Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga duới chính quyền tổng thống V. PUTIN 2000-2008 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
CHIẾN LƯỢC AN NINH QUỐC GIA
LIÊN BANG NGA DƯỚI CHÍNH QUYỀN
TỔNG THỐNG V.PUTIN
2000 - 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS NGUYỄN QUỐC HÙNG HÀ NỘI - 2010
1
MỤC LỤC


Những xung đột trong Cộng đồng các quốc gia độc lập
15
1.3
Khó khăn chồng chất trong nước
17
1.4
Sự xuất hiện của vị Tổng thống mới - V.Putin
27
CHƢƠNG 2
Nội dung cơ bản của Chiến lƣợc an ninh quốc gia Liên
bang Nga dƣới chính quyền Tổng thống V.Putin 2000 -
2008
30
2.1
Nước Nga trong cộng đồng thế giới
30
2.2
Các lợi ích quốc gia Liên bang Nga
33
2.3
Các nguy cơ đe dọa đối với an ninh quốc gia Liên bang Nga
35
2.3.1
Các nguy cơ trong nước
36
2.3.2
Các nguy cơ từ bên ngoài
39
2.4
Đảm bảo an ninh quốc gia của Liên bang Nga

dƣới chính quyền Tổng thống V.Putin 2000 - 2008
60
3.1
Thực thi Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga trong
hai nhiệm kỳ của Tổng thống V.Putin
60
3.2
Đánh giá kết quả thực hiện
70
3.2.1
Thành công
71
3.2.2
Những vấn đề còn tồn tại
75
3.3
Tác động của việc thực thi Chiến lược an ninh quốc gia tới
mối quan hệ giữa Liên bang Nga với một số đối tác
80
3.4

Mối quan hệ Nga - Việt trong hai nhiệm kỳ của Tổng
thống V.Putin
87
3.5
Những điều chỉnh trong Chiến lược an ninh quốc gia Liên
bang Nga thời kỳ mới
90
KẾT LUẬN


giới - người kế tục Liên Xô. Đặc biệt, dưới chính quyền của Tổng thống Vladimir
Putin (V.Putin) - vị Tổng thống thứ hai của Liên bang Nga (2000 - 2008), với tiềm
năng sẵn có về địa lý tự nhiên, tài nguyên, dân số và bằng hàng loạt các biện pháp
cải cách được tiến hành trong mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội đến
an ninh, quân sự, ngoại giao, Liên bang Nga đã từng bước tăng cường sức mạnh

4
quốc gia và vị thế quốc tế của mình. Từ một nước Nga hỗn loạn với một nền kinh tế
lạc hậu, nền chính trị rệu rã và quân sự bị thách thức nghiêm trọng, chính quyền
Tổng thống V.Putin đã vực dậy Liên bang Nga để trở thành một nước Nga tự tin
tiến bước trên con đường phát triển.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, để đạt được những thành công như
vậy, chính quyền Tổng thống V.Putin đã có những bước điều chỉnh các chính sách
của quốc gia một cách đúng đắn, kịp thời. Ngay sau khi trở thành quyền Tổng thống
Liên bang Nga tháng 12 năm 1999, V.Putin ra chỉ thị số 24 ngày 10/01/2000 phê
duyệt “Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga”. Văn kiện này là hệ thống các
quan điểm chính trị cơ bản trong chính sách của nhà nước Liên bang Nga về bảo
đảm an ninh cho cá nhân, xã hội và nhà nước, bảo vệ đất nước trước những mối đe
dọa từ bên ngoài và bên trong trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Chiến lược an ninh
quốc gia Liên bang Nga năm 2000 đã được sử dụng làm cơ sở hoạch định chính
sách đối nội và đối ngoại của nhà nước Liên bang Nga dưới chính quyền Tổng
thống V.Putin nhằm nâng cao nội lực cũng như ảnh hưởng của Liên bang Nga trên
trường quốc tế khi bước vào thế kỷ XXI.
Cũng trong giai đoạn Tổng thống V.Putin lãnh đạo nước Nga, quan hệ hợp
tác giữa Liên bang Nga với Việt Nam đã có những thay đổi tích cực. Sau một thời
kỳ ngưng trệ do hậu quả của việc Liên Xô tan rã, với những điều chỉnh trong các
chính sách của chính quyền Tổng thống V.Putin, quan hệ với Việt Nam đã dần phục
hồi và có những bước phát triển tốt đẹp. Trước nhiều biến động phức tạp của tình
hình thế giới, hai nước đều đang tiếp tục tiến hành các biện pháp cải cách trên mọi
lĩnh vực cả đối nội và đối ngoại. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường quan hệ đối tác

Đây là đề tài mà các nhà nghiên cứu Việt Nam luôn quan tâm, nghiên cứu, phân
tích xuất phát từ vị thế của Liên bang Nga trên trường quốc tế cũng như từ vị trí của

6
mối quan hệ Việt - Nga, Nga - Việt trong chính sách của hai nước. Đặc biệt, những
năm đầu thế kỷ XXI, trước những thay đổi của nước Nga dưới chính quyền Tổng
thống V.Putin, các nhà nghiên cứu đã tiếp tục lựa chọn đề tài về nước Nga giai đoạn
này và con người của V.Putin nhằm bổ sung thêm vào kho kiến thức về Liên bang
Nga qua các thời kỳ lịch sử.
Có thể chia những nghiên cứu xoay quanh nhân vật V.Putin theo hai nhóm:
Nhóm thứ nhất là những nghiên cứu về Tổng thống V.Putin như các cuốn
sách Putin - Sự trỗi dậy của một con người của Trương Dự (2006), Bản lĩnh Putin
của Đường Anh Hào - Triệu Anh Ba (2008), Các đời Tổng thống Nga của Leonid
Mlechin (2008)… Những tác phẩm này tìm hiểu về tiểu sử của V.Putin, về con
đường từ một nhà tình báo KGB đến với cương vị Thủ tướng rồi Tổng thống Liên
bang Nga và cũng đề cập đến một số chính sách quan trọng trong những năm lãnh
đạo đất nước của Tổng thống V.Putin. Các nghiên cứu đã cho chúng ta thấy được
con người từ tính cách, sở thích, bản lĩnh đến con đường sự nghiệp của V.Putin.
Nhóm thứ hai là những nghiên cứu về các chính sách của Liên bang Nga và
về tình hình mọi mặt của nước Nga dưới chính quyền Tổng thống V.Putin. Có thể
kể đến các cuốn sách: Nước Nga trước thềm thế kỷ XXI của A.P. Côchétcốp
(2004), Chuyển đổi kinh tế thị trường của Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ
XXI của Nguyễn Đình Hương (2005), Nước Nga trên trường quốc tế hôm qua, hôm
nay và ngày mai của Hà Mỹ Hương (2006), Chiến lược đối ngoại của các nước lớn
và quan hệ với Việt Nam của Nguyễn Xuân Sơn - Nguyễn Văn Du (đồng chủ biên)
(2006), Liên bang Nga trên con đường phát triển những năm đầu thế kỷ XXI của
Nguyễn An Hà (chủ biên) (2008), Kinh tế - xã hội Liên bang Nga thời kỳ hậu Xô
viết của Nguyễn Thị Huyền Sâm (2009), Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đăng trên
các tạp chí của Nga cũng như trên các tạp chí của Việt Nam: Россия 2004 của
Примаков Е., Русская Газета (№ 17/1 - 2005), Россия в 2000 - 2004 годах на


8
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang
Nga dưới Chính quyền Tổng thống V.Putin.
Luận văn sẽ trình bày, phân tích các nội dung sau:
- Những nhân tố tác động tới việc hình thành Chiến lược an ninh quốc gia
Liên bang Nga năm 2000.
- Nội dung văn kiện “Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga” được công
bố kèm theo chỉ thị số 24 ngày 10/01/2000, với các nội dung cơ bản như: vị thế
quốc tế và các lợi ích quốc gia của Liên bang Nga; những mối đe dọa đối với an
ninh quốc gia cùng các chính sách của nhà nước và việc thiết lập hệ thống thực hiện
các chính sách đó nhằm đảm bảo an ninh quốc gia Liên bang Nga.
- Việc thực thi và đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược an ninh quốc gia
dưới chính quyền Tổng thống V.Putin cũng như những điều chỉnh trong thời kỳ
Tổng thống kế nhiệm - Dmitri Medvedev (D.Medvedev).
Đồng thời, luận văn cũng phân tích tác động của việc thực thi Chiến lược an
ninh quốc gia Liên bang Nga tới mối quan hệ giữa Liên bang Nga với một số đối
tác và quan hệ với Việt Nam trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống V.Putin.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tìm hiểu Chiến lược an ninh quốc gia Liên
bang Nga dưới chính quyền Tổng thống V.Putin 2000 - 2008. Tuy nhiên để làm rõ
hơn Chiến lược an ninh quốc gia trong giai đoạn này, luận văn sẽ phân tích tình
hình thế giới, khu vực và Liên bang Nga từ những năm cuối thế kỷ XX.
Từ những phân tích trên, luận văn mong muốn trả lời câu hỏi: Nước Nga
dưới chính quyền Tổng thống V.Putin đã có những thành công và hạn chế gì trong
việc bảo vệ an ninh quốc gia để góp phần quan trọng vào việc nâng cao nội lực
cũng như vị thế trên trường quốc tế?

đoạn sau khi kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống của V.Putin.
* * *
Với tất cả những nghiên cứu, phân tích được trình bày, luận văn “Chiến lược
an ninh quốc gia Liên bang Nga dưới chính quyền Tổng thống V.Putin 2000 -
2008” mong muốn trở thành một tài liệu tham khảo cho bạn đọc rộng rãi có quan
tâm tới Liên bang Nga cũng như tới mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia Việt
Nam và Liên bang Nga trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

11
CHƢƠNG 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC HÌNH THÀNH
CHIẾN LƢỢC AN NINH QUỐC GIA LIÊN BANG NGA
DƢỚI CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG V.PUTIN 2000 - 2008

Chiến lược an ninh quốc gia phản ánh lợi ích của quốc gia - dân tộc đồng thời
là công cụ bảo vệ lợi ích đó, là đường lối chỉ đạo việc huy động và phối hợp mọi
nguồn lực quốc gia, mọi điều kiện khách quan bên trong và bên ngoài để bảo vệ lợi
ích quốc gia, chủ yếu là đảm bảo an ninh, môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát
triển, bảo đảm khẳng định và nâng cao địa vị của nước đó trên trường quốc tế.
Để hình thành chiến lược an ninh quốc gia, bất kỳ một quốc gia nào cũng
phải xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực cũng như dựa trên thực lực của đất
nước và quan điểm lãnh đạo của giới cầm quyền.
Tháng 12 năm 1997, Tổng thống B.Yeltsin đã phê duyệt “Học thuyết an ninh
quốc gia Liên bang Nga” với nội dung bao gồm các định hướng, nguyên tắc chính
của nền chính trị quốc gia, làm cơ sở cho việc tổ chức triển khai các kế hoạch thuộc
lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước, quốc tế lúc
bấy giờ cùng với sự suy giảm uy tín của Tổng thống B.Yeltsin và Chính phủ của
ông, văn kiện này đã mất đi vai trò là văn kiện chủ đạo trong việc lãnh đạo đất nước
thoát khỏi khó khăn về mọi mặt và tìm lại vị trí xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.
“Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga” được Tổng thống V.Putin phê

nhằm xây dựng một trật tự thế giới mới do Mỹ đứng đầu.
Bên cạnh một siêu cường - nước Mỹ, vũ đài chính trị quốc tế còn ghi nhận sự
nổi lên của một Liên minh Châu Âu (EU) với cố gắng ổn định và đẩy mạnh liên kết

13
để phát triển, một Đông Á với Nhật Bản vẫn tiếp tục phát triển, Trung Quốc, Hàn
Quốc đang trên đà đi lên như vũ bão, Ấn Độ như một ẩn số khó dự đoán… và một
nước Nga với rất nhiều kế thừa và cả gánh nặng từ Liên Xô đang từng bước khắc
phục những khó khăn để cố gắng vươn mình tìm lại vị trí xứng đáng trên trường
quốc tế.
Trong bối cảnh đó, quan hệ lợi ích và sự nảy sinh mâu thuẫn lợi ích giữa các
nước lớn diễn biến đầy phức tạp: Quan hệ Trung - Mỹ nhiều lúc căng thẳng, có lúc
dịu đi xung quanh vấn đề Đài Loan; quan hệ Nga - Nhật về tranh chấp quần đảo
Kurin; thái độ khác nhau của các nước lớn về vấn đề hai miền Triều Tiên và vấn đề
hạt nhân ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên; vấn đề tranh chấp Biển
Đông,.v.v. [23, tr. 35]. Mặt khác, các nước lớn lại cần hợp tác với nhau. Các quan
hệ tay đôi như Mỹ - Trung, Mỹ - Nga, Nga - Trung, Trung - Nhật, Nhật - Nga,
Trung - Ấn, Mỹ - Ấn, Ấn - Nga, các quan hệ tay ba như Mỹ - Nhật - Trung, Mỹ -
Nhật - Nga,…đan xen nhau, trong đó có những quan hệ đồng minh, đối tác và đối
thủ, hợp tác và cạnh tranh, kiềm chế và tiếp xúc.
Với bối cảnh chính trị thế giới như vậy, hầu như các nước, đặc biệt là các
nước lớn đều có sự thay đổi căn bản hoặc điều chỉnh với mức độ lớn các chiến lược,
chính sách quốc gia của mình. Đây cũng chính là việc mà Tổng thống V.Putin đã
làm với nước Nga trước những biến động chung của thời đại.
Việc hoạch định chiến lược của các quốc gia còn chịu sự chi phối bởi những
xu hướng phát triển của kinh tế thế giới và các khu vực. Những xu hướng lớn của
nền kinh tế thế giới từ cuối thế kỷ XX là toàn cầu hóa kinh tế, tự do hóa thƣơng
mại, những tiến bộ vƣợt bậc về khoa học và công nghệ và tác động của chúng
đối với kinh tế thế giới hay sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức.
Hiện nay, với các xu hướng này, các quốc gia có thể nhanh chóng hội nhập và tiếp

thành Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga, Tổng thống V.Putin hướng tới

15
ổn định an ninh kinh tế, ngày càng nâng cao địa vị kinh tế của nước Nga trong
tương quan giữa các nước lớn.
Trong quá trình hoạch định chiến lược quốc gia, các quốc gia còn phải chú
trọng tới các nhân tố như tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là dầu mỏ), tài nguyên
chất xám.v.v. Từ những năm cuối thế kỷ XX và trong nhiều thập niên tới, cuộc
cạnh tranh để giành giật tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên chất xám còn diễn ra
và ngày càng gay gắt hơn. Bên cạnh đó, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột
vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, chạy đua vũ trang,
hoạt động can thiệp, lật đổ còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày
càng tăng và khó dự đoán. Cục diện thế giới là bất ổn, không thái bình, căng thẳng,
luôn xáo trộn với sự bùng nổ của các cuộc chiến tranh, xung đột cục bộ dưới nhiều
hình thức, cả về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống [32, tr. 64]. Đồng
thời, thế giới cũng phải đối diện với nhiều nguy cơ gây bất ổn khác. Chủ nghĩa
thực dân cũ đã bị sụp đổ lại gia tăng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly
khai dân tộc, phân biệt chủng tộc và cực kỳ dã man là chủ nghĩa phát xít mới,
chủ nghĩa khủng bố. Nạn buôn lậu vũ khí, các tổ chức maphia và tội phạm
quốc tế, nạn ô nhiễm môi trƣờng và các dịch bệnh lạ.v.v cũng ngày càng gia
tăng trên phạm vi toàn cầu. Những nguy cơ này đang trở thành mối đe dọa lớn đối
với hòa bình, an ninh và sự phát triển bền vững của toàn nhân loại.
Những đặc điểm tình hình thế giới như vậy có tác động tới tất cả các quốc gia
trên thế giới, đòi hỏi các quốc gia đều phải có sự điều chỉnh các chiến lược, chính
sách cho phù hợp với tình hình mới. V.Putin phê duyệt Chiến lược an ninh quốc gia
Liên bang Nga với mục đích đưa đất nước từng bước khắc phục khó khăn, ổn định
tình hình trong nước và hướng tới vị trí xứng đáng trong một trật tự thế giới mới.
1.2 Những xung đột trong Cộng đồng các quốc gia độc lập
Ra đời tháng 12 năm 1991, Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) gồm
nhiều nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây được coi như là sự cứu vãn việc sụp

Một điểm nóng nữa trong khu vực chính là vùng Kavkaz. Vì đây là địa bàn
chiến lược quan trọng đối với cả Nga và các nước phần châu Á của Liên Xô, là cửa
ngõ đi vào thế giới đạo Hồi, nên ở đây có nhiều nước tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào các xung đột (Ví dụ như xung đột giữa Azerbaijan và Armenia ở Nargonoi
Karabakh, xung đột giữa Abkhazia đòi độc lập với Gruzia, giữa Chechnya muốn
tách khỏi Liên bang Nga…). Do vậy, việc giải quyết xung đột ở khu vực này trở
nên vô cùng phức tạp và luôn được sự quan tâm của các quốc gia.
Sự mất ổn định trong SNG rõ ràng còn lâu dài và vai trò của Liên bang Nga
thực sự quan trọng trong việc giảm thiểu phạm vi và kiềm chế xung đột trong
những giới hạn nhất định. Đó cũng chính là mong muốn của nước Nga được thể
hiện trong việc hoạch định các chiến lược quốc gia của mình với mục đích vì một
nền hòa bình chung trong không gian hậu Xô Viết.
1.3 Khó khăn chồng chất trong nƣớc
Sau khi Liên Xô sụp đổ, Liên bang Nga là quốc gia kế thừa chủ yếu Liên Xô
với 70% lãnh thổ, 61% dân số, 70% ngoại thương, 60% công nghiệp, 90% dầu khí,
70% lực lượng quân sự, 80% kho vũ khí hạt nhân và 10/17 nhà máy điện hạt nhân
[20, tr. 16]. Ngoài ra, Liên bang Nga còn nhanh chóng kế thừa quyền lợi và nghĩa
vụ của Liên Xô trên tất cả các bình diện. Phương Tây và các nước lớn cũng tiếp
nhận quy chế Liên bang Nga với tư cách là quốc gia kế tục Liên Xô, mà trước hết là
chuyển giao cho nước Nga chiếc ghế Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên
hợp quốc. Và chỉ đến tháng 1 năm 1992, tức là rất nhanh sau khi Liên Xô tan rã, đã
có 131 nước trên thế giới công nhận nước Nga, còn các Đại sứ của Liên Xô được
thừa nhận là Đại sứ Nga mà không cần chuyển giao đặc nhiệm - trao lại ủy nhiệm
thư [22, tr. 10].
Tuy nhiên, trong thực tế, những năm cuối của thế kỷ XX, Liên bang Nga chỉ
được biết đến với tư cách là một “quốc gia hạng hai” cùng hàng loạt các khó khăn
chồng chất về nhiều mặt.

18
* Về chính trị

bang Nga nhiệm kỳ hai đến tháng 6 năm 2000. Trong nhiệm kỳ hai này, B.Yeltsin
đã làm nhiều việc để xoa dịu mâu thuẫn giữa các lực lượng chính trị nhưng đều
không đạt được ý muốn. Lực lượng cánh tả, lực lượng đối lập vẫn tiếp tục đấu tranh
quyết liệt đòi thay đổi đường lối, luận tội và phế truất Tổng thống. Bên cạnh đó là
cuộc tranh giành giữa các đảng phái và đặc biệt là mâu thuẫn giữa chính quyền
trung ương với các chủ thể của Liên bang. Các khu vực, các nước Cộng hòa tự trị
đấu tranh với chính quyền trung ương để đòi quyền tự chủ, tự quyết lớn hơn hoặc
đòi ly khai. Nóng bỏng và phức tạp nhất là vùng Bắc Kavkaz với vấn đề Chechnya.
Trước tình hình tiềm ẩn nhiều nhân tố bất trắc như vậy, Tổng thống B.Yeltsin
đã tuyên bố từ chức trước thời hạn 6 tháng và đề nghị V.Putin, lúc đó là Thủ tướng
lên nắm quyền Tổng thống Liên bang Nga. Sau cuộc bầu cử tổng thống nhiệm kỳ
III ngày 26/3/2000, V.Putin đã thắng cử và trở thành Tổng thống, chính thức mở ra
một giai đoạn mới của đất nước Liên bang Nga.
* Về kinh tế
Đặc điểm của nền kinh tế Liên bang Nga vào thập niên 90 của thế kỷ XX là
bất ổn với hàng loạt các chỉ số lạm phát cao, tăng trưởng liên tục ở mức âm, các
ngành sản xuất đều giảm sút, thiếu hụt triền miên tư liệu sản xuất và các mặt hàng
thiết yếu phục vụ nhu cầu trong nước như lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng.
Căn nguyên của những bất ổn đó có nguồn gốc từ thời kỳ Xô viết trước đây.
Hậu quả của thời kinh tế bao cấp và 5 năm cải tổ thời Gorbachev (1986 - 1991) đã
để lại cho Liên bang Nga một di sản nặng nề trên mọi mặt của nền kinh tế. Năm
1991, nước Nga bắt tay vào cải cách kinh tế trong điều kiện hết sức khó khăn.
Chương trình cải cách kinh tế “Liệu pháp sốc”, thả nổi giá cả, tư nhân hóa ồ ạt, cơ
cấu lại nền kinh tế, tự do hóa kinh tế, bãi bỏ kiểm soát hối đoái, đã bị thất bại thảm

20
hại. Thêm vào đó, xung đột vũ trang và khủng hoảng chính trị càng làm cho nền
kinh tế nước Nga tiếp tục suy giảm.
Mặt khác, việc Liên Xô tan rã làm cho quan hệ liên kết kinh tế giữa nước
Nga với các nước Cộng hòa Xô viết trước đây - vốn là mối liên kết của một nền

doanh với các nhóm tội phạm có tổ chức. Hoạt động kinh tế ngầm còn có sự câu kết
chặt chẽ giữa các nhà chính trị và thương nhân ở các khu vực thuộc Liên bang. Sự
phát triển của kinh tế ngầm làm tăng thất thu ngân sách và cũng là nguồn gốc của
tình trạng chảy vốn ra nước ngoài với số lượng lớn - khoảng 20 tỷ đôla Mỹ mỗi
năm chủ yếu để tẩu tán tài sản hoặc để rửa tiền.
Thêm vào đó, nước Nga phải đối mặt với một tình hình tài chính phức tạp, nợ
nước ngoài chồng chất. Vào thời điểm này, Liên bang Nga nợ các nước phương Tây
hơn 150 tỷ đôla Mỹ và vay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) gần 20 tỷ đôla Mỹ.
Có thể thấy rằng, nước Nga đứng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày càng
xa so với các nước công nghiệp phát triển. Và theo những chỉ số khách quan của
tiềm lực kinh tế (GDP, tăng trưởng GDP/năm, GDP/người), Liên bang Nga đang bị
đẩy vào số các “quốc gia hạng hai” và rơi vào vị trí bất lợi trong phân công lao
động quốc tế.
* Về xã hội
Khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế và công cuộc cải cách kinh tế
bất thành đã tác động sâu sắc đến tình hình xã hội Liên bang Nga những năm cuối
thế kỷ XX. Đây là giai đoạn mà đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, giáo dục và
khoa học xuống cấp nghiêm trọng, xuất hiện nhiều xung đột dân tộc dẫn đến hiện
tượng đòi ly khai khỏi nhà nước Liên bang.
Trong tiến trình cải cách, tình trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội Liên
bang Nga ngày càng lớn. Sự chênh lệch thu nhập năm 1992 không vượt quá 4,5 lần
nhưng đến năm 1993 đã tăng lên 7,8 lần và đến năm 1995 là 10 lần. Việc thực hiện

22
tư nhân hóa một cách ồ ạt các doanh nghiệp nhà nước đã dẫn đến tình trạng thất
nghiệp tăng nhanh ở Liên bang Nga. Số người thất nghiệp năm 1993 chiếm 5% lực
lượng lao động, năm 1996 chiếm 8,9% (số liệu thống kê của Tổ chức Lao động
quốc tế). Đến năm 1999, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, tỷ lệ
thất nghiệp tăng, chiếm tới 14,2% lực lượng lao động (số liệu của Ủy ban Thống kê
nhà nước Liên bang Nga) [19]. Đa phần dân số ở tầng lớp bình dân và tầng lớp dưới

của nhiều ngành học cũng sút kém nghiêm trọng. Một phần nguyên nhân của tình
trạng này là do mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục và khoa học mà khoa học thời
kỳ này đang chịu thiệt hại khủng khiếp do nạn “chảy máu chất xám”. Trong thời
gian từ 1992 - 1996, số lượng các nhà khoa học ra nước ngoài tương đối lớn, dao
động ở mức 7000 - 40.000 người. Nhiều nghiên cứu viên bỏ ra nước ngoài làm việc
lâu dài hoặc làm việc theo hợp đồng. Trong số đó có cả những nhà khoa học đầu
ngành đã từng có đóng góp lớn cho nền khoa học Liên Xô trước kia và khoa học
Liên bang Nga sau này, nhất là trong lĩnh vực khoa học cơ bản (vật lý lý thuyết, hóa
học…). Nạn “Chảy máu chất xám” đã làm giảm hẳn số lượng cán bộ khoa học
trong các cơ sở nghiên cứu (từ 1991 đến 1999, số lượng cán bộ nghiên cứu giảm
41,4%). Điều này đã làm suy thoái tiềm năng trí tuệ của Liên bang Nga và dẫn đến
sự suy thoái về kỹ thuật, suy giảm khả năng giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng.
Ngoài ra, Liên bang Nga vốn là một quốc gia rộng lớn, đa dân tộc với lịch sử,
văn hóa phong phú, đa dạng nên việc duy trì một trật tự xã hội ổn định trên toàn
Liên bang sau hàng loạt các biến động chính trị, xã hội vào giai đoạn này là hết sức
khó khăn. Các mâu thuẫn về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo … bùng phát là nguy cơ tiềm
ẩn để chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa khủng bố xuất hiện. Để giải quyết vấn đề này,
Chính phủ Liên bang Nga đã tiến hành các cuộc chiến tranh nhưng hậu quả của nó
rất nặng nề. Những thương vong, mất mát của quân đội, dân thường và cuộc sống

Trích đoạn Đảm bảo an ninh biên phòng, thông tin, quân sự và phòng chống tội phạm quốc tế Đảm bảo an ninh quốc gia trong lĩnh vực đối ngoạ Hệ thống đảm bảo an ninh quốc gia Liên bang Nga THỰC THI CHIẾN LƢỢC AN NINH QUỐC GIA LIÊN BANG NGA DƢỚI CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG V.PUTIN 2000 Những vấn đề còn tồn tạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status