chính sách năng lượng của liên bang nga đối với các nước khu vực trung á dưới thời tổng thống v putin (2000 2008) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đỗ Thị Minh Trang

CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG CỦA LIÊN BANG NGA
ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC TRUNG Á
DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG V.PUTIN (2000-2008)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đỗ Thị Minh Trang

CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG CỦA LIÊN BANG NGA
ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC TRUNG Á
DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG V.PUTIN (2000-2008)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60 22 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGÔ MINH OANH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011

6. Bố cục đề tài ......................................................................................................... 11
CHƯƠNG 1: LIÊN BANG NGA VÀ KHU VỰC TRUNG Á............................. 12
1.1. Vị trí địa-chính trị của các nước Trung Á ..................................................... 12
1.2. Trung Á-khu vực khu vực ảnh hưởng truyền thống của Liên bang Nga ... 16
1.3. Liên bang Nga và chính sách năng lượng đối với các nước khu vực Trung
Á trong những năm 1991-1999............................................................................... 20
1.3.1. Tiềm năng năng lượng của các nước Cộng hòa Trung Á ............................ 20
1.3.2. Chính sách năng lượng của Liên bang Nga đối với các nước khu vực Trung
Á trong những năm 1991-1999 ................................................................................. 27
TIỂU KẾT................................................................................................................ 35
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI
VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC TRUNG Á DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG
V.PUTIN (2000-2008) ............................................................................................. 38
2.1. Chính sách năng lượng của Nga ..................................................................... 38
2.1.1. Tầm quan trọng của vấn đề năng lượng đối với Liên bang Nga .................. 38
2.1.2. Con đường trở thành “cường quốc năng lượng” của Liên bang Nga .......... 42
2.2. Đặc điểm “chính sách năng lượng” của Liên bang Nga đối với các nước
khu vực Trung Á dưới thời Tổng thống V.Putin (2000-2008) ............................ 46
2.3. Con đường và phương thức thực hiện chính sách năng lượng của Nga đối
với khu vực Trung Á ............................................................................................... 49
2.3.1. Tăng cường sự liên kết về an ninh và kinh tế trong khu vực ....................... 49
2.3.2. Sự tăng cường các hoạt động quân sự .......................................................... 53


4

2.3.4. Các con đường và phương thức hợp tác khác .............................................. 63
2.3.4.1. Công ty dầu khí - những cánh tay đắc lực và những dự án đầu tư.. ...... 63
2.3.4.2. Các đường ống dẫn dầu khí ở Trung Á và những hợp đồng năng
lượng…………………………………………………………………………………….76

thế giới cho tới hiện nay là 778 Gtoe 2, trong đó dầu mỏ là 143 Gtoe, khí thiên
nhiên là 138 Gtoe và than là 566 Gtoe. Như vậy, nếu mức khai thác và sử dụng của
năm 2001 là dầu mỏ 3,51 Gtoe/năm, khí thiên nhiên 2,16 Gtoe/năm… thì lượng tài
nguyên hóa thạch này chỉ đủ dùng trong 41 năm đối với dầu mỏ, 64 năm đối với
khí thiên nhiên… Hệ quả là, nếu không được phát hiện thêm thì ngay trong thế kỉ
21, dầu mỏ và khí thiên nhiên sẽ không còn giữ vai trò cung ứng năng lượng chính
cho thế giới và viễn cảnh thế giới không còn dầu khí vào thế kỉ này sẽ là nỗi kinh
hoàng đối với nhân loại vì con người lệ thuộc quá nhiều vào dầu khí đến nỗi không
ai có thể hình dung được cuộc sống một ngày thiếu dầu khí.
Trên thế giới, Nga hiện đang là quốc gia có trữ lượng khí đốt lớn nhất,
chiếm tới 27% trữ lượng khí đốt của cả thế giới và còn là nước xuất khẩu dầu mỏ
lớn thế hai thế giới sau Saudi Arabia. Ở phương Tây người ta thường nói: “Nếu
Brejnev có tên lửa thì Putin có khí đốt”, ngụ ý rằng nước Nga sau thời kì Boris
Yeltsin đã sử dụng khí đốt làm vũ khí chiến lược. Quả thật vậy, chính nguồn tài
nguyên dồi dào về khí đốt và dầu mỏ đã tạo nên sức mạnh cho nước Nga hiện nay
và biến Liên bang Nga thành một “đế quốc năng lượng” trên thế giới. Điều này
góp phần củng cố vị trị cường quốc của Nga trên chính trường quốc tế, bởi, các
1

World Energy Assessmnet Overview: 2004 Update-[http://www.undp.org/energy]

2

1 Gtoe = 1 tỷ toe (toe = tonner of oil equivalent: đơn vị tấn dầu tương đương)


6

vấn đề năng lượng vốn dĩ làm nền tảng cho những nỗ lực ngoại giao, cho nền chính
trị thế giới và thậm chí là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh.

quốc gia đó. Đối với nước Nga- một đế quốc năng lượng thì đây là vũ khí chiến
lược lợi hại để nước này thể hiện sự ảnh hưởng của mình trên thế giới.
Trung Á vốn là khu vực giàu nhiên liệu và tài nguyên thiên nhiên mà thị
trường thế giới rất cần, là rốn dầu lớn thứ hai thế giới sau Trung Đông. Nơi đây
còn được coi là “căn cứ năng lượng của thế kỷ 21” 3. Với nguồn tài nguyên lớn về
dầu lửa, khí đốt và vị trí địa lý của mình, Trung Á được xem là vùng đệm chiến
lược của các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc và cũng là tâm điểm tranh giành
ảnh hưởng của các nước này, tuy nhiên từ xưa tới nay khu vực này vẫn được coi
khu vực ảnh hưởng truyền thống [5,tr.5] của Nga.
Về mặt địa lý, nơi đây là cửa ngõ đi vào vùng chiến lược dầu khí xung
quanh vùng biển Caspian thông qua Trung Á, Nga không chỉ có thể cùng với Iran,
Ấn Độ giành được sự liên thông đường ống năng lượng, mà còn giành được con
đường quan trọng của cảng biển phía nam. Đối với Nga, điều quan trọng nhất đó là
bảo đảm vị trí khai thác và vận chuyển dầu mỏ, khí đốt của mình tại Trung Á, đồng
thời ngăn chặn không cho bất cứ một cường quốc nào giành được vị trí chiến lược
tại đó. Vì thế, khu vực Trung Á mang một vị trí địa-chiến lược quan trọng đối với
nước Nga hiện đại.
Từ những lợi ích trên mà nước Nga thời Putin đã rất chú trọng tới yếu tố
năng lượng trong chính sách ngoại giao, đặc biệt là đối với khu vực nhiều tiềm
năng và mang lợi ích về địa-chính trị, địa-chiến lược như Trung Á.
Chính vì những lí do trên đây mà tôi đã chọn đề tài Chính sách năng lượng
của Liên bang Nga đối với các nước khu vực Trung Á dưới thời Tổng thống
V.Putin (2000-2008).
Tìm hiểu chính sách năng lượng của Liên bang Nga đối với Trung Á thời
Tổng thống V.Putin góp phần bổ sung nguồn kiến thức về quan hệ quốc tế nói
chung và quan hệ quốc tế hiện đại nói riêng, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa
học và công tác giảng dạy.

3


triển do Nguyễn Quang Thuấn chủ biên (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007) đã
có những khái quát về quan hệ của Nga đối với các nước SNG, trong đó có các
nước Trung Á. Tuy nhiên, quan hệ về mặt năng lượng với các nước này chỉ là một


9

phần nhỏ và chưa được hệ thống lại mà chỉ nằm rải rác ở các chính sách dành riêng
cho các nước Trung Á.
Gazprom-tập đoàn dầu khí lớn nhất Liên bang Nga-nhiều người đã ví
Gazprom như là “xương sống của nền kinh tế” nước này, là cánh tay đắc lực trong
công cuộc tìm lại sức mạnh cho người Nga trên trường quốc tế, và đương nhiên
trong chính sách năng lượng đối với các quốc gia Trung Á, Gazprom tất nhiên
đóng một vai trò quan trọng. Thông qua “người khổng lồ” Gazprom, Nga đã có
công cụ để gây sức ép với các công ty năng lượng nước ngoài cũng như đảm bảo vị
trí của Nga ở Trung Á. Về vấn đề này, chúng tôi có tham khảo trong bài viết của
tác gỉa Đỗ Trọng Quang: Tập đoàn khí đốt khổng lồ Gazprom và tầm cỡ của nó
trên thị trường năng lượng thế giới, tạp chí Nghiên cứu châu Âu (số 4-2009).
Ngoài ra, các bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu châu Âu như: Dầu khí và
chiến lược năng lượng của Nga (Nguyễn Cảnh Toàn, số 9-2008), Chiến lược của
Nga ở khu vực Trung Á (Đỗ Trọng Quang, số 5-2007), Nga triển khai chiến lược
toàn cầu về dầu mỏ (Ngô Duy Ngọ, số 2-2008)… hay các tài liệu từ Thông tấn xã
Việt Nam: Chính sách của nước Nga ở Trung Á, (TLTKĐB, ngày 24-3-1994),
Trung Á-khu vực quan trọng đối với Nga (TLTKĐB, ngày 12-2-2003), Triển vọng
khu vực dầu khí tại Trung Á và Capcadơ (TLTKĐB, ngày 30-11-2003)… cũng đề
cập đến chính sách năng lượng của Nga ở khu vực Trung Á.
Về phần tài liệu tiếng Anh, chúng tôi cũng thu thập được một số tài liệu sau:
Trong báo cáo chuẩn bị cho các thành viên và các Uỷ ban của Quốc hội năm
2009, Steven Woehrel-chuyên gia nghiên cứu châu Âu đã có bài báo cáo Russian
Energy Policy toward Neighboring Countries (Chính sách năng lượng của Nga đối

- Thời gian: đề tài luận văn chỉ giới hạn trong thời gian 8 năm tổng thống
Nga V.Putin cầm quyền (2000-2008).
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện tiểu luận tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như sau:
- Về cơ sở phương pháp luận: chúng tôi đứng trên quan điểm chủ nghĩa
Macx- Lenin để xem xét, nhìn nhận vấn đề.
- Về phương pháp nghiên chuyên ngành (cụ thể): chúng tôi sử dụng phương
pháp lịch sử để trình bày các sự kiện theo trình tự thời gian trong bối cảnh quốc tế


11

và khu vực; dùng phương pháp logic để khái quát lí luận vấn đề và dự báo triển
vọng của vấn đề; dùng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế để đặt vấn đề
trong bối cảnh khu vực, quốc tế, tìm những nhân tố khu vực, quốc tế chi phối vấn
đề này. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp
diễn dịch và phương pháp quy nạp, phương thống kê ….
5. Đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống lại chính sách năng lượng của Nga đối với
Trung Á từ năm 2000 đến 2008 và phần nào đề cập đến sự cạnh tranh của các nước
lớn ở Trung Á trong giai đoạn này, từ đó rút ra một số kết luận có tính chất hệ
thống. Ngoài ra, chúng tôi cũng dự báo triển vọng của mối quan hệ năng lượng
Nga-Trung Á trong những năm tới cũng như những khả năng có thể xảy ra xung
quanh vấn đề năng lượng của Nga đối với khu vực này.
6. Bố cục đề tài
Luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo gồm 3
chương:
CHƯƠNG 1: Trung Á-khu vực ảnh hưởng truyền thống của Liên bang Nga
CHƯƠNG 2: Chính sách năng lượng của Liên bang Nga đối với các nước

chính vì thế từ rất sớm khu vực này đã có một vai trò quan trọng nhất định trên bản
đồ thế giới. Brenzinski đã nhận định về Trung Á như sau: “Trung Á là khu đệm, là
nơi giáp ranh hội đủ các nền văn minh chính giáo, Hồi giáo, Trung Hoa và Ấn Độ.
Một bãi đáp tuyệt vời để kiểm soát vùng Âu – Á từ cả bốn phía của thế giới” [1]. Từ
thế kỷ XIX, do vị trí địa-chiến lược, là cửa ngõ sang các nước Trung Đông.
4

http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_%C3%81

5

http://www.advantour.com/central-asia/

6

Madrasahs: có nguồn gốc từ tiếng Do Thái: midrash để chỉ loại hình tổ chức giáo dục, cho dù là thế tục hay tôn giáo

(của bất cứ tôn giáo).


13

Về an ninh, do tôn giáo chính ở khu vực Trung Á là Hồi giáo và chủ nghĩa
Hồi giáo cực đoan ở đây có nguy cơ khủng bố cao, đặc biệt khu vực này lại là cửa
ngõ sang Trung Đông. Về kinh tế, Trung Á cũng là nơi có trữ lượng dầu khí và
khoáng sản lớn. Giá trị của Trung Á càng được nhân lên trong cơn sốt dầu khí hiện
nay. Và trong vài thập niên cuối thế kỉ XX, Trung Á nổi lên như một khu vực đầy
tiềm năng về năng lượng và trở thành miếng mồi ngon đối với nhiều nước trên thế
giới, đặc biệt đối với những nước khát năng lượng. Về mặt địa lý, nơi đây là cửa
ngõ đi vào vùng chiến lược dầu khí xung quanh vùng biển Caspian thông qua Trung

vịnh Persian và Ấn Độ Dương. Với việc hoàn thành hệ thống đường sắt xuyên châu
Á, phát triển hệ thống đường bộ và đường không, hệ thống dẫn dầu và khí đốt, thì
tầm quan trọng chiến lược-địa lí của vùng Trung Á lại càng lớn bởi vì việc vận
chuyển hàng từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương sang châu Âu và Tây Á và ngược
lại sẽ là rất đáng kể” [38]. Chính tầm quan trọng về mặt địa-chiến lược của khu vực
này mà ngày càng có nhiều nước để mắt tới nên theo các gọi của các nhà địa-chính
trị thì Trung Á đã trở thành “điểm nóng” 8 của thế giới ngày nay.
Trong quá khứ, vai trò của Trung Á tạm thời bị lu mờ trong thời kỳ chiến
tranh lạnh do khu vực này được hiểu nằm trong vòng ảnh hưởng của Liên Xô. Sự
sụp đổ của Liên Xô đã dẫn đến sự độc lập của nhiều nước Trung Á và đặc biệt sau
sự kiện 11-9-2001, khu vực Trung Á được các nước lớn, nhất là Mỹ, Tây Âu, Nga
và Trung Quốc chú ý về cả lý do an ninh, kinh tế và địa chiến lược. Việc Liên Xô
sụp đổ đã dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng về mặt địa-chính trị đối với quốc gia
này là sự nổi lên mạnh mẽ của nhiều đối thủ cạnh tranh về mặt chính trị và thương
mại để kiểm soát các nguồn tài nguyên năng lượng rộng lớn của các quốc gia mới
độc lập của vùng ngoại Capcaz và Trung Á.
Với nguồn tài nguyên lớn về dầu lửa, khí đốt và vị trí địa lý của mình, Trung
Á được xem là vùng đệm chiến lược của các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc
và cũng là tâm điểm tranh giành ảnh hưởng của các nước này, tuy nhiên từ xưa tới
nay khu vực này vẫn được coi khu vực ảnh hưởng truyền thống của Nga.
Đối với Nga, Trung Á không chỉ có lợi về mặt năng lượng mà khu vực này
còn đóng vai trò to lớn về mặt địa-chính trị. Trong tư duy chiến lược của Nga thì
các quốc gia khu vực Trung Á còn là người canh cửa cho biên giới phía nam của
Nga, đặc biệt là Kyrgyzstan và Tajikistan. An ninh của hai nước này cần thiết cho
an ninh khu vực. Vị trí chiến lược của Tajikistan giáp biên giới Afghanistan khiến
an ninh của nước này trở nên thiết yếu đối với việc bảo vệ khu vực và phòng thủ
8

Đặng Thanh Toán, Phan Thị Hoài Thu (2007), Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO)-những bước phát triển


chính sách đối ngoại của họ. Một mặt, nếu có quan hệ tốt đẹp với các quốc gia này,
Trung Quốc có thể tìm lại sự ổn định cho khu tự trị Tân Cương của người Ngô Duy
Nhĩ ở giáp biên giới các nước này. Như vậy, đây là vành đai an ninh hết sức quan
9

Đỗ Trọng Quang (2007), Chiến lược của Nga ở khu vực Trung Á, Nghiên cứu châu Âu, số 5, tr.15.


16

trọng không chỉ đối với Nga mà với cả Trung Quốc. Thứ hai, sự phát triển của nền
kinh tế Trung Quốc trong những năm qua đã làm gia tăng nhu cầu về năng lượng.
Nhập khẩu dầu thô của nước này trong năm 2003 đã tăng lên tới 80 triệu tấn 10,
chiếm gần 30% tổng nhu cầu dầu lửa của nước này. Trong một thời gian ngắn,
Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu dầu thứ hai và là nhà khai thác dầu thứ 6
thế giới (năm 2005). Do đó, Trung Quốc cũng “khát dầu” của Trung Á như nhiều
nước khác.
Các quốc gia Trung Á không chỉ mang mang vị trí địa-chính trị đối với nhiều
nước mà bản thân khu vực này cũng đang nóng lên hàng ngày bởi trữ lượng dầu khí
đang tồn tại ở đây. Hiện tại, các tổ chức quốc tế, các cường quốc đánh giá cao giá
trị của vùng đất thuộc châu Á này bởi cả hai khía cạnh: địa-chính trị và năng lượng,
do đó, Trung Á từ những năm cuối thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI nhanh chóng trở
thành điểm nóng của thế giới, là nơi gặp gỡ của nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn dầu
khí lớn trong tham vọng muốn làm chủ nguồn năng lượng Trung Á.
1.2. Trung Á-khu vực khu vực ảnh hưởng truyền thống của Liên bang Nga
Trung Á là một bộ phận thuộc Liên Xô với 5 nước Cộng hòa: Kazakhstan,
Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan. Năm 1991, khi Liên Xô sụp
đổ, các quốc gia thành viên cũ đã lần lượt tách ra để trở thành các nước độc lập và
gia nhập tổ chức Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG (SIC, 21/12/1991), trong đó
có năm quốc gia thuộc khu vực Trung Á nói trên.

48% của Tajikistan và Turkmenistan 12. Kim ngạch ngoại thương của Nga đối với
các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG là 23%, trong đó chủ yếu là
với các nước Trung Á. Năm 2000, Nga chiếm 30% trong kim ngạch ngoại thương
của Kazakhstan, chiếm 44% trong kim ngạch ngoại thương của Turkmenistan.
Chính vì còn phụ thuộc Nga nhiều về kinh tế nên việc đồng rúp bị phá giá đã có
những ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế các nước này.
Ngoài ra các nước Trung Á còn là thị trường đầu tư lớn của Nga. Đầu tư và
ngoại thương ở khu vực này đã đóng gớp phần đáng kể vào tổng sản phẩm quốc
dân của Nga [5, tr.3-7].
Trong lĩnh vực quân sự, các nước Trung Á thừa hưởng không ít căn cứ quân
sự lớn của Liên Xô. Đó là các trạm radar báo động sớm về tấn công tên lửa, các trận
địa phòng không, các thao trường… Ngoài ra, có rất nhiều người Nga trong lực

11
12

http://www.advantour.com/central-asia/
http://www.rice.edu/energy/publications/docs/UnlockingtheAssets_RussiaCentralAsia.pdf


18

lượng lao động kĩ thuật – quản lý, sĩ quan quân đội và bộ máy an ninh ở Trung Á.
Thiếu những người đó nhất thời sẽ gây ra những khó khăn không nhỏ cho các nước
này.
Trung Á là một khu vực có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với Nga. bên
cạnh việc mang trong mình trữ lượng năng lượng dồi dào, khu vực này còn là cửa
ngõ đi vào vùng chiến lược dầu khí xung quanh vùng biển Caspian, từ đây Nga có
thể kiểm soát được con đường tiến xuống Nam Á và tây Á, xuống vùng Ấn Độ
Dương, ngăn chặn sự xâm nhập của các thế lực tôn giáo cực đoan vào khu vực phiá

và chỉ lập quan hệ với các nước Trung Á trên cơ sở hai bên, không muốn các nước
này phát triển quan hệ với các nước khác trên thế giới.
Nga đặc biệt lo ngại về việc các nước Trung Á tham gia các Tổ chức hợp tác
kinh tế, Ngân hàng phát triển châu Á, tổ chức Hội nghị đạo Hồi… vì các nước này
không muốn trở thành nơi cung cấp nguyên liệu cho Nga. Việc Kazakhstan kí hợp
đồng với tập đoàn năng lượng Chevon của Mỹ và các hãng khai thác dầu khí lớn
khác, Uzbekistan với các hãng khai thác kim loại quý, cùng với Iran đòi bình đẳng
với Nga trong việc đánh cá, đi lại và các hoạt động khác trên biển Caspian, việc
phát triển giao thông về phía nam đã khiến cho Nga cảm thấy bị đe dọa về mặt lợi
ích chiến lược và kinh tế qua trọng của mình.
Trong lĩnh vực kinh tế, các nước cộng hòa thuộc Liên Xô ở Trung Á, đặc
biệt là Azerbaijan và Kazakhstan, đã cố gắng để khai thác tài nguyên thiên nhiên
của họ, vì họ coi dầu là phương tiện chính của việc đảm bảo sự độc lập kinh tế và
chính trị. Tuy nhiên, lợi dụng sự phụ thuộc kinh tế và tài chính của các quốc gia non
trẻ này, bằng cách ngừng cung cấp các sản phẩm công nghiệp, đặc biệt là năng
lượng và sản phầm dầu, Nga đã làm mất ổn định tình hình kinh tế các nước Trung
Á. Kazakhstan, Uzbekistan và Turkmenistan nhờ xuất khẩu tài nguyên nên còn trụ
được, riêng Kyrgyzstan và Tajikistan thì rơi vào tình trạng nặng nề.
Trong lĩnh vực chính trị, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Nga
gây sức ép chính trị đối với các nước Trung Á, buộc họ là cực quyền theo kiểu châu
Á, dân tộc chủ nghĩa, tìm cách đẩy người Nga ra khỏi khu vực, bành trướng chủ
nghĩa chính thống đạo Hồi…


20

Trong lĩnh vực quân sự: trên đất Trung Á còn duy trì nhiều căn cứ quân sự
và một lực lượng quân đội của Nga từ thời Liên Xô và Nga muốn duy trì các căn cứ
này và đặt chúng dưới quy chế của Nga. Dù các nước này không phản đối việc sử
dụng một số căn cứ quân sự đó theo nguyên tắc phòng ngự vừa đủ và theo Hiệp ước


lãnh thổ của Kazakhstan và Turkmenistan. Trung Á chiếm chiếm 6% trữ lượng dầu
mỏ và gần 40% trữ lượng khí đốt của thế giới. [40, tr.195]
Kazakhstan có diện tích là 2.717.300 km2, sở hữu nhiều nguồn tài nguyên
khoáng sản và nhiên liệu hoá thạch. Quốc gia này hiện cũng đứng hàng 11 về trữ
lượng đã được chứng minh của cả dầu mỏ và khí tự nhiên 14.
Dự trữ dầu của Kazakhstan được ước tính vào khoảng 9 tỷ m3 và 17,6 tỷ
thùng. Khu vực có nhiều mỏ dầu nhất là Tengiz, Uzen, Karachaganak, và
Kashagan. Trong đó, mỏ Kashagan được xem là phát hiện dầu lớn nhất trong 30
năm qua. Kazakhstan có 65-70 TCF (tỷ feet khối) khí đốt tự nhiên. Tuy nhiên, cơ sở
hạ tầng đường ống dẫn cho việc di chuyển khí đang thiếu và rất nhiều khí đang
bùng lên.
Theo Vladimir Paramonov và Aleksey Strokov trong Russian Oil and Gas:
Projects and Investments in Central Asia của Học viện Quốc phòng Vương quốc
Anh thì Kazakhstan có một số mỏ dầu khí lớn ở lục địa mà Nga tham gia khai thác
như:
- Mỏ Karachaganak nằm phía tây bắc Kazakhstan, là một trong những
mỏ lớn nhất Kazakhstan. Trữ lượng dầu khí đã được chứng minh bao gồm
khoảng 1.350 tỷ m³ khí đốt tự nhiên và 1,2 tỷ tấn dầu. Khí đốt ở đây chiếm hơn
40% tổng trữ lượng của Kazakhstan
- Giếng dầu Severnyye Buzachi (tỉnh Mangistau, miền Tây Kazakhstan)
với trữ lượng dầu ước tính là khoảng 80 triệu tấn.
- Mỏ Alibekmola và Kozhasai (tỉnh Aktobe): ước tính khoảng 70 triệu
tấn dầu và khoảng 13 ngàn tấn khí ngưng tụ.
- Giếng dầu Karakuduk (tỉnh Mangistau, miền tây Kazakhstan). Dự trữ
dầu được ước tính khoảng 45 triệu tấn.
- Mỏ dầu khí Karazhanba có trữ lượng hơn 340 triệu thùng.
Ngoài ra cũng phải kể đến mỏ dầu Tengiz và Korolev 15 ở vùng tây bắc
Kazakhstan, dọc theo bờ biển phía đông bắc của biển Caspian. Tengiz là mỏ dầu
14

tự nhiên. Gazli, Pjico Song, Pamuk, và Khauzak là những vùng có mỏ dầu lớn. Có
thể kể đến những mỏ dầu khí lớn sau [50, p.11]:

15

http://en.wikipedia.org/wiki/Tengiz_Field

16

http://www.hri.org/MFA/thesis/winter98/geopolitics.html


23

- Mỏ khí Shakhpakhty (cao nguyên Ustyurt, miền Tây Uzbekistan).
Mỏ khí này được phát hiện vào năm 1962 và trữ lượng được ước tính vào
khoảng 46,5 tỷ m³ khí (bao gồm cả khí ngưng tụ) và 7,7 triệu tấn dầu.
- Các mỏ khí đốt Kandym - Khauzak - Shady (tỉnh Bukhara, miền
trung Uzbekistan). Trữ lượng khí đốt ở đây được ước tính vào khoảng 283-329
tỷ m³ (nhiều nhất là ở mỏ Kandym, ước tính trên 150 tỷ m³), trữ lượng dầu
khoảng 8 triệu tấn.
- Mỏ dầu và khí đốt Zhambay ở vùng biển Aral thuộc sở hữu của
Uzbekistan. Dự trữ khí đốt ở đây ước tính khoảng 1000 tỷ m³ với 150 triệu tấn
dầu.
- Một loạt các mỏ dầu và khí đốt phía tây nam Gissar (khu vực nằm
giữa biên giới Kashkadarya và tỉnh Surkhandarya, miền nam Uzbekistan, gần
thành phố Karshi) và mỏ miền Trung Ustyurt (Karakalpakstan). Ước tính trữ
lượng khí của các mỏ này là 150 tỷ m³ khí và khoảng 50 triệu tấn dầu.
- Một loạt các mỏ khí ngưng tụ trên cao nguyên Ustyurt. Đặc biệt, dự
trữ khí đốt ở nhóm mỏ Urga - Kuanysh - Akhchalak ở cao nguyên này được

đỏ nhưng Turkmenistan cũng đang tìm cách đẩy mạnh việc sản xuất khí đốt tự
nhiên, các tuyến đường đa phương để xuất khẩu khí đốt cũng đã được đề xuất ra.
Trong 5 nước Trung Á, Cộng hoà Kyrgyzstan sở hữu nhiều nguồn tài nguyên
khoáng sản nhưng có trữ lượng dầu mỏ và khí tự nhiên thấp (có khả năng phía nam
nước này có mỏ năng lượng nhưng chưa được khảo sát kĩ lưỡng), nước này phải
nhập khẩu dầu mỏ và khí gas. Trong năm 2000, Kyrgyzstan đã có các cuộc khảo sát
giếng dầu. Dự trữ dầu trong thung lũng Fergana ước tính trên 700 triệu thùng, và
tổng dự trữ của các khu vực Chuy, Alay, Issyk-Kul, và At-Bashi có thể lên đến 1,52,2 tỷ thùng. Tuy nhiên, đây chỉ là những con số chưa xác thực và cho đến năm
2000, dự trữ dầu thô của Kyrgyzstan chỉ có 40 triệu thùng.
Trong khi đó, Cộng hòa Tajikistan thì nằm kín trong lục địa, và là nước nhỏ
nhất vùng Trung Á tính theo diện tích. Là nước có những mỏ uran giàu có nhất thế
giới và có rất ít tài nguyên dầu mỏ hay khí đốt. Thăm dò trong những năm 20062007 cho thấy có mỏ khí ở Sargazon (vùng Dangarinskiy, tỉnh Khatlon) và mỏ
Rengan (gần Dushanbe). Trữ lượng khí đốt ở các mỏ này ước tính khoảng 65 tỷ m³.


Trích đoạn Sự tăng cường các hoạt động quân sự Tác động của “chính sách năng lượng” ở Trung Á đối với Nga Một vài nhận xét, đánh giá về chính sách năng lượng của Nga đối vớ Những yếu tố thách thức chính sách năng lượng của Liên bang Nga ở khu Triển vọng về mối quan hệ năng lượng giữa Liên bang Nga và các nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status