâm hụt thơng mại của Mỹ với
Trung Quốc trên 200 triệu đô la), phải có
hành động thực chất về nhiều mặt nh
quyền sở hữu trí tuệ, mở cửa thị trờng,
tỉ giá đồng NDT, Trung Quốc cũng
phải gánh vác trách nhiệm quân sự,
phải khống chế đợc tốc độ hiện đại hoá
quân sự, minh bạch hơn về vấn đề quân
sự. Cuối cùng, Trung Quốc phải có
trách nhiệm chính trị tức là đẩy nhanh
tiến trình cải cách thể chế chính trị theo
quy tắc quốc tế, trong đó có vấn đề nhân
quyền, Để làm đợc việc này, Mỹ sẽ
thông qua các phơng thức đối thoại
chiến lợc để tăng cờng hợp tác, phối
hợp đồng thời làm tốt công việc phòng
ngừa cần thiết, ứng phó với khả năng
Trung Quốc thực hiện sự trỗi dậy bằng
phơng thức phi hoà bình. Mỹ thúc giục
Trung Quốc gánh vác trách nhiệm quốc
tế lớn hơn trong các lĩnh vực nh chống
khủng bố, ngăn chặn phổ biến vũ khí
huỷ diệt, Các vấn đề nh tỉ giá đồng
NDT, nhân quyền, đợc giải quyết
bằng phơng thức đối thoại. Trong vấn
đề Đài Loan, Mỹ đã có những động thái
không ủng hộ Đài Loan độc lập, không
Chính sách của Mỹ
Nghiên cứu Trung Quốc
thấy tính hai mặt trong chính sách của
Mỹ đối với Trung Quốc vẫn luôn tồn tại.
Nh vậy, sang nhiệm kỳ hai của G.W.
Bush, Mỹ tăng cờng cả hai mặt xây dựng
và phòng ngừa, tiếp xúc và kiềm chế đối
với Trung Quốc. Nhng tính chất kiềm
chế đã có sự thay đổi từ bao vây kiềm
chế sang kiềm chế mang tính chất dung
hoà. Nguyên nhân chủ yếu đa đến sự
điều chỉnh này là do:
- Chính sách bao vây kiềm chế của
Bush trong những năm qua không hiệu
quả và bị d luận phản đối.
- Mỹ xác định không thể ngăn cản sự
trỗi dậy của Trung Quốc. Đây là nét mới
trong sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối
với Trung Quốc. Nó cũng cho thấy rõ đặc
điểm chủ yếu trong chính sách của Mỹ đối
với Trung Quốc từ sau Chiến tranh lạnh
đến nay vẫn là tính hai mặt hợp tác và
kiềm chế luôn đan xen lẫn nhau. Nó
khiến cho quan hệ giữa hai nớc Mỹ -
Trung Quốc trải qua những thăng trầm,
căng thẳng, phức tạp.
ý kiến khá thống nhất trong giới
phân tích chiến lợc cho rằng sự điều
chỉnh chiến lợc toàn cầu mới của chính
quyền Bush là việc tiếp tục và đi sâu
hơn nữa sự điều chỉnh chiến lợc của Mỹ
từ sau sự kiện 11 - 9 đến nay, là sự tổng
địa vị lãnh đạo của Mỹ trên thế giới
mạnh mẽ hơn có căn nguyên từ sự lo
ngại ngày càng lớn trớc những diễn
biến của cục diện quốc tế hiện nay đó là:
Chủ nghĩa khủng bố còn lâu mới bị xóa
bỏ tận gốc (Bush đã xác định đó là cuộc
chiến lâu dài, và là cuộc chiến tranh t
tởng); cuộc chiến ở Iraq kéo dài với
nhiều tổn thất gây nên làn sóng phản đối
chiến tranh diễn ra liên tục trong nớc
Mỹ (hàng nghìn lính Mỹ bị chết tại Iraq);
vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên dây
da kéo dài; sự trỗi dậy của những nớc
lớn nh Trung Quốc, ấn Độ tạo nên
thách thức đối với lợi ích của Mỹ trên thế
giới; các đồng minh Liên minh châu Âu
cũng có vấn đề; phong trào cánh tả của
châu Mỹ - La tinh phát triển mạnh, ý
thức tự chủ, thái độ chống Mỹ và mong
muốn thoát khỏi ảnh hởng của Mỹ ngày
càng rõ nét; xu thế liên kết Đông á ngày
càng phát triển, Tất cả những vấn đề
này đã khiến cho trào lu chủ nghĩa biệt
lập bắt đầu quay trở lại trong nớc Mỹ.
- Mục tiêu hàng đầu trong chiến lợc
toàn cầu của Mỹ vẫn là vấn đề chống
khủng bố, nhng nhận thức đối với chiến
lợc chống khủng bố đã đợc khái quát
hóa. Một là, Mỹ đã xác định rõ tính chất
lâu dài của cuộc chiến chống khủng bố.
tế và trách nhiệm ngày càng tăng của
Trung Quốc (mục tiêu chiến lợc phát
triển của TQ từ nay đến 2020 là GDP
tăng gấp 4 lần so với năm 2000, tức từ
1000 tỉ USD lên 4000 tỉ USD. Khi đó,
Trung Quốc sẽ trở thành nớc lớn kinh
tế thứ ba thế giới sau Mỹ và Nhật Bản).
Trong 20 năm tới đây, t duy và chiến
lợc tổng thể ngoại giao của Trung Quốc
sẽ phải từng bớc từ phơng châm tạo ra
môi trờng hoà bình phục vụ cho lợi
ích phát triển của bản thân chuyển sang
chiến lợc tìm kiếm cùng nhau phát
triển và an ninh với châu á và thế giới.
Xuất phát từ 2 điểm cơ bản trên để
Trung Quốc hoạch định chiến lợc ngoại
giao thời gian tới. Trong đó, ngời ta coi
Chính sách của Mỹ
Nghiên cứu Trung Quốc
số 5(84-2008)
31
Mỹ là nhân tố không xác định nhất đối
với ngoại giao Trung Quốc 20 năm tới
đây. Nguyên nhân căn bản là:
1. Sự cảnh giác và lo ngại đối với sự
phát triển của Trung Quốc do bị ám ảnh
của thuyết mối đe doạ Trung Quốc vẫn
tồn tại trong chính phủ, quân đội, quốc
hội và giới báo chí ở Mỹ.
chấp nhận sự có mặt của Mỹ ở khu vực
châu á - TBD. Cuối năm 2000, trong
cuộc họp của các nhà lãnh đạo Trung
Quốc, họ cho rằng cần có sự thay đổi thái
độ đối với Mỹ. Khi Bush lên cầm quyền,
Trung Quốc đã có thái độ hợp tác hơn với
Mỹ. Thay cho việc luôn chỉ trích Mỹ
khiến cho Mỹ khó hợp tác với Trung
Quốc, thì sự chỉ trích của Trung Quốc
đối với Mỹ đã giảm bớt. Nếu không có vụ
va chạm máy bay ngày 1 - 4 - 2001 thì
quan hệ Mỹ - Trung đã có sự cải thiện
nhiều hơn.
Từ thực tế phát triển quan hệ Trung -
Mỹ có thể nói, sự điều chỉnh trong chính
sách đối ngoại của Trung Quốc đối với
Mỹ sau sự kiện 11 - 9 không mang tính
chất chuyển hớng mà là sự tăng cờng
và mở rộng mối quan hệ đã đợc xác lập.
Mức độ tăng cờng thể hiện ở chỗ:
Việc Trung Quốc chấp nhận sự có mặt và
vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ ở châu
á từ mức độ hiểu ngầm lên mức độ công
khai và rõ ràng hơn nhng cha phải là
hình thức chính thức. Chính vì phơng
châm chiến lợc đó, mặc dù chống lại
chủ nghĩa đơn phơng bá quyền, song
Trung Quốc chỉ tỏ thái độ phản đối theo
nguyên tắc quyết không đối đầu để
tránh tiêu hao thực lực quốc gia và
giải nguyên nhân khiến các nhà lãnh
đạo Trung Quốc thay đổi chính sách đối
với Mỹ.
Tuy nhiên, Trung Quốc cho rằng,
những chính sách, động thái bao vây,
kiềm chế của Mỹ đối với Trung Quốc
trong thời gian qua đã gây nên tình
trạng căng thẳng, làm tổn hại đến mối
quan hệ song phơng. Vì vậy, bên cạnh
việc tăng cờng hợp tác vì lợi ích chung
của hai nớc, Trung Quốc cũng có những
chiến lợc đối phó hợp lý để có thể vừa
duy trì, phát triển quan hệ với Mỹ, vừa
phá đợc thế bao vây, kiềm chế của Mỹ.
Trên thực tế, Trung Quốc có chính
sách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn đối với
Mỹ. Có thể thấy rõ đợc chính sách này
trong quan hệ song phơng, qua việc
điều chỉnh tỷ giá đồng NDT. Sự chênh
lệch về tỷ giá giữa đồng NDT và đồng
USD đã gây nên tình trạng thâm hụt
thơng mại của Mỹ. Mỹ gây sức ép buộc
Trung Quốc phải tăng tỷ giá đồng NDT.
Trung Quốc đã có hành động làm giảm
căng thẳng quan hệ hai nớc khi quyết
định điều chỉnh tỷ giá đồng NDT lên
2,1%, trong khi phía Mỹ yêu cầu nâng
giá lên 40%. Bởi vì, Trung Quốc cho rằng
việc điều chỉnh tỷ giá đồng NDT chịu sự
tác động của môi trờng kinh tế trong
Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN. Các
nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc
(Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Thủ tớng Ôn
Chính sách của Mỹ
Nghiên cứu Trung Quốc
số 5(84-2008)
33
Gia Bảo) đã thực hiện hàng loạt các
chuyến viếng thăm tới các nớc láng
giềng Đông Nam á nh Brunây,
Indonesia, Banglades, Xri Lanca (chỉ
trong tháng 4 - 2005). Quan hệ giữa
Trung Quốc và các nớc trong khu vực
ngày càng đợc phát triển tốt đẹp.
Nhằm mục đích ổn định tình hình
Bắc Triều Tiên và giúp đỡ quốc gia này,
trong chuyến thăm tới Bình Nhỡng,
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã hứa viện trợ 2
tỷ USD. Thêm vào đó, với sự giúp đỡ của
Trung Quốc, quan hệ Nam - Bắc Triều
có phần hoà dịu hơn, củng cố quan hệ
Trung Quốc - hai miền Triều Tiên, giảm
bớt tình hình căng thẳng ở Đông Bắc á.
Thông qua quan hệ kinh tế, Trung
Quốc cũng mở rộng quan hệ ngoại giao
với các nớc châu Phi, tìm kiếm những
cơ hội làm ăn mới, đặc biệt là nguồn
năng lợng, giảm sự phụ thuộc vào
Trung Đông, tránh đối đầu với Mỹ ở khu
Quốc cũng không quên tập trung phát
triển quan hệ với châu Âu, đồng minh
truyền thống của Mỹ. Kết quả rõ rệt
nhất trong mối quan hệ này đó là việc
EU dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với
Trung Quốc từ hơn 16 năm nay trớc sự
phản đối của Mỹ.
Đó là những nỗ lực ngoại giao đa
chiều nhằm xây dựng thế đứng vơn lên
cho Trung Quốc.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng thực
hiện một số biện pháp khác nhằm phá
thế bao vây quân sự của Mỹ. Mọi hoạt
động hải quân của nớc này thời gian
qua, kể cả tàu nổi, tàu chìm, tàu khảo
sát khoa học đều nằm trong kế hoạch
mang tính chiến lợc nhằm phá vỡ tuyến
phòng thủ Chuỗi đảo phòng ngự thứ
nhất của Mỹ và Nhật Bản. Trung Quốc
cũng tăng cờng hiện diện quân sự ở
những nơi là thế mạnh của Mỹ: khu vực
Đông Bắc (nơi có hạm đội 7 của Mỹ
chiếm đóng tại đây) và khu vực Đông
Lê Khơng Thuỳ
Nghiên cứu trung quốc
số 5(84)-2008
34
Nam á. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng
tăng cờng hợp tác với các nớc thuộc Tổ
không chỉ giúp mở rộng quan hệ đối
ngoại của quốc gia này, tăng cờng cơ
hội hợp tác mà còn phần nào phá đợc
thế bao vây của Mỹ, tăng thế trỗi dậy
của nớc này.
3. Tác động của quan hệ Mỹ -
Trung Quốc đối với thế giới, khu
vực Đông Nam á và Việt Nam
Chính sách của Mỹ đối với Trung
Quốc và quan hệ Mỹ - Trung Quốc, đặc
biệt là tính không ổn định trong quan hệ
Mỹ - Trung kể từ sau sự kiện 11/9 đã có
tác động sâu sắc đối với thế giới, khu vực
Đông Nam á và Việt Nam. Quan hệ giữa
hai nớc lớn này tốt lên hay xấu đi cũng
sẽ gây ra những tác động tích cực hay
tiêu cực với thế giới, khu vực và Việt
Nam. Để có thể thấy rõ hơn các xu
hớng tác động của mối quan hệ này,
chúng tôi sẽ đa ra hai tình huống đó là
khi quan hệ Mỹ - Trung tốt lên và khi
quan hệ này xấu đi để xem xét liệu nó sẽ
có tác động nh thế nào đối với khu vực
và Việt Nam?
Tác động tích cực:
- Chính sách tiếp xúc, tăng cờng
hợp tác của Mỹ đối với Trung Quốc làm
cho quan hệ hai bên phát triển mang lại
nhiều tác động tích cực:
- Mỹ đã tranh thủ sự giúp đỡ, hợp tác
châu á - TBD. Mỹ và Trung Quốc đều là
những nền kinh tế lớn trong Diễn đàn
hợp tác kinh tế châu á - TBD (APEC).
Sự hợp tác kinh tế giữa hai nớc đã giúp
cho mức tăng trởng của khu vực lên
cao. Quan hệ Trung - Mỹ tốt đẹp còn tạo
điều kiện thúc đẩy liên kết kinh tế Đông
á với mô hình ASEAN + 3 phát triển
nhanh chóng. Đặc biệt, quan hệ Mỹ -
ASEAN, Trung Quốc - ASEAN có điều
kiện phát triển, tức là ASEAN có thể
tranh thủ đợc cả Mỹ và Trung Quốc
trong sự liên kết khu vực, tạo động lực
và nền tảng cho các nền kinh tế khác
trong khu vực. Các nớc trong khu vực
có thể đồng thời phát triển quan hệ hợp
tác với cả hai đối tác có thị trờng rộng
lớn, sức tiêu thụ cao cũng nh tiềm lực
kinh tế mạnh nh Mỹ và Trung Quốc.
Tác động tiêu cực: Bên cạnh những
yếu tố tích cực kể trên, các nớc trong
khu vực cũng gặp phải những trở ngại
lớn, nhất là khi chính sách kiềm chế của
Mỹ thắng thế hay là lúc quan hệ Trung -
Mỹ xấu đi.
- Trong lĩnh vực kinh tế, nó sẽ phá vỡ
mối quan hệ kinh tế, thơng mại Mỹ -
Trung Quốc. Trung Quốc mất đi nguồn
vốn đầu t nớc ngoài cao nhất thế giới.
Các doanh nghiệp từ Mỹ và các nớc
minh của Mỹ nên khi giữa hai nớc xảy
ra xung đột thì các nớc này nhất định
sẽ đứng về phía Mỹ. Điều tơng tự cũng
sẽ xảy ra đối với sự cố kết của ASEAN vì
trong nội bộ ASEAN cũng sẽ bị chia rẽ vì
có hai nớc đợc Bush coi là 2 đồng
Lê Khơng Thuỳ
Nghiên cứu trung quốc
số 5(84)-2008
36
minh ngoài NATO của Mỹ là Philippines
và Thái Lan. Nh vậy, một khi quan hệ
Mỹ - Trung căng thẳng hoặc dẫn đến
xung đột thì không những sẽ phá vỡ xu
thế liên kết kinh tế Đông á đang đợc
hình thành mà còn gây nên tình trạng
mất ổn định nghiêm trọng trong khu vực
Đông á nói chung và Đông Nam á nói
riêng.
- Trong sự điều chỉnh chiến lợc quân
sự toàn cầu, trọng điểm bố trí quân sự
của Mỹ chuyển sang khu vực châu á -
TBD, tăng cờng sự hiện diện quân sự ở
khu vực và bao vây, kiềm chế Trung
Quốc. Điều này một mặt, khiến cho các
nớc lo ngại bị lôi kéo vào mâu thuẫn
Mỹ - Trung, lo ngại trở thành nớc
đệm hay con bài trong chính sách của
hai nớc với nhau. Với vị trí địa chiến
- Trong lĩnh vực kinh tế, sự hợp tác
giữa các nớc Đông Nam á với hai nền
kinh tế lớn Mỹ và Trung Quốc góp phần
thúc đẩy nền kinh tế khu vực phát triển.
Cả hai nớc do muốn giành ảnh hởng
nên đã dùng thơng mại, đầu t, làm
phơng tiện lôi kéo các nớc theo mình.
Nên các nớc Đông Nam á có cơ hội
tranh thủ vốn, kỹ thuật, của hai nớc
để phát triển.
Nhng mặt khác, mối quan hệ giữa
Mỹ và Trung Quốc với các nớc trong
khu vực cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa
hai nớc. Trung Quốc đã đi trớc Mỹ,
Nhật trong việc thiết lập khu vực mậu
dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, tăng
thế cạnh tranh Mỹ - Nhật - Trung trong
khu vực. Còn Mỹ lại tích cực thúc đẩy
quan hệ kinh tế - thơng mại bằng các
hiệp định mậu dịch tự do song phơng.
Điều này cũng gây khó xử cho các nớc
ASEAN, buộc các nớc này phải có chính
sách phù hợp để có thể cân bằng đợc lợi
ích của các nớc, đảm bảo sự ổn định và
phát triển chung của khu vực.
- Về mặt quân sự, do cả hai nớc đều
phải tăng cờng sức mạnh quân sự, Mỹ
thực hiện chính sách bao vây đối với
Trung Quốc, còn Trung Quốc thì đối lại
bằng chiến lợc phá thế bao vây của
hành chiến lợc ngoại giao thân thiện:
mở rộng hợp tác, giao lu kinh tế, văn
hoá, khoa học, Quan hệ hai nớc vì thế
đợc thúc đẩy, đặc biệt là quan hệ kinh
tế. Hoa Kỳ đã trở thành một trong
những đối tác thơng mại hàng đầu của
Việt Nam với kim ngạch thơng mại hai
chiều từ 1,5 tỉ USD năm 2001 lên 9,7 tỉ
USD năm 2006. Hoa Kỳ là thị trờng
xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là
quốc gia đứng thứ t về các hoạt động
đầu t tại Việt Nam.
(4)
Trong khi đó, quan hệ giữa Trung
Quốc và Việt Nam cũng không ngừng
đợc mở rộng. Hai nớc tăng cờng giao
lu hợp tác văn hóa, giáo dục, Trong
lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc trở thành
đối tác thơng mại số 1 của Việt Nam.
Trung Quốc đã cùng ký kết các Hiệp
định về việc phân định và cắm mốc biên
giới, cùng một số nớc ASEAN ký
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở
Biển Đông.
Tuy nhiên, sự hiện diện quân sự của
Mỹ ở Đông Nam á đợc Trung Quốc coi
là gia tăng sự kiềm chế với Trung Quốc,
đã gây lo ngại cho nhiều nớc trong khu
vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Là
38
có ở vòng cung Đông á, vì hai nớc này
giữ vai trò có tính quyết định tới sự ổn
định và phát triển của nó. Nh vậy,
không chỉ hai nớc Mỹ, Trung Quốc bị
ảnh hởng, mà còn gây ảnh hởng cho
một vòng cung - với số dân gần 2 tỷ
ngời. Đây cũng chính là lý do giải thích
vì sao quan hệ Mỹ - Trung Quốc trải qua
nhiều thăng trầm, song đến một mức
nào đó sẽ lại đợc điều hòa trở lại chứ
không bị đẩy đến xung đột. Điều này thể
hiện rõ trong tuyên bố mới đây tại cuộc
họp báo ngày 7-3-2007, Bộ trởng Quốc
phòng Mỹ Robert Gates đã tuyên bố rõ
rằng, ông không coi Trung Quốc là một
địch thủ chiến lợc của Mỹ và việc can
dự với Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực
là rất quan trọng.
(5)
Còn Tớng Pace thì
nhận xét rằng cả Mỹ và Trung Quốc đều
mạnh về quân sự, nhng không bên nào
muốn gây chiến với nhau.
(6)
Việt Nam đang thực hiện chính sách
đối ngoại đa phơng hóa đa dạng hóa
quan hệ và muốn làm bạn với tất cả các
nớc trên thế giới, điều hết sức quan
sự. TKĐB 21-6-2007. TTXVN.
6. Quan hệ Trung-Mỹ trong lĩnh vực quân
sự. TKĐB 21-6-2007. TTXVN.
TàI LIệU THAM KHảO
1. Statement of Secretary of State Colin
L. Powell for the confirmation hearing off
the U.S. senate committee on foreign
relations January 17, 2001
2. G.W. Bush. Chiến lợc an ninh quốc
gia mới của Mỹ - 20-1-2002
3. Kerry Dumbaugh. Quan hệ Trung -
Mỹ. Ban đối ngoại, quốc phòng và thơng
mại. Báo cáo nghiên cứu phục vụ quốc hội
15-9-2003.
4. Herry R. Nau. Alliance or Security
Community in Asia: Which way is Bush
Heading? Wilson International Center.
Reference Update May 2003, Article 13.
Chính sách của Mỹ
Nghiên cứu Trung Quốc
số 5(84-2008)
39
Cant Dominate Asia. Commetary
September 11, 2006. Pacific Forum CSIS.
13. Evelyn Goh. Understanding Hedging
in Asia - Pacific Security. Commetary
September 1, 2006. Pacific Forum CSIS.
14. AFP (Beijing 6/11). Robert Gates:
Americas Strong Opposition to Taiwan
Independence. TTKTG - Vietnam News
Agency, 7-11-2007.
15. Nguyen Xuan Son, Nguyen Van Du.
(2006), Foreign strategies of great countries
in the first two decades of the 19th century,
p.9, National Politics Publishing House,
Hanoi.
16. Bush's administration's tendency to
adjust its policy on China. Vietnam News
Agency, 2006 TKĐB.
17. Michael W. Marine. Từ thù thành bạn
Tăng cờng sự tham gia của Hoa Kỳ tại Việt
Nam. Phát biểu tại Chicago Club 81 East
Van Buren Street. 17h30, 27 tháng 3, 2007.
18. Quan hệ Trung - Mỹ trong lĩnh vực
quân sự. TKĐB, ngày 21-6-2007
19. Lê Khơng Thùy: Chiến lợc an ninh
Quốc gia mới của chính quyền G.W. Bush.
Trong sách: Vũ Đăng Hinh. (2004), Nớc Mỹ:
Những vấn đề, sự kiện và tác động. (co-
authors), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,
Hanoi, pp. 179-215.
20. America and Asia in a Changing