mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh chống các tội xâm phạm ANQG là nội dung chủ yếu của
cuộc đấu tranh chống phản cách mạng. Yêu cầu đặt ra trong cuộc đấu tranh
này là làm thất bại âm mu và hoạt động của các thế lực thù địch ở trong và
ngoài nớc nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ sự tồn tại và vững mạnh của chế độ XHCN và Nhà nớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, từ khi chính quyền thuộc về
nhân dân (8/1945) cho đến nay, Đảng và Nhà nớc ta luôn coi sự nghiệp bảo
vệ ANQG là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dới sự lãnh
đạo của Đảng. Nhà nớc cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và hoàn
thiện các văn bản pháp luật quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội
xâm phạm ANQG phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách
mạng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh này.
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất
nớc, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng XHCN và đã
giành đợc những thành tựu to lớn, đa đất nớc ta thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng về kinh tế - xã hội, giữ vững thế ổn định và phát triển. Tuy nhiên,
bên cạnh những thành tựu đạt đợc, đã nảy sinh không ít tiêu cực trong đời
sống xã hội cũng nh những khó khăn, thách thức mới. Chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô sụp đổ đã tác động mạnh vào t tởng, tình cảm,
niềm tin của cán bộ và nhân dân ta. Các thế lực chống cộng, chống CNXH
đang lợi dụng cơ hội này để ráo riết hoạt động hòng làm tan rã từ bên
trong, tiến đến xóa bỏ chế độ XHCN ở nớc ta. Trong tình hình đó, nhiệm
vụ bảo vệ ANQG, giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trờng thuận lợi để
nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
5
nớc, đa đất nớc ta phát triển vững chắc theo định hớng XHCN, là một
nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Mặt khác thực tiễn đấu tranh
phòng chống các tội xâm phạm ANQG ở nớc ta trong thời gian qua đã đặt
từng khía cạnh của vấn đề hoặc từ các góc độ khác nhau của đề tài này
nh hoàn thiện pháp luật hình sự, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp
luật v.v... Cho đến nay, cha có một công trình chuyên khảo nào dành cho
việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện từ lịch sử vấn đề đến quy
định của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng, cũng nh đồng thời từ các
góc độ luật hình sự và tội phạm học để từ đó đề ra các biện pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội
phạm này.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận
án
- Mục đích
Trớc yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm
ANQG, mục đích của luận án là làm sáng tỏ một cách có hệ thống những
vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định các tội xâm phạm ANQG, đánh giá
tình hình tội phạm và thực tiễn đấu tranh phòng chống các loại tội phạm
này đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các
tội xâm phạm ANQG.
- Nhiệm vụ
Với mục đích nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau đây:
- Khái quát sự hình thành và phát triển của chế định các tội xâm
phạm ANQG trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ 1945 đến nay.
- Nghiên cứu từ khía cạnh so sánh pháp luật về chế định các tội
xâm phạm ANQG trong luật hình sự một số nớc trên thế giới.
7
- Làm rõ khái niệm trách nhiệm hình sự, ANQG và các tội xâm
phạm ANQG; chính sách xử lý của Nhà nớc ta với tội xâm phạm ANQG.
- Làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc trng của các tội xâm phạm
ANQG theo luật hình sự hiện hành của Nhà nớc ta và hình phạt đối với các
tội này.
- Phân tích và đánh giá tình hình các tội xâm phạm ANQG ở Việt
các tội xâm phạm ANQG.
Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án thể hiện trong
các điểm sau:
1. Đã khái quát đợc một cách có hệ thống sự hình thành và phát
triển chế định các tội xâm phạm ANQG trong luật hình sự Việt Nam từ
năm 1945 đến nay; đã phân tích và đánh giá đợc ý nghĩa và tác dụng của
chế định này trớc yêu cầu đấu tranh bảo vệ ANQG qua các giai đoạn cách
mạng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi cả nớc đang đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, trớc âm mu
"diễn biến hòa bình" và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong
và ngoài nớc đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
2. Đã phân tích và so sánh chế định các tội xâm phạm ANQG của
pháp luật hình sự một số nớc trên thế giới để rút ra những giá trị hợp lý trong
lập pháp hình sự, bổ sung cho những luận cứ và giải pháp đợc đề xuất trong
luận án.
3. Luận án đi sâu phân tích thực trạng tình hình tội phạm, công tác
đấu tranh với các tội xâm phạm ANQG ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm
1999; đa ra những nhận xét, đánh giá về cái đợc và cha đợc trong đấu tranh
9
phòng chống các tội xâm phạm ANQG, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội này.
4. Đề xuất đợc nhóm các giải pháp mang tính đồng bộ và toàn diện
nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm ANQG.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những phân tích, đánh giá và kiến nghị nêu trong luận án có ý
nghĩa thiết thực về lý luận và thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng
chống các tội xâm phạm ANQG, góp phần xây dựng nhận thức đầy đủ và
đúng đắn về chế định các tội xâm phạm ANQG, góp phần đổi mới nội
dung và phơng pháp đấu tranh phòng, chống các tội phạm này trong tình
hình mới.
nêu trên, chúng ta mới thấy rõ vai trò, chức năng nhiệm vụ của pháp luật
hình sự trong từng giai đoạn lịch sử, mới có thể hiểu đầy đủ, đúng đắn nội
dung của các qui phạm và chính sách hình sự của nhà nớc. Lịch sử lập pháp
11
hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm ANQG từ năm 1945 đến trớc khi
pháp điển hóa hình sự năm 1985, có thể chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1945 - 1960
Cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân ta thực sự trở thành chủ nhân
của đất nớc và làm chủ vận mệnh của mình. Ngay từ những ngày chính
quyền còn đang "trứng nớc", ở miền Bắc, nhân dân ta phải chống chọi với
hậu quả của nạn đói, do chính sách vơ vét đến kiệt quệ của Nhật - Pháp và
hậu quả của lụt lội gây ra, mặt khác phải đối phó với 20 vạn quân Tởng và
bè lũ tay sai lợi dụng danh nghĩa đồng minh hòng thực hiện âm mu thủ tiêu
chính quyền cách mạng; ở miền Nam, thực dân Anh và quân đội Pháp kéo
đến chiếm lại Nam Bộ, mu toan dùng địa bàn này làm bàn đạp chiếm lại
toàn bộ nớc ta.
Trớc âm mu thâm độc của kẻ thù, nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân
ta là sử dụng mọi lực lợng, biện pháp và hình thức đấu tranh để bảo vệ
chính quyền cách mạng, chống lại những âm mu đen tối của kẻ thù bên
trong và các thế lực đế quốc. Xét trên phơng diện pháp luật hình sự, việc
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định các tội xâm phạm
ANQG đợc Nhà nớc ta rất chú trọng và luôn luôn có những bổ sung kịp
thời trớc những đòi hỏi khách quan của tình hình và nhiệm vụ chung của sự
nghiệp cách mạng. Có thể thấy rõ nhận xét này qua tìm hiểu các văn bản
quy phạm pháp luật hình sự đợc ban hành trong giai đoạn này.
Ngay trong tháng 9/1945, lực lợng Liêm phóng đã kịp thời tham mu
cho Đảng, Nhà nớc ban hành Sắc lệnh số 08 ngày 5/9/1945 về giải tán
những đảng phái phản động. Sắc lệnh nêu rõ: "Xét theo các cuộc điều tra
của Ty Liêm phóng Bắc Bộ, Đại việt quốc gia xã hội đảng đã t thông với
13
Để thực hiện nhiệm vụ đó, trong hoàn cảnh đang gặp muôn vàn khó
khăn, Nhà nớc ta đã quan tâm và coi trọng xây dựng các cơ sở pháp lý cho
việc trấn áp kẻ thù. Trên cơ sở rút kinh nghiệm hoạt động của các Tòa án
quân sự từ tháng 9/1945, Chủ tịch chính phủ đã ra Sắc lệnh số 21 ngày
14/2/1946 về tổ chức Tòa án quân sự. Điều 2 Sắc lệnh 21 quy định: "Tòa án
quân sự xét xử tất cả những ngời nào phạm một việc gì sau hay trớc ngày
19/8/1945 có phơng hại đến nền độc lập của nớc Việt Nam dân chủ cộng
hòa". Điều 8 của Sắc lệnh này đã quy định cụ thể: "Tòa án quân sự có thể
tuyên án: 1- Tha bổng; 2- Tịch thu một phần hay tất cả tài sản; 3- Phạt tù từ 1
năm đến 10 năm; 4- Phạt khổ sai từ 5 năm đến 20 năm; 5- Xử tử. Tòa án có
thể vừa tuyên phạt giam hay phạt tử hình, vừa xử tịch thu một phần hay tất
cả tài sản của tội nhân...".
Sắc lệnh số 21 này cho thấy: nhằm bảo vệ các thành quả cách
mạng, Nhà nớc đã cho phép vận dụng nguyên tắc hồi tố để trừng phạt
những tên tay sai đắc lực nhất của thực dân Pháp, phát xít Nhật đã có những
hành vi phá hoại nghiêm trọng sự nghiệp đấu tranh giành tự do và độc lập
của dân tộc ta. Quy định thêm hình phạt khổ sai thực chất là hình phạt tù từ
5 năm đến 20 năm để việc quyết định hình phạt đợc linh hoạt phù hợp với
từng đối tợng cụ thể.
Đi đôi với việc trấn áp bọn việt gian phản động, Nhà nớc ta đã ban
hành một loạt Sắc lệnh qui định việc trừng trị những hành vi xâm phạm
nghiêm trọng nền kinh tế, tài chính, trật tự, trị an xã hội. Ngày 9/10/1945,
Sắc lệnh số 45 về cấm xuất khẩu thóc gạo đợc ban hành; Điều 1 của Sắc
lệnh quy định: "Từ ngày ký Sắc lệnh này cho đến khi có lệnh mới, khắp
toàn cõi Việt Nam, cấm hẳn việc xuất cảng ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô,
đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc [3, tr. 145]. Tiếp sau đó, ngày
25/2/1946, Nhà nớc ban hành tiếp Sắc lệnh số 26 về trừng trị tội phá hoại
công sản, điều 1 quy định:
14
nghiên cứu của đề tài luận án.
Có thể rút ra nhận xét, thời kỳ này các nhà làm luật đã ý thức rõ sự
phân biệt giữa nhóm các tội xâm phạm ANQG có mục đích chống chính
quyền nhân dân với những hành vi khác xâm phạm ANQG nhng không có
mục đích này. Bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật hình sự mới đ-
ợc ban hành, nhà nớc dân chủ mới còn cho phép áp dụng một số điều
khoản của pháp luật hình sự cũ phục vụ cho ổn định trật tự xã hội mới
trong lúc cha xây dựng kịp các văn bản mới với lu ý rằng việc áp dụng một
số điều khoản đợc quy định trong An Nam Hoàng việt hình luật và Bộ hình
luật tu chính phải đảm bảo điều kiện là nội dung không trái với nguyên tắc
độc lập của nớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa.
Ngày 19/12/1946, toàn quốc bớc vào cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp. Với chính sách rất thâm độc là "dùng ngời Việt đánh ngời Việt,
lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" thực dân Pháp đã sử dụng bọn phản động,
gian ác nhất trong các đảng phái phản động, trong bọn phản động lợi dụng
Thiên chúa giáo, Phật giáo, bọn địa chủ, cờng hào gian ác và bọn lu manh,
côn đồ để chống phá cách mạng, tăng cờng hoạt động do thám nhằm tiêu
diệt bộ phận đầu não của cách mạng, tiêu diệt lực lợng vũ trang nhân dân.
Về kinh tế, thực dân Pháp tích cực phá hoại kết cấu hạ tầng ở vùng kháng
chiến, tung nhiều hàng ngoại hóa vào vùng tự do để lũng đoạn thị trờng.
Trớc tình hình đó, từ ngày 15 đến 17/1/1948, Hội nghị Trung ơng Đảng mở
rộng đã ra Nghị quyết chuyển cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới. Nghị
quyết đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ
chống chính quyền bù nhìn và phá "hội tề". Ngày 19/1/1948, Ban Thờng vụ
Trung ơng Đảng ra chỉ thị về "phá hội tề" đã xác định chủ trơng đối với hội
tề cũng nh đối với mọi tổ chức bù nhìn là phải tìm hết cách phá, đồng thời
củng cố cơ quan, chính quyền cách mạng ngay trong lòng địch. Thời kỳ này,
16
Nhà nớc đã ban hành nhiều Sắc lệnh và chính sách nhằm củng cố chính
quyền dân chủ nhân dân trong các vùng tự do, đẩy mạnh công cuộc kháng
"Pháp mua chuộc công an làm gián điệp", căn cứ vào chỉ thị của Đảng, lực
lợng bảo vệ chính trị đã thực hiện công tác chống nội gián trong các cơ
quan kháng chiến, rà soát nội bộ, bảo vệ lực lợng, ngăn chặn các cơ quan
gián điệp Pháp đánh ngời vào công an. Những tên gián điệp bị phát hiện ở
thời kỳ này, đều bị xét xử về tội phản quốc.
Nhà nớc còn ban hành một số văn bản pháp luật quy định trách
nhiệm hình sự về những tội phạm mà sau này trong bộ luật hình sự năm
1985 đợc gọi là các tội khác xâm phạm ANQG. Ví dụ Sắc lệnh số 180 ngày
20/12/1950 về việc trừng trị các tội phá hoại tiền tệ, phá hoại giấy bạc Việt
Nam quy định:
- Những ngời đầu cơ tiền tệ làm giấy bạc giả, lu hành
giấy bạc giả, tàng trữ hay lu hành những giấy bạc của địch hay đã
có lệnh cấm hoặc có những hành động cố tình phá hoại nền tài
chính quốc gia sẽ bị truy tố trớc Tòa án quân sự.
- Những ngời không chịu tiêu những tiền của Chính phủ
đã cho phép lu hành hoặc từ chối không tiêu số tiền rách từ 100
đồng trở lên sẽ bị phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm và tiền từ 500
đồng đến 10.000 đồng hoặc một trong hai hình phạt ấy.
Những vụ phạm pháp nói trên trong điều này thuộc thẩm
quyền của Tòa án thờng [3, tr. 132].
Năm 1953, tình hình và nhiệm vụ cụ thể của cách mạng có những
thay đổi nhất định, trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh
chống bọn phản cách mạng, Nhà nớc ta đã ban hành Sắc lệnh số 133 ngày
20/1/1953 qui định trừng trị những tội phạm xâm hại đến an toàn nhà nớc,
đối nội và đối ngoại. Khái niệm "những ngời phạm một việc gì... có phơng
18
hại đến nền độc lập của nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa..." đợc quy định
trong Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 đợc thay bằng khái niệm xâm phạm an
toàn Nhà nớc về đối nội và đối ngoại. Điều 1 của Sắc lệnh 133 qui định: "Để
củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến giành
- Mua, cớp, lấy cắp những tài liệu bí mật quốc gia.
- Làm dấu hiệu cho địch bắn phá hoặc lùng bắt cơ quan, cán bộ,
nhân dân.
- Làm liên lạc, đa th, tài liệu, tin tức, đa ngời cho địch (Điều 7).
6- Tội cản trở hoặc xúi giục, vận động nhân dân chống sự thực hiện
chủ trơng, chính sách và những cuộc vận động của Chính phủ và Mặt trận
vì mục đích phản quốc (Điều 8).
7- Tội phá hoại nền kinh tế, tài chính quốc gia vì mục đích phản
quốc qui định ở Điều 9 và Điều 10 gồm các hành vi cụ thể:
- Làm, tàng trữ, lu hành giấy bạc Việt Nam giả.
- Tàng trữ, hoặc lu hành giấy bạc của địch hay của bù nhìn đã bị cấm.
- Mua bán có tính chất phá giá, làm ảnh hởng đến vật giá ở thị trờng;
- Phá hoại tiền tệ;
- Mua thóc gạo và các thực phẩm khác tiếp tế cho địch hay để thiêu
hủy.
- Bỏ thuốc độc, gieo rắc vi trùng, sâu bọ hoặc dùng cách nào khác
gây bệnh, phá hoại lơng thực và mùa màng.
20
- Cớp, phá các công trình quân sự, thủy lợi, đê điều, kho tàng, công
xởng, cắt đờng dây điện tín, điện thoại, các phơng tiện giao thông vận tải.
8- Tội tuyên truyền cổ động cho địch biểu hiện cụ thể là:
- Phao tin đồn nhảm làm cho nhân dân hoang mang.
- Bất cứ cách gì để tuyên truyền cho chính sách, áp bức, bóc lột, lừa
phỉnh của địch.
- Đầu độc, trụy lạc nhân dân bằng văn hóa nô dịch.
- Tuyển mộ ngụy binh hay mộ phu cho địch.
- Dụ dỗ bộ đội, cán bộ, nhân dân bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo
địch (Điều 11).
9- Tội phá hoại sự đoàn kết kháng chiến của các dân tộc trong nớc,
các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, các đảng phái và đoàn thể dân chủ,
(Thông t số 281-Ttg ngày 22/6/1953) và chính sách tôn giáo (Thông t số
315-Ttg ngày 4/10/1953).
Thực hiện chủ trơng cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu
ruộng đất của địa chủ phong kiến và cơ sở chính trị, xã hội của chế độ đó ở
nớc ta là nhiệm vụ cấp bách thứ hai của cách mạng dân tộc dân chủ trong
thời kỳ này. Về pháp luật hình sự, Nhà nớc ta đã Ban hành Sắc lệnh số 89
ngày 22/5/1950 quy định việc trừng trị đối với những kẻ dùng thủ đoạn man
trá hoặc đầu cơ, bóc lột để cho vay. Ngày 4/12/1953, Nhà nớc ta đã thông qua
luật cải cách ruộng đất, tuyên bố tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực
dân Pháp và bọn đế quốc xâm lợc khác. Đối với địa chủ việt gian thì tùy tội
nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hay một phần ruộng đất, nông cụ, lơng thực
thừa, nhà cửa thừa hay tài sản khác, phần không tịch thu thì trng thu. Để đảm
bảo việc thi hành chính sách cải cách ruộng đất, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố
22
chính quyền nhân dân, đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng
lợi, Sắc lệnh số 151 đợc ban hành ngày 12/4/1953 quy định:
Trừng trị những địa chủ chống pháp luật trong khi và ở
những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất
nhằm mục đích giữ gìn tính mệnh và tài sản của nhân dân,
nghiêm cấm mọi hành động phá hoại của địa chủ không tuân luật
pháp, giữ gìn trật tự cách mạng, củng cố khối đoàn kết kháng
chiến của nhân dân [3, tr. 98].
Nội dung Sắc lệnh 151 có 5 điều quy định tội danh và hình phạt t-
ơng ứng, đó là:
1- Tội chống chính sách ruộng đất: dùng thủ đoạn trái phép để cỡng
bức nộp tô hoặc trả nợ cũ, lấy lại ruộng đất, nhà cửa, đuổi ngời làm công.
2- Tội phân tán tài sản, của cải, ruộng đất bằng cách cầm, bán, cho,
chia gia tài hoặc các thủ đoạn lén lút khác.
3- Tội phá hoại tài sản nh: giết hại hay làm bị thơng các súc vật,
phá hoại lơng thực, đồ đạc, nông cụ, cây cối, hoa màu, ruộng đất, công
những hành vi sau đây:
- Trộm cắp, lãng phí, làm hỏng, hủy hoại, cớp bóc tài sản của Nhà
nớc, của hợp tác xã và của nhân dân.
- Tiết lộ, đánh cắp, mua bán, do thám bí mật nhà nớc.
- Cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch kinh tế và văn hóa của
Nhà nớc bằng bất cứ cách nào nh: tuyên truyền chống chính sách, chống
kế hoạch, phao đồn tin bịa gây sự nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng;
hành động chống chính sách, chống kế hoạch; không làm hoặc làm sai công
việc mình phụ trách; làm gián đoạn công việc thờng xuyên; kìm hãm sự
24
phát triển của một bộ phận, một ngành hoạt động; gây mâu thuẫn, chia rẽ
nội bộ công nhân viên, cán bộ, xã viên hoặc chia rẽ nhân dân và cán bộ.
So sánh với các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đợc ban hành
trớc đó, nội dung cấu thành tội phạm của các tội đợc quy định tại các điều
2, 3, 4 của Sắc lệnh 267 có rất nhiều điểm tơng đồng với nhóm các tội uy
hiếp đến sự vững mạnh của chính quyền, trong đó dấu hiệu "mục đích phá
hoại" đã đợc thay thế cho dấu hiệu "mục đích phản quốc". Hơn nữa, trong
Sắc lệnh 267, các tội có "mục đích phá hoại" đã đợc phân biệt với các tội có
hành vi khách quan tơng tự nhng đợc thực hiện với mục đích khác nh tham
lam, t lợi (Điều 7), thiếu tinh thần trách nhiệm (Điều 10). Có thể nói, đây là
bớc tiến rõ rệt trong kỹ thuật lập pháp hình sự nớc ta qui định trách nhiệm
hình sự với các tội xâm phạm ANQG.
Tại khóa họp tháng 3/1955, Quốc hội nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa
đã quyết định 6 nguyên tắc bảo đảm tự do tín ngỡng, nhng đồng thời cũng
chỉ rõ: "phải trừng trị những phần tử lợi dụng tôn giáo để chống chế độ". Căn
cứ vào nguyên tắc đó, ngày 14/6/1955, Nhà nớc ta đã ban hành Sắc lệnh số 234
về chính sách tôn giáo. Điều 7 của Sắc lệnh quy định:
Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ mợn danh nghĩa tôn giáo
để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền
chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công
Giai đoạn 1960 - 1975
Sau những thắng lợi cơ bản của thời kỳ khôi phục và cải tạo nền
kinh tế, miền Bắc bắt tay vào việc xây dựng những cơ sở kinh tế và kỹ thuật
đầu tiên của chủ nghĩa xã hội, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để chi
viện cho cách mạng miền Nam. ở miền Nam, sau những vụ đàn áp tàn khốc
của Mỹ - Ngụy, nhân dân ta đã tiến hành những cuộc khởi nghĩa từng phần
26
kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đồng thời từng bớc
chuyển sang chiến tranh cách mạng, cuối cùng giành chính quyền toàn miền.
Trớc yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng
mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phơng miền Bắc XHCN đã đợc
Đảng và Nhà nớc ta quan tâm. Trong thời kỳ này, ngoài việc ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật hình sự quy định việc trừng trị các tội xâm phạm
ANQG, ủy ban Thờng vụ Quốc hội còn ban hành Nghị quyết số 49 ngày
20/5/1961 về việc tập trung, giáo dục những phần tử phản cách mạng ngoan
cố có hành động phơng hại đến an ninh chung, nhng xét không cần đa ra
Tòa án nhân dân để xử phạt. Việc giáo dục, cải tạo những phần tử này đợc
thực hiện theo phơng châm kết hợp lao động với giáo dục chính trị, cải tạo
t tởng để trở thành ngời lơng thiện.
Năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc,
tăng cờng các hoạt động tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý nhằm thực
hiện chính sách xâm lợc của chúng. Trớc những âm mu, phơng thức, thủ đoạn
chống phá cách mạng mới của bọn phản cách mạng, những văn bản quy
phạm pháp luật hình sự quy định các tội xâm phạm ANQG đã bộc lộ những
nhợc điểm nhất định, so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm
này trong giai đoạn mới. Vào thời điểm quyết liệt của cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lợc, ủy ban Thờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp
lệnh trừng trị các tội phản cách mạng và Hồ Chủ tịch đã ký Lệnh công bố
ngày 30/10/1967. Nghiên cứu Pháp lệnh này, chúng ta có thể rút ra một số
nhận xét sau đây:
nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ đợc quy định cụ thể đối với một số tội
phạm tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã
28
thực hiện, vị trí, vai trò của kẻ phạm tội, mức độ thiệt hại gây ra cho cách
mạng. Ngoài ra, Pháp lệnh này còn có quy định mang tính nguyên tắc
chung của chính sách hình sự mở ra một giai đoạn phát triển mới của pháp
luật hình sự Việt Nam.
Các tội trong Pháp lệnh đợc sắp xếp dựa vào tính chất và mức độ
nghiêm trọng cho xã hội của hành vi và có thể chia thành hai nhóm:
- Nhóm tội trực tiếp xâm phạm an ninh đối nội, an ninh đối ngoại
của Nhà nớc bao gồm 7 tội đợc quy định từ Điều 3 đến Điều 9 của Pháp
lệnh. Đó là các tội: 1- Tội phản quốc (Điều 3); 2- Tội âm mu lật đổ chính
quyền dân chủ nhân dân (Điều 4); 3- Tội gián điệp (Điều 5); 4- Tội xâm
phạm an ninh lãnh thổ (Điều 6); 5- Tội bạo loạn (Điều 7); 6- Tội hoạt động
phỉ (Điều 8); 7- Tội trốn theo địch hoặc vì mục đích phản cách mạng mà
trốn ra nớc ngoài (Điều 9).
- Nhóm tội làm suy yếu chính quyền, chế độ, kinh tế, văn hóa, xã
hội bao gồm 7 tội đợc quy định từ Điều 10 đến Điều 16 của Pháp lệnh. Đó
là các tội: 1- Tội giết ngời, đánh ngời, gây thơng tích, bắt giữ ngời, dọa giết
ngời vì mục đích phản cách mạng (Điều 10); 2- Tội phá hoại (Điều 11); 3-
Tội phá hoại khối đoàn kết toàn dân (Điều 12); 4- Tội chống lại hoặc phá
hoại việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nớc (Điều 13); 5- Tội
phá rối trật tự, an ninh (Điều 14); 6- Tội tuyên truyền phản cách mạng
(Điều 15); 7- Tội phá trại giam, đánh cớp can phạm, tổ chức vợt trại giam,
trốn tù (Điều 16).
Nghiên cứu cấu thành tội phạm của các tội đợc quy định trong Pháp
lệnh, có thể thấy rõ những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của từng tội cụ
thể nh sau:
29