ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------------
CHU THANH VÂN
CHÍNH SÁCH CỦA ANH ĐỐI VỚI EU
TỪ 1992 ĐẾN 2016
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số:
62 31 02 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Khoa Quốc tế học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy & PGS.TS. Bùi Hồng Hạnh
Phản biện:.............................................................................................
................................................................................................
Phản biện:.............................................................................................
................................................................................................
Phản biện:.............................................................................................
..............................................................................................
chính thức giới thiệu các quốc gia, khu vực Đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone),
và Khu vực Không Biên giới Schengen của EU tính đến 1-1-2017, n ước Anh ch ỉ có
tên trong mục “quốc gia thành viên” và hoàn toàn không có tên trong hai danh
sách quan trọng là “Quốc gia sử dụng đồng Euro” và “Thành viên tham gia Khu
vực Không Biên giới Schengen” [50]. Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính ti ền t ệ
năm 2008-2009, cùng với khủng hoảng người di c ư đến EU nh ững năm g ần đây
đã gây ra sự rạn nứt khó hàn gắn trong nội bộ EU, làm trầm trọng h ơn tính v ị k ỷ
của chủ nghĩa dân tộc của người Anh. Dân tộc này, v ới đ ặc tr ưng là s ự xoay s ở
thông minh đến lạnh lùng trong các vấn đề kinh tế và th ực s ự đang n ắm trong tay
nguồn tài chính khổng lồ đã phải đối mặt với một bài toán khó về l ợi ích qu ốc gia
và dân tộc khi đối diện vấn đề đi hay ở lại EU.
Mặt khác, thắng lợi của phong trào Brexit và tác động của nó đối v ới quan h ệ
của Anh với EU nói riêng, quan hệ của các nước thành viên trong các t ổ ch ức khu
vực lớn như EU, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ ch ức Th ương
mại Thế giới (WTO)… nói chung, đang đặt ra những vấn đề bức thiết về lý lu ận
của chủ nghĩa khu vực, địa chính trị, toàn cầu hóa v.v… và đòi h ỏi ph ải có nghiên
cứu sâu về chính sách ly khai này. Trong bối cảnh các nghiên c ứu v ề chính sách
của Anh với EU chưa có nhiều ở Việt Nam, trong khi cả Anh lẫn EU đều là các đ ối
tác quan trọng của Việt Nam, nghiên cứu chính sách của Anh v ới EU sẽ góp ph ần
làm sáng tỏ những động thái chính sách cũng nh ư xu h ướng v ận đ ộng c ủa m ối
quan hệ giữa hai đối tác này. Trên cơ sở đó, luận án đưa ra khuy ến nghị chính
sách cho Việt Nam trong mối quan hệ với Anh và EU.
1
Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chính sách của Anh đ ối v ới EU
từ 1992 đến 2016” làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án “Chính sách của Anh đối với EU từ 1992 đến 2016” nhằm mục đích nghiên
Phạm vi nội dung: Luận án lựa chọn những chính sách tiêu bi ểu, đặc tr ưng
trong số các chính sách đối ngoại của Anh đối với EU để nghiên cứu, nh ư đã đ ược
liệt kê và trình bày ở chương 3 của luận án này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng hướng tiếp cận và những phương pháp nghiên cứu sau để thực hiện
đề tài:
Về hướng tiếp cận và khung lý thuyết: Luận án sử dụng hướng tiếp cận ba cấp độ
trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, bao gồm cấp độ cá nhân, cấp độ quốc gia và cấp độ
quốc tế. Ở cấp độ cá nhân, luận án phân tích yếu tố quyền lực/lợi ích/bản sắc từ góc độ
cá nhân chịu trách nhiệm chính về chính sách (nguyên thủ quốc gia). Ở cấp độ quốc
gia, luận án tập trung vào các yếu tố chính trị nội bộ ảnh hưởng đến chính sách đối
ngoại của đất nước. Ở cấp độ quốc tế, luận án phân tích sự ảnh hưởng của bối cảnh
quốc tế và khu vực trong hoạch định chính sách của Anh đối với EU trong giai đoạn
1992-2016.
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng gồm: Phương pháp đa ngànhliên ngành (ứng dụng của Kinh tế học, Chính trị học, Kinh tế Chính trị quốc tế);
phương pháp phân tích văn bản (để xử lý thông tin từ các tài liệu về chính sách đối
2
ngoại của Anh giai đoạn 1992-2016). Ngoài những phương pháp nghiên cứu khoa học
xã hội chung kể trên, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách đối ngoại để
nghiên cứu chính sách của Anh đối với EU trong giai đoạn này. Ngoài ra, các phương
pháp nghiên cứu trong quan hệ quốc tế phù hợp với đề tài cũng sẽ được áp dụng, bao
gồm: phương pháp phân tích lợi ích/quyền lực/xung đột và hợp tác quốc tế, phương
pháp nghiên cứu khu vực, phương pháp phân tích chính sách.
5. Đóng góp của đề tài
Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu chính sách của Anh đ ối
với EU suốt hơn 20 (từ 1992 đến 2016). Không giống với phần l ớn các nghiên
cứu cùng chủ đề chính sách, luận án sẽ không dừng ở việc nghiên c ứu các
chính sách đối ngoại mà Anh đã sử dụng trong các v ấn đ ề liên quan đ ến EU
ngoài Liên minh, ít thấy các nghiên cứu chuyên sâu về chính sách của EU đ ối v ới
Anh. Mặt khác, các nghiên cứu về mối quan hệ Anh – EU cũng ch ưa th ực s ự n ổi
bật cho đến trước và sau thời điểm Brexit. Tuy nhiên, một số bài báo đã ch ỉ ra s ự
phức tạp trong nền chính trị Anh đương đại – một nhân tố quan trọng có ảnh
hưởng rất lớn đến chính sách đối ngoại của nước này, và là tham s ố có giá tr ị l ớn
đối với đề tài nghiên cứu của luận án này..
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
Nghiên cứu về hoạch định chính sách đối ngoại: Nhìn chung, các học giả nước
ngoài đã có nhiều công trình quy mô nghiên cứu về các nhân tố khác nhau ảnh hưởng
đến hoạch định chính sách đối ngoại, các mô hình và tiếp cận trong xây dựng chính
sách đối ngoại, và cách phân tích, đánh giá, điều chỉnh các chính sách này. Tuy nhiên,
những nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào xây dựng mô hình chung, phổ quát cho
một nước cụ thể với các nước còn lại, hoặc với một nhóm nước đặc thù. Các nghiên
cứu sâu về cách xây dựng phản ứng chính sách cụ thể trong ngoại giao song phương
như của Anh với EU không nhiều. Vì thế, ngoại trừ một số ít tác giả như Christopher
Hill hoặc John T.Rourke, phần lớn các nghiên cứu khác về chính sách đối ngoại mới chỉ
dừng ở mức nêu hoặc liệt kê và đánh giá các chính sách của một quốc gia cụ thể với
một nước khác hoặc nhóm nước. Các nghiên cứu mang tính chuyên sâu về phương
thức, quy trình và các bước hoạch định chính sách đối ngoại của Anh với EU còn thiếu.
Một đặc điểm đáng chú ý nữa là phần lớn các sách hoặc tài liệu chuyên khảo về hoạch
định chính sách đối ngoại mới chỉ được phát triển bởi các học giả phương tây, từ các
nền kinh tế và chính trị trong hệ thống Tư bản chủ nghĩa như Anh, Pháp, Mỹ, v.v…
Nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Anh với EU: Các học giả quốc tế đã có
một lượng lớn các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Anh đối với EU,
nhưng vẫn chưa tạo dựng được bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ này trong suốt 43
năm Anh gia nhập Liên minh này. Lý do là các học giả thường chỉ nghiên cứu sâu về
một khía cạnh, một lĩnh vực thuộc chính sách đối ngoại (ví dụ kinh tế, an ninh, hợp tác
trong các vấn đề toàn cầu…). Mặt khác, một công trình nghiên cứu toàn diện về chính
sách của Anh với EU trong những năm gần đây (từ 2007-2016) hoàn toàn chưa có.
Thông thường, giới học thuật có xu hướng chọn nghiên cứu những sự kiện hoặc giai
Chính sách đối ngoại của một nước thường được hoạch định dựa trên nguyên tắc:
(1) đảm bảo lợi ích quốc gia cho đất nước (chủ yếu là kinh tế và an ninh chính trị); (2)
nâng cao vị thế của quốc gia trên chính trường thế giới.
Kim chỉ nam cho xây dựng chính sách đối ngoại của Anh đã được thiết lập khi Lord
Palmerston – người từng hai lần nắm giữ vị trí Thủ tướng Anh khi nước này ở đỉnh cao
quyền lực ở thế kỷ XIX – tuyên bố: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn và không
có kẻ thù vĩnh viễn. Lợi ích của chúng ta là vĩnh viễn và bất diệt và những lợi ích này là
nhiệm vụ chúng ta theo đuổi.” [Henry Kissinger, 2016, trang 55] và “Khi mọi người hỏi
tôi…những gì được gọi là một chính sách, câu trả lời duy nhất là chúng tôi sẽ làm
những gì có lẽ là tốt nhất dựa trên tình huống nó phát sinh, với lợi ích quốc gia là
nguyên tắc chỉ đạo.” [Henry Kissinger, 2016, trang 55].
Một trong những câu hỏi gây tranh cãi là khái niệm “lợi ích quốc gia” bắt đầu khi
nào. Khái niệm này gắn liền với một khái niệm quan trọng khác là “quốc gia dân tộc”
và đồng thời là yếu tố gây xung đột hoặc kết nối quốc gia này với quốc gia khác trong
một liên minh.
Với nhiều vai trò được xác định trong quan hệ đối ngoại với các đối tác quốc tế
nói chung, với EU nói riêng, Anh mong đợi sự hội nhập vào Liên minh một cách
“tương đối”, tức là không hòa nhập hoàn toàn vào EU. Các vai trò nêu trên chỉ ra rằng
Anh đã đặt “lợi ích quốc gia” tức quyền lực quốc gia của mình ở một vị thế khá cao.
Trong khi đó, tiến trình hội nhập sâu và mở rộng của EU lại đi theo chiều hướng ngược
lại. Nhìn từ góc độ lý thuyết này, khoảng cách giữa Anh và EU sớm muộn cũng sẽ mở
rộng và nếu không có những động thái gắn kết tích cực, hậu quả chia ly là tất yếu. Với
định hướng bảo toàn và tối đa hóa “lợi ích quốc gia”, nước Anh đã bước vào EU với
nhiều ảnh hưởng của hệ lý thuyết Hiện thực. Bị tương tác mạnh bởi lý thuyết Tự do,
nước Anh đã có những nhượng bộ nhất định trong giai đoạn đầu gia nhập EU, và kéo
dài đến đỉnh cao dưới quyền lãnh đạo của Thủ tướng Tony Blair. Tuy nhiên, từ sau
khủng hoảng kinh tế năm 2008, trước sự suy yếu của châu Âu, chủ nghĩa Hiện thực đã
trỗi dậy mạnh mẽ với trào lưu dân túy để đưa phong trào Brexit đến thắng lợi năm
2016.
2.1.2. Tiếp cận ba cấp độ trong hoạch định chính sách đối ngoại của Anh với EU
đến lợi ích tối đa cho thực thể mà họ đại diện. Mối quan hệ giữa các nhà nước cũng
vậy: đều nhằm mục đích đảm bảo lợi ích tối đa cho mình. Vì thế, việc sử dụng mô hình
nào còn tùy thuộc vào năng lực, hiểu biết, sức mạnh và quan hệ của chủ thể tham gia
quá trình. Với nước Anh cũng vậy. Sử dụng mô hình nào trong ba mô hình trên đây phụ
thuộc vào bản chất của sự việc hoặc mối quan hệ, năng lực, ý chí và định hướng của
Nhà nước, nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên, với đặc trưng là một nền dân chủ
mạnh và lâu đời, mô hình Đa nguyên sẽ có nhiều cơ hội được sử dụng ở Anh.
2.2. Cơ sở thực tiễn của hoạt động nhân đạo quốc tế
2.2.1. Quá trình hội nhập của Anh vào EC
Nước Anh, dù là một cường quốc hàng đầu Châu Âu, đã không gia nhập các tổ
chức là tiền thân của Liên minh Châu Âu hiện nay ngay từ đầu. Trong nhóm sáu nước
sáng lập Cộng đồng Than và Thép Châu Âu (ECSE) - tiền thân của EC - không có
Anh, dù Vương quốc có một vị thế rất lớn trên trường quốc tế vào cùng thời điểm. Các
nước ECSC sau đó đã thành lập Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu (EDC) năm 1952 và
Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) và Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử Châu Âu
(EAEC) năm 1957. Cho đến thời điểm ký kết Hiệp ước Brussels ngày 8-4-1965, mở
đường cho việc chính thức hợp nhất ECSC, EEC và EAEC thành một thiết chế điều
hành chung các Cộng đồng thuộc châu Âu (EEC) hai năm sau đó, Anh vẫn chưa góp
mặt trong các cộng đồng này. Năm 1967, Anh chính thức có đơn xin gia nhập EEC
nhưng phải đến năm 1969 lá đơn thứ ba của nước này mới được xem xét và đàm phán
bắt đầu. Lý do hai lá đơn của Anh xin gia nhập tổ chức này trước đó đã bị Tổng thống
Pháp De Gaulle dùng quyền phủ quyết từ chối. Kể từ năm 1973, Anh chính thức trở
thành thành thành viên của EC. Để được chấp nhận tư cách thành viên Anh phải ký
Hiệp ước Nhượng quyền 1972, thừa nhận tất cả những yêu cầu, luật định của các Hiệp
ước được EC ký trước đó.
7
2.2.2. Quan điểm của Anh về việc thành lập khối EU
Quan điểm ban đầu của Chính quyền Thatcher là ủng hộ sự hợp nhất và hội nhập
hoạt động của châu Âu. Thứ hai, về chính trị quốc tế, là một thành viên của EC và EU,
Anh có cả quyền lợi lẫn nghĩa vụ tham gia các vấn đề về lập pháp, hành pháp, đối nội
và đối ngoại trong liên minh này. Thứ ba, về trách nhiệm an ninh phòng vệ với châu
Âu, khi có xung đột hoặc phát sinh nhu cầu phòng vệ cho châu Âu, Anh có trách nhiệm
hội quân và cùng các nước khác tiến hành các chiến dịch quân sự cần thiết để đảm bảo
hòa bình cho châu lục này.
Tiểu kết chương 2
Như vậy, cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoạch định chính sách đối ngoại của
Anh đối với EU có thể tóm tắt như sau:
- Cơ sở lý luận: bao gồm các phạm trù chính sách công, chính sách đối ngoại, lợi
ích quốc gia và quốc gia dân tộc; mối liên hệ giữa sự cần thiết phải hoạch định chính
sách đối ngoại với việc phân tích chính sách để điều chỉnh, tạo kết quả tối ưu cho chính
sách; ba mô hình hoạch định chính sách đối ngoại phổ biến trên thế giới và châu Âu,
8
bao gồm cả nước Anh, và các đặc điểm của từng mô hình. Nghiên cứu cũng cho thấy sự
ảnh hưởng của tiếp cận ba cấp độ đến hoạch định chính sách của nước Anh đối với EU
và sự cần thiết phải phân tích chính sách dựa trên những cấp độ này để có được bản
đánh giá chính sách khoa học, chính xác nhất.
- Về cơ sở thực tiễn: Nghiên cứu đã chỉ ra ba lợi ích cốt lõi của Anh ở Châu Âu
(gồm kinh tế, an ninh quốc phòng và tăng cường vị thế quốc gia cho Anh trên trường
quốc tế) và các định hướng chính trong vấn đề đối ngoại của Anh với thế giới và châu
Âu kể từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay. Việc Anh mong muốn tham gia vào Liên minh
Châu Âu (trước đây là Cộng đồng Kinh tế Châu Âu) xuất phát từ những lợi ích thiết
thực trên các lĩnh vực khác nhau, đồng thời phù hợp với xu hướng hội nhập ở châu Âu.
9
hơn. Từ chối ký kết Hiến chương xã hội, không tham gia vào liên minh kinh t ế và
tiền tệ của châu Âu, không tái tham gia cơ chế Cơ chế Tỷ giá Hối đoái Châu Âu dù
lúc này nước Anh đã có thừa điều kiện cần thiết là các bằng ch ứng cho th ấy chính
sách đối ngoại của Anh với EU giai đoạn này là h ội nh ập có ch ừng m ực.
Mở đầu quá trình đàm phán Hiệp ước Amsterdam là quyết định ký kết
Hiến chương Xã hội còn bỏ ngỏ từ Hiệp ước Maastricht của nước Anh. S ự thay
đổi thái độ rất tích cực và việc nhanh chóng, chủ động tham gia đàm phán trên
tinh thần xây dựng của nước Anh trong Hiệp ước Amsterdam đã nâng cao uy tín
và vị thế của Anh trong EU. Thủ tướng Tony Blair, mặc dù m ới nắm quy ền đi ều
hành đất nước chưa lâu, đã mang đến sự thay đổi tích c ực cho ngo ại giao chính tr ị
của Anh. Chính sách của Anh đối với EU lúc này là ch ủ đ ộng h ội nh ập.
10
Hiệp ước Lisbon được 27 thành viên EU tham gia ký kết ngày 13-12-2007
nhằm mục đích thay thế cho Hiệp ước về Hiến pháp Châu Âu đã t ừng b ị Pháp và
Hà Lan phủ quyết năm 2005. Chính quyền của Thủ tướng Tony Blair về c ơ b ản
đồng thuận với Hiệp ước Lisbon. Trong giai đoạn chuẩn bị cho Hiệp ước này,
nước Anh đã thực hiện nhiều động thái ủng hộ sự ra đời của Hiệp ước. T ừ tháng
7 đến tháng 12 năm 2005, trong nửa sau của nhiệm kỳ Ch ủ tịch EU, chính quy ền
Tony Blair đã biên soạn sách trắng ngoại giao với 04 mục tiêu c ủa Anh trong EU.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của những thành tựu này đã bị ch ặn lại khi Gordon Brown
– một thành viên Đảng Lao động nhưng mang tư tưởng nghi ngờ châu Âu – lên k ế
nhiệm Tony Blair năm 2007.
3.2. Chính sách của Anh đối với EU trên lĩnh vực kinh tế
3.2.1. Chính sách đóng góp cho ngân sách EU của Anh
Tính đến năm 1992, về cơ bản, nước Anh đã đạt được thỏa thuận về đóng
góp ngân sách cho nước Anh nhờ những nỗ lực của Thủ tướng Margaret Thatcher
trong thập kỷ trước. Trong suốt giai đoạn từ 1992 đến 2016, ph ần đóng góp cho
ngân sách EU của Anh gần như không thay đổi so v ới th ỏa thu ận đ ạt đ ược trong
nền tảng chính của Khu vực đồng Euro, bên cạnh Th ị trường chung Châu Âu. Việc
này, cùng với thực tế sau năm 1992 đồng Bảng d ần l ấy l ại đ ược giá tr ị th ực và
nền kinh tế nước Anh tăng trưởng ổn định, đã khiến chính ph ủ Anh chính th ức
xác lập chính sách ly khai hoàn toàn khỏi cả cơ chế Cơ chế T ỷ giá Hối đoái Châu
Âu và Khu vực đồng tiền chung châu Âu. Việc đồng Euro liên tục m ất giá trong
thời kỳ khủng hoảng tài chính năm 2008 đã ch ứng tỏ chính sách tiền tệ c ủa Anh
trong giai đoạn này hợp lý và phù hợp với các lợi ích kinh tế c ủa n ước Anh.
3.2.3. Đối với cuộc khủng hoảng cấm vận thịt bò
Những quy định của EU về an toàn đối với thực phẩm bán tại thị trường
nội khối đã từng gây tranh cãi giữa Anh và EU trong v ấn đề bệnh bò điên (g ọi t ắt
là bệnh BSE). Một làn sóng tẩy chay thịt bò Anh bắt đầu năm 1989. Năm 1989 c ả
Đức và Mỹ đều ban hành lệnh cấm thịt bò Anh. Năm 1996, EU ban hành lệnh cấm
thịt bò Anh trên phạm vi toàn liên minh và đồng ý bồi th ường 25% giá tr ị bò m ắc
bệnh đã xẻ thịt. Chính sách của Anh để giải quyết cuộc kh ủng hoảng th ịt bò c ủa
nước này có thể được chia thành hai giai đoạn với các đặc tr ưng khác nhau. Giai
đoạn đầu thuộc thời kỳ Thủ tướng John Major nắm quy ền. Chính sách của n ước
Anh là phản ứng mạnh, bảo thủ và gây hấn. Tuy nhiên, chính sách này không phát
huy hiệu quả. EU vẫn cương quyết với lệnh cấm thịt bò Anh trên toàn lãnh th ổ
còn nước Anh bị mất uy tín trầm trọng trong các đàm phán và h ội ngh ị th ượng
đỉnh của EU. Giai đoạn thứ hai diễn ra trong nhiệm kỳ đầu c ủa Th ủ t ướng Tony
Blair (từ 1997-2000). Nước Anh chuyển từ thái độ đối đầu sang h ợp tác m ềm
mỏng để tháo gỡ vấn đề bệnh BSE. Năm 1997 bắt đầu bằng nh ững đề ngh ị n ới
lỏng lệnh cấm thịt bò Anh. Đến tháng 3-2000, vấn đề thịt bò Anh đã đ ược gi ải
quyết triệt để, hiệu quả và nhận được sự đồng thuận của các n ước thành viên.
3.2.4. Đối với Chính sách nông nghiệp chung châu Âu (CAP)
Chính sách nông nghiệp chung (CAP) được xây dựng từ năm 1957 trong
Hiệp định Rome. Năm 1973, việc Anh tham gia vào EC cũng có nghĩa là tham gia
vào CAP. Vấn đề giữa nước Anh và CAP là ở chỗ nước Anh có nền nông nghi ệp
nhỏ hơn nhưng lại hiệu quả hơn rất nhiều so với các n ước khác trong EC. Tuy
nhiên, việc CAP được hình thành từ trước khi Anh gia nhập EC khi ến cho Anh
nó. Châu Âu bước vào thời kỳ suy thoái kéo dài d ẫn đ ến m ột lo ạt nh ững kh ủng
hoảng phát sinh, gồm khủng hoảng nợ công với nguy cơ v ỡ n ợ tại Hy L ạp, suy
yếu kinh tế khu vực đồng Euro, khủng hoảng người tị nạn và di c ư, v.v… Về
khủng hoảng khu vực đồng Euro và các giải pháp ph ục hồi, thái độ c ủa n ước Anh
tỏ ra không rõ ràng. Một mặt, nước này quan tâm đến s ự ổn định của đ ồng ti ền
chung châu Âu và sự bình thường hóa trở lại của các thành viên đang b ị ảnh
hưởng nặng nề trong khu vực vì 50% th ương mại của Anh liên quan đ ến các
nước thuộc EU. Mặt khác, do không phải là thành viên c ủa Khu v ực đ ồng Euro và
cũng không có ý định ra nhập khu vực này, n ước Anh rất cảnh giác tr ước vi ễn
cảnh thay đổi mạnh của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ. Anh tiếp tục yêu cầu bảo
vệ các hoạt động của công ty và ngân hàng Anh chống lại nh ững kiểm soát tài
chính từ phía các thể chế châu Âu, nhằm mục đích không h ạ th ấp vai trò c ủa
London với tư cách trung tâm tài chính thế giới. Vì vậy, tại h ội ngh ị th ượng đ ỉnh
EU tháng 12-2012 Thủ tướng David Cameron đã nêu ý đ ịnh để Anh cùng Th ụy
Điển và Cộng hòa Séc bên ngoài Hiệp hội Ngân hàng (Banking Union). Nh ững
phức tạp trong mối quan hệ Anh-EU đã làm gia tăng chủ nghĩa hoài nghi châu Âu
thời kỳ này. Công chúng Anh càng ngày càng nghi ngờ sự h ội nh ập sâu c ủa EU.
Nước Anh cũng dần bị đẩy ra lề của châu lục, không còn là một trong nh ững n ước
giữ vai trò thủ lĩnh của EU như thời Thủ tướng Tony Blair n ữa.
Tóm lại, chính sách hội nhập kinh tế của Anh vào EU th ời kỳ này g ặp nhi ều
khó khăn dẫn đến sa lầu trong ngắn hạn. Anh quay về v ới t ư t ưởng v ị k ỷ truy ền
thống và muốn đặt lợi ích của mình lên trên hết. Chính sách của Anh v ới EU v ề
giải cứu đồng Euro là chính sách tách biệt, không gắn kết.
3.3. Chính sách của Anh đối với EU trên các lĩnh vực khác
13
3.3.1. Đối với vấn đề an ninh phòng thủ chung châu Âu
Sau Chiến tranh Lạnh, các quốc gia châu Âu bắt đầu quan tâm đến các hình
thức hợp tác an ninh quốc phòng khác ngoài phạm vi NATO. N ước Mỹ, ng ười sáng
nạn bắt đầu đổ về châu Âu. Tuy nhiên, cho đến th ời điểm Hiệp ước Lisbon có
hiệu lực những năm đầu thế kỷ XXI, làn sóng nhập cư và tị n ạn vào EU ch ưa b ị
xem là mang lại các nguy cơ về an ninh, làm mất trật tự xã h ội và mai m ột b ản
sắc văn hóa của các nước châu Âu. Sự việc chỉ trở nên trầm trọng khi Nhà n ước
Hồi giáo tự xưng trỗi dậy và xung đột Syria bắt đầu. K ể t ừ đ ầu năm 2014, châu
Âu đã phải đối mặt với những con số dân tị nạn lớn ch ưa t ừng thấy, và đ ến năm
2015, các bất đồng về chính sách phân bổ hạn ngạch người tị n ạn cho các n ước
thành viên trở nên rất gay gắt. Đối với nước Anh, do các đi ều kho ản đ ặc bi ệt có
14
từ các hiệp ước đã ký với EU giai đoạn trước, n ước Anh không ch ấp nh ận các h ạn
ngạch từ EU về người tị nạn vào Anh trong các năm 2014-2016.
Về vấn đề nhập cư vào Anh từ các nước EU, ph ải khẳng đ ịnh r ằng trong
nhiều năm kể từ 1997, nhờ sự ổn định về kinh tế, an ninh – quốc phòng và chính
trị, nước Anh duy trì được chế độ an sinh xã hội ở mức cao nên tr ở thành m ột
điểm đến hấp dẫn với đông đảo dân cư các nước EU. Để ki ểm soát tình hình, t ừ
năm 2003, chính quyền của thủ tướng Tony Blair đã cho triển khai d ự án Biên
giới điện tử trị giá 1,2 tỷ bảng Anh nhằm kiểm tra chi tiết tất cả các hành khách
ra vào Vương quốc Anh. Đến năm 2014, để hạn chế số nhập cư vào Anh, chính
phủ của thủ tướng David Cameron ban hành quy chế mới về an sinh xã h ội cho
người nhập cư. Theo đó, chỉ sau bốn năm có việc làm ổn định ở Anh, nh ững ng ười
nhập cư mới được hưởng chế độ an sinh xã hội như các công dân khác c ủa Anh.
Tuy nhiên, họ vẫn sẽ không nhận được trợ cấp tiền gửi cho b ố m ẹ và con cái ở
quê nhà. Chính sách này bị cộng đồng EU chỉ trích d ữ d ội nh ưng n ước Anh v ẫn
kiên quyết với các kế hoạch đã đề ra.
3.3.3. Đối với hợp tác trên lĩnh vực luật pháp và chống tội phạm, ch ống kh ủng b ố
Trong lĩnh vực hợp tác luật pháp và chống tội phạm, phần lớn gi ới chính tr ị
Anh tin rằng quốc gia này nên là một phần trong hệ thống qu ốc t ế v ề ch ống t ội
phạm (là một thành viên của Europol, Eurojust, và hệ thống l ưu trữ thông tin v ề
thành viên còn lại để đổi lấy các giá trị cốt lõi khác. Anh ch ấp nh ận tham gia kh ối
Thị trường chung châu Âu để tranh thủ thị trường lớn trên 500 triệu dân của EU,
với kim ngạch xuất khẩu chiếm 45% tổng lượng hàng hóa và d ịch v ụ xu ất kh ẩu
của Anh. Sau hai năm ở trong Cơ chế Tỷ giá Hối đoái Châu Âu, nhận th ấy nguy c ơ
đồng Bảng bị đầu cơ và giảm giá trị, Anh đã rút ra khỏi cơ chế này và kiên trì
chính sách không hội nhập trở lại. Anh cũng nhất quán v ới chính sách không
tham gia vào khu vực đồng tiền chung châu Âu. Giai đoạn t ừ năm 1992 đ ến năm
1997, Anh phản ứng tiêu cực với chính sách cấm vận th ịt bò Anh của EU nh ưng đã
có những tháo gỡ tích cực hơn cho vấn đề này ở giai đoạn sau (1997-2000). V ề c ơ
bản, Anh đồng thuận với Chính sách nông nghiệp chung và các đòi h ỏi c ủa th ị
trường chung châu Âu, cố gắng đảm bảo các yêu cầu của hàng hóa xu ất vào th ị
trường này. Tuy nhiên, với vấn đề cứu trợ đồng Euro trong giai đo ạn kh ủng
hoảng 2008-2012, Anh liên tiếp thực hiện chính sách né tránh, không tham gia
sâu vào cuộc cứu trợ.
3) Các lĩnh vực khác cũng chứng kiến chính sách đối ngoại không gi ống
nhau của Anh với EU. Một mặt, Anh ủng hộ thắt chặt an ninh, phòng v ệ cho châu
Âu bằng các biện pháp chia sẻ thông tin tội phạm và tình báo. M ặt khác, Anh đòi
chuyển giao quyền làm luật nhiều hơn cho các quốc gia thành viên, trong đó có
Anh, bao gồm quyền xét xử và giam giữ tội phạm c ủa nhi ều t ội danh. Anh cũng
quyết liệt trong vấn đề người tị nạn và nhập cư vào Anh. Có th ể nói, ở các lĩnh
vực này, phần lớn chính sách của Anh rất cứng rắn và không khoan nh ượng.
Nhìn chung suốt 24 năm ở trong Liên minh châu Âu (1992-2016), các chính
phủ Anh thường tiếp cận EU một cách thực dụng. Ngoài kinh tế, lợi ích chính tr ị
của Anh trong EU chủ yếu nhằm cung cấp vai trò lãnh đạo cho Anh trong kh ối
này. Vì thế, Chính sách Hội nhập của Anh vào EU dù đã đạt đ ến nh ững giai đo ạn
đỉnh cao như thời kỳ 1997-2010 cuối cùng vẫn suy yếu. Nước Anh ti ếp t ục chính
sách gắn kết nửa vời, không toàn tâm toàn ý hội nhập sâu vào Liên minh Châu Âu
và sẵn sàng các biện pháp vừa mềm mỏng vừa cứng rắn đ ể tránh chuy ển giao
thêm quyền lực cho EU, đồng thời tạo thế đứng độc lập, tách bi ệt cho n ước này
mỗi khi châu Âu lâm vào khủng hoảng. Nước Anh ủng h ộ th ị tr ường chung châu
đó là một bằng chứng rõ nét của động thái gạt nước Anh ra bên lề các đàm phán về an
ninh chính trị cấp cao trong khu vực.
Tuy nhiên, nhìn chung, việc Anh luôn có mặt trong nhóm ba nước có ảnh hưởng
mạnh mẽ nhất đối với châu lục (Anh – Pháp – Đức), cũng là trong nhóm nước thường
trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc cho thấy Anh đã duy trì được vị trí và ảnh
hưởng của nước này trong khu vực. Mặt khác, vai trò về quốc phòng an ninh của Anh
trong EU khá quan trọng một phần vì Anh là thành viên đồng sáng lập NATO và phần
17
khác vì Anh có truyền thống là quốc gia mạnh về quân sự. Trong một châu Âu mạnh về
kinh tế nhưng yếu về quốc phòng, chắc chắn Anh sẽ có điều kiện thể hiện và giành
được vị thế tốt hơn trong bàn cờ đàm phán các vấn đề của giới chính trị toàn cầu. Thực
tế cho thấy, về an ninh quốc phòng, Anh vẫn là cường quốc quân sự với mức chi cho an
ninh quốc phòng lớn nhất. Anh cũng đóng góp nhiều nhất về quân số cho Liên minh
Châu Âu mỗi khi xảy ra xung đột hay tranh chấp cần sự răn đe và hiện diện của quân
đội. Ngoài ra, với việc Anh là thành viên sáng lập NATO, Anh được lợi từ “cái ô an
ninh” này nhiều hơn so với các thành viên EU khác trong khi chỉ phải chịu chi phí thấp
hơn.
Về kinh tế, rõ ràng khi tham gia Liên minh EU, Anh có c ơ h ội ti ếp c ận th ị
trường rộng lớn với nhu cầu tiêu dùng cao. Thực tế là sau Thế chiến hai, xuất
khẩu hàng công nghiệp của Anh sang 6 nước sáng lập EU m ới ch ỉ chiếm 10%
tổng cung hàng hóa của Anh. Sau khi gia nhập EU, đến nay, t ỷ l ệ xu ất kh ẩu c ủa
Anh vào thị trường này đã đạt 45%. Mặt khác, gia nhập EU, Anh đ ược l ợi t ừ m ối
quan hệ và hiệp định chung EU ký kết với các quốc gia khác trên th ế giới, bao
gồm từ những nước lớn như Mỹ, Nhật, … đến các nước nhỏ như Việt Nam. Do đó,
Anh không phải đầu tư công sức, thời gian, con người … cho các ho ạt đ ộng thăm
dò, soạn thảo và ký kết các hiệp định thương mại với t ừng n ước nh ỏ lẻ n ữa. Đi ều
này chắc chắn tiết kiệm cho Anh một lượng lớn nhân lực vật lực mà vẫn đảm
bảo xâm nhập thị trường toàn cầu hiệu quả. Các vấn đề về hành chính, xuất bản,
EU. Mặt khác, chính sách bầu cử Nghị viện Châu Âu cũng gây tranh cãi vì công
chúng không cảm thấy có đủ sự đại diện cho họ, đặc biệt là nhóm đ ảng nh ỏ,
trong Liên minh Châu Âu. Thêm nữa, ngoài Quốc h ội châu Âu đ ược dân châu Âu
bầu ra, các cơ quan và thể chế khác của EU không được hình thành “dân ch ủ” nh ư
vậy, kể cả Hội đồng Bộ trưởng. Mặc dù được hình thành t ừ nhi ều năm nay và đã
có Quốc hội riêng, EU không có Hiến pháp. Điều đó cũng có nghĩa vai trò và quan
hệ giữa các thể chế bên trong EU vẫn chưa được xác định rõ.
Từ những yếu điểm trên, Anh cùng một thành viên khác là Đan M ạch t ừng
cho rằng không thể và không nên có bất cứ s ự hòa nhập chính tr ị nào n ếu v ấn đ ề
dân chủ chưa được giải quyết.
Về kinh tế, nước Anh cho đến năm 2016 mới chỉ tham gia trọn vẹn, liên t ục,
không ngắt quãng vào Định chế Thị trường Chung Châu Âu, tham gia C ơ ch ế T ỷ
giá Hối đoái Châu Âu ngay ngày đầu gia nh ập EC vào năm 1973 nh ưng đ ến năm
1992 bị loại ra khỏi cơ chế này dưới ảnh hưởng của n ạn đầu c ơ tiền t ệ của gi ới
đầu cơ tài chính khiến đồng bảng Anh mất giá trầm trọng. Tuy nhiên, sau khi
kinh tế phục hồi và đồng bảng lên giá trở lại trong giai đoạn Thủ t ướng Tony
Blair cầm quyền, tức là khi đồng tiền của Anh đã đủ mạnh để gia nhập tr ở l ại C ơ
chế Tỷ giá Hối đoái Châu Âu, nước Anh đã không th ực hiện vi ệc tái nh ập này. Bài
học từ nạn đầu cơ tiền tệ năm 1992 khiến nước Anh không còn tin t ưởng vi ệc
tính giá trị đồng tiền của nước mình theo giá trị một đồng tiền khác trong Liên
minh. Cụ thể trong trường hợp Cơ chế Hối đoái tiền tệ Châu Âu, các đ ồng ti ền
đều được quy đổi dựa trên giá trị của đồng Mác Đ ức. Cùng v ới n ỗ l ực duy trì đ ồng
Bảng mạnh, sau này, khi đồng tiền chung châu Âu (Euro) đã đ ược đ ưa vào s ử
dụng, nước Anh tiếp tục từ chối không tham gia khu v ực đồng ti ền chung Châu
Âu.
Như vậy, nếu xem xét chính sách gắn kết Anh vào châu Âu giai đoạn 19922016 từ góc độ hội nhập kinh tế, hai trong số ba th ể chế lớn đã không đ ược Anh
tham gia. Bằng việc chỉ tham gia Định chế Thị trường Chung Châu Âu và đ ứng
ngoài Cơ chế Hối đoái tiền tệ Châu Âu cũng nh ư Khu v ực đ ồng Euro, n ước Anh
được cho là đã tránh được một khủng hoảng kinh tế trầm tr ọng h ơn khi toàn
châu Âu lâm vào suy thoái kéo dài sau khủng hoảng tài chính toàn c ầu 2008. Vi ệc
4.2.1. Đối với nước Anh
Không phải ngẫu nhiên mà các quan chức Anh tỏ ra lúng túng trước tiến
trình ly khai, đưa nước Anh ra khỏi EU. Có thể nói, đây là m ột tr ường h ợp vô cùng
đặc biệt chưa có tiền lệ. Vì Brexit là cú sốc lớn, không ai tiên li ệu tr ước, th ậm chí
với cả những người bỏ phiếu ủng hộ Brexit, nên việc xử lý nó th ế nào hoàn toàn
không có trong tư tưởng và hoạch định chiến lược của Chính ph ủ Anh. Trong b ối
cảnh đó, tân Thủ tướng kế nhiệm David Cameron là Theresa May đã ph ản ứng
phù hợp: tạm hoãn kích hoạt điều 50 Hiệp ước Lisbon, bổ nhiệm chính th ủ lĩnh
của Brexit vốn là cựu Thị trưởng London chịu trách nhiệm cho tiến trình đàm
phán với EU hậu Brexit. Tuy nhiên, sự lúng túng trong qu ản tr ị nhà n ước, qu ản tr ị
doanh nghiệp và đời sống nhân dân hiện đã và đang gây ra nh ững b ất an không
nhỏ ở nước Anh. Nếu tình hình này không sớm được ổn định, hậu quả c ủa nó
chắc chắn không hề nhỏ.
4.2.2. Đối với EU
Điều đáng lo ngại trong trường hợp Brexit là sự thu nh ỏ, phá v ỡ kết cấu
khu vực của nó đang báo hiệu hiệu ứng domino tại chính châu Âu và các khu v ực
khác. Trong quá khứ, truyền thống của khu vực là m ở r ộng. Nh ưng nay, m ột khu
vực mẫu mực như EU lại đang mở đầu một tiền lệ tiêu cực ch ưa từng đ ược
nghiên cứu hay xét đến. Mặt khác, việc Anh, một quốc gia mạnh, m ột n ước l ớn
rút ra khỏi Liên minh Châu Âu chắc chắn đã gây ch ấn động không nh ỏ đ ến tâm lý
20
ngại việc, không còn muốn gánh vác sứ mệnh và trọng trách d ẫn dắt, phát tri ển
khu vực nữa, đặc biệt khi EU bây giờ giống như một gia đình mà ng ười lao đ ộng
tích cực thì ít, người “phụ thuộc” và người “ăn theo” thì nhiều.
Ngoài ra, bối cảnh thế giới mới với nợ công tăng cao ở mọi quốc gia trên
thế giới, gồm cả thành viên của EU và những nước giàu như Mỹ, Nh ật, sự d ư th ừa
năng lực sản xuất hàng hóa toàn cầu, sự nổi lên của Trung Quốc và Ấn Độ, s ự
phức tạp của thị trường tài chính đang trong quá trình chuy ển hóa, v ấn n ạn di c ư
bây giờ, tập trung vào các mặt hàng truyền thống đã có ti ếng c ủa Vi ệt Nam t ại
châu Âu như may mặc và da giày. Tuy nhiên, việc thăm dò và t ừng b ước đ ưa các
sản phẩm khác từ nền nông nghiệp đa dạng và các sản ph ẩm th ủy h ải s ản phong
phú của Việt Nam vào thị trường có sức mua lớn này ph ải đ ược xúc ti ến và tr ở
thành hoạt động thường xuyên của Việt Nam tại EU. Quảng bá cho du l ịch Vi ệt
21
Nam cũng là một cách khác để thu hút khách du l ịch, khách ngh ỉ d ưỡng châu Âu
đến Việt Nam, vừa đem lại ngoại tệ mạnh vừa tạo thêm công ăn việc làm cho
người lao động trong nước, đồng thời nâng cao được hiểu biết chung của b ạn bè
quốc tế về Việt Nam.
Tiểu kết chương 4
Tính đến trước thời điểm Brexit, ngoại giao Anh hoạt đ ộng có hiệu qu ả vì
đã đạt được phần lớn các mục tiêu chiến lược đề ra, tiếp tục đ ưa n ước Anh phát
triển thịnh vượng, từng bước lấy lại vị thế đã mất của thời kỳ hoàng kim tr ước
đó. Nếu xét thêm các yếu tố chưa thuận lợi như dân số không lớn, diện tích trung
bình, số lượng đảng phái nhiều dẫn đến đấu tranh và bất ổn liên miên trên đ ấu
trường chính trị trong nước thì những thành tựu này của ngoại giao Anh càng
phải được ghi nhận. Trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội, Anh đã đ ảm b ảo
được các yêu cầu tối thiểu từ phía EU để duy trì quyền thành viên, và đ ể ti ếp c ận
và tận dụng các lợi thế của thị trường chung châu Âu. Chính sách h ội nh ập có
chừng mực của Anh cũng đã giúp nước Anh duy trì v ị th ế t ương đ ối đ ộc l ập, đ ủ
để không bị ảnh hưởng quá mạnh từ các khủng hoảng của EU như vấn đề n ợ
công, vấn đề tị nạn và sự suy yếu của khu vực đồng Euro. Mặc dù nh ững biện
pháp cách ly nước Anh với phần còn lại của châu lục này không nh ận đ ược s ự
đồng thuận trong khu vực và thế giới, nước Anh vẫn kiên quyết duy trì nh ững
chính sách tách biệt một phần đó để đảm bảo chủ quyền và an ninh t ối đa cho
dân Anh.
Mặc dù Brexit diễn ra đột ngột, biến nước Anh t ừ th ế ch ủ động thành lúng
Thứ hai, chính sách hội nhập của Anh vào EU giai đoạn 1992-2016 trải qua những thời
kỳ phát triển không đều nhau, có những giai đoạn cầm chừng như trong khoảng 1992-1997
(trong nhiệm kỳ của thủ tướng John Major), giai đoạn phát triển mạnh với đặc trưng là chính
sách hội nhập tích cực, đưa nước Anh vào vị trí trung tâm châu Âu trong các năm từ 1997 đến
2007, và giai đoạn quay trở lại với hội nhập có chừng mực như thời kỳ 2008-2016 sau này.
Nửa cuối năm 2016 chứng kiến chính sách ly khai Brexit của Anh ra khỏi EU. Chính sách
diễn ra đột ngột do kết quả của cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-6-2016 trên phạm vi toàn nước
Anh. Trong khi chính sách hội nhập vào EU chủ yếu được giới lãnh đạo và tinh hoa trong
chính quyền Anh hoạch định và thực thi, chính sách Brexit lại do làn sóng dân túy và những
người dân bình thường của nước Anh kiến tạo.
Thứ ba, chính sách của Anh đối với EU trên các lĩnh vực nổi lên một số đặc điểm sau:
Các chính sách hòa nhập về kinh tế có nhiều khởi sắc hơn cả do nước Anh có lợi ích lớn tại
Thị trường Chung Châu Âu. Nước Anh đã làm tốt chính sách đóng góp cho ngân sách EU
hàng năm, và tuân thủ các quy định về chất lượng, mẫu mã hàng hóa và dịch vụ xuất vào thị
trường EU. Tuy nhiên Anh vẫn không nỗ lực hội nhập sâu với EU về kinh tế. Anh từ chối
không tham gia Cơ chế Tỷ giá Hối đoái Châu Âu và Khu vực đồng tiền chung châu Âu với
mục đích phòng ngừa các rủi ro và giữ cho nước Anh ở vị thế tương đối độc lập với EU về
kinh tế. Về an ninh chính trị: một mặt, Anh ủng hộ EU có khả năng phòng vệ tốt hơn. Mặt
khác, Anh tỏ ra cương quyết giữa vũng lập trường phòng thủ cho châu Âu nên dựa vào nền
tảng của NATO và từ chối hỗ trợ kế hoạch xây dựng quân đội riêng của Liên minh Châu Âu
do Pháp và Đức khởi xướng. Từ góc độ này, Anh đã khiến EU phát triển không đồng đều giữa
kinh tế và an ninh phòng thủ, đồng thời làm ảnh hưởng đến thiện cảm của các nước thành viên
khác trong EU đối với Anh. Trên các lĩnh vực khác như hợp tác tư pháp, luật, chống tội phạm
và khủng bố, v.v… Anh vẫn duy trì chính sách hợp tác có chừng mực của mình, chỉ tham gia
sâu vào những lĩnh vực hoặc hoạt động có lợi cho Anh như chia sẻ thông tin tình báo, tội
phạm. Anh tỏ ra đặc biệt cứng rắn trong các vấn đề về biên giới và tiếp nhận hạn ngạch người
tị nạn từ EU. Các công dân nhập cư từ các quốc gia khác trong EU đến làm việc ở Anh cũng
phải chịu một số quy chế và quy định khác với công dân Anh. Tóm lại, Anh duy trì vị thế
tương đối độc lập với EU trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đến an ninh, xã hội.
Thứ tư, sự kiện Brexit đã đặt cả Anh và EU vào tình thế khó khăn chưa được đề phòng