I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM TH HU
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với
các tội phạm về môi tr-ờng
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM TH HU
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với
các tội phạm về môi tr-ờng
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Thỏi Phỳc
H NI - 2015
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA
PHÁP NHÂN ................................................................................................. 10
1.1. Lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân.................................. 10
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự ....................................................... 10
1.1.2. Cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự ....................... 15
1.2. Khái quát vànhững bất cập của các quy địnhvề các tội phạm môi
trƣờng trong Bộ luật hình sự nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam . 24
1.3. Cơ sở lý luận về quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân ........ 27
1.3.1. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong khoa học luật hình sự
Việt Nam ...................................................................................................... 27
1.3.2. Quan điểm không ủng hộ quy định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân ................................................................................................... 29
1.3.3. Quan điểm ủng hộ quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.... 32
Chƣơng 2. TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦAPHÁP NHÂN TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƢỚC.................................................. 41
2.1. Tổng quan tình hình quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
của các nƣớc trên thế giới ............................................................................. 41
2.2. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nƣớc... 41
2.2.1. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật Cộng hòa Pháp... 41
2.2.2. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Thụy Sĩ .. 46
2.2.3. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự
Vương quốc Anh ......................................................................................... 49
2.2.4. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Canada .. 52
2.2.5. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự
Trung Quốc ................................................................................................. 54
Chƣơng 3. NHU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI VIỆC QUY ĐỊNH
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN ĐỐI VỚI CÁC TỘI
Trách nhiệm dân sự
TNHC:
Trách nhiệm hành chính
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
TPMT:
Tội phạm môi trường
TTHS:
Tố tụng hình sự
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cuộc sống của con người gắn liền với môi trường, môi trường có ảnh
hưởng lớn tới sự sống còn của con người. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây, môi trường toàn cầu đang có sự biến đổi tiêu cực, khó lường, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến cuộc sống của con người.
Bất kỳ quốc gia nào, việc phát triển kinh tế - xã hội đều gắn liền với
hoạt động khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việt Nam là một
nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, điều kiện về môi trường tự
nhiên thuận lợi cho phát triển. Việt Nam, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, với việc thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
được sống trong môi trường trong lành của con người.
Mặc dù, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
về bảo vệ môi trường luôn được khẳng định, song, trong những năm gần đây,
ý thức coi thường pháp luật của một bộ phận không nhỏ các tổ chức, cá nhân
vì lợi ích kinh tế dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật về môi trường ngày
càng diễn ra với tần suất tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, diễn biến
phức tạp, khó lường, với thủ đoạn tinh vi nhằm che dấu và đối phó với các cơ
quan chức năng, gây bất bình trong dư luận và xã hội, trong đó nổi bật là vi
phạm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Vedan xả nước thải trực tiếp xuống
sông Thị Vải (Đồng Nai), Công ty sửa chữa tàu biển Huyndai-Vinashin xả
chất thải rắn (hạt nic) độc hại không qua xử lý ra môi trường ở Khánh Hòa,
nhà máy Miwon (Việt Trì - Phú Thọ) xả nước thải chưa qua xử lý ra sông
Hồng, hành vi xả nước thải độc hại ra sông Đông Điền (huyện Nhà Bè Thành phố Hồ Chí Minh) của công ty cổ phần thuộc da Hào Dương; các công
ty nhập chất thải phế liệu về cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng,…
Riêng trong 06 tháng đầu năm 2013, lực lượng Cảnh sát phòng chống
tội phạm về môi trường đã phát hiện 6.347 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê tình hình xét xử tội phạm về môi
2
trường trên toàn quốc trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2012 (số liệu do
Vụ Thống kế tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao cung cấp) thì trong 12 năm từ
năm 2000 đến năm 2012, Tòa án đã xét xử 1686 vụ với 2958 bị cáo, số lượng
vụ án và số lượng bị cáo được đưa ra xét xử quá nhỏ so với số vụ vi phạm
thực tế xảy ra.
Hậu quả của việc vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường là vô cùng to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của con người
cả trong hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, bên cạnh những chế tài xử lý về vi
phạm hành chính chưa đủ sức răn đe, trừng trị, Bộ luật Hình sự hiện hành
hội cho rằng hiện nay, vấn đề này đối với nước ta vẫn còn mới, còn có nhiều
ý kiến khác nhau, cần được nghiên cứu kỹ và chỉ đặt ra khi có đủ điều kiện.
Trong khoảng thời gian sau 1986 đến nay, nhất là hai thập niên gần
đây, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp (pháp
nhân) vì chạy theo lợi nhuận đã bất chấp sự an toàn, tính mạng, sức khỏe của
cộng đồng thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng đặc biệt là
trong các lĩnh vực môi trường, ngân hàng, chứng khoán,… mà chưa có cơ sở
để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, các nhà lập pháp đã có nhiều
công trình nghiên cứu, bài viết, bình luận về vấn đề trách nhiệm hình sự của
pháp nhân, trong đó phải kể đến là các công trình, nghiên cứu của các nhà
khoa học luật hình sự hàng đầu của nước ta như: GS. TSKH Lê Cảm “Trách
nhiệm hình sự của pháp nhân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, PGS. TS
Trịnh Quốc Toản “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình
sự”, PGS.TS. Trần Văn Độ - Tòa án Quân sự Trung ương: “Cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với các tổ chức, pháp
nhân trong Luật hình sự Việt Nam”, PGS. TS. Phạm Hồng Hải: “Pháp nhân
có thể là chủ thể của tội phạm hay không”,… Các công trình nghiên cứu nêu
trên cung cấp cho người đọc một cách nhìn tổng quan về trách nhiệm hình sự
của pháp nhân.
4
Thực hiện Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1236/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm
2012, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cùng 16 Bộ, ngành khác và 63 tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương đã tiến hành tổng kết thực tiễn 11 năm thi hành Bộ luật
Hình sự, thể hiện tại Báo cáo tổng hợp kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ
nghiên cứu chi tiết, cụ thể toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy
định vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi
trường. Hơn nữa, trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm nói
chung và tội phạm về môi trường nói riêng thì những kết quả nghiên cứu đã
đạt được vẫn cần phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện. Do vậy, để góp phần
khẳng định sự cần thiết của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân,
học viên lựa chọn “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm
hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường” để làm luận
văn thạc sĩ luật học là phù hợp với thực tế yêu cầu về xây dựng và hoàn
thiện pháp luật hình sự hiện nay.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm
hình sự của pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam dưới góc nhìn so sánh với
pháp luật hình sự một số nước; những hạn chế, bất cập trong việc xử lý vi
phạm pháp luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường ở Việt Nam, từ đó
đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả
xử lý hình sự đối với các tội phạm về môi trường.
1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu cụ thể nêu trên, luận văn đi sâu giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận trách nhiệm hình sự của pháp nhân;
nghiên cứu quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự
của một số nước trên thế giới.
6
- Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội
phạm về môi trường và thực tiễn áp dụng, rút ra những bất cập, vướng mắc và
nguyên nhân của nó.
1.6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, học viên dựa trên cơ sở
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu
tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác, học viên sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, cụ thể là: phương pháp tổng hợp,
phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích,
phương pháp so sánh, phương pháp kế thừa…
Trong các phương pháp nêu trên, học viên lựa chọn phương pháp phân
tích, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh là những phương pháp chủ
đạo nhằm làm rõ lý luận và thực tiễn của việc quy định vấn đề trách nhiệm
hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường.
1.7. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Những điểm mới của luận văn có thể được khái quát như sau:
- Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận của việc quy định trách nhiệm hình
sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường.
- Thứ hai, đánh giá tổng quan thực tiễn thi hành Chương XVII. Các tội
phạm về môi trường của Bộ luật Hình sự hiện hành, những tồn tại, bất cập
trong quá trình xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường để thấy được sự
cần thiết phái truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.
- Thứ ba, nêu đề xuất mô hình lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam trong tương lai.
Những đóng góp của đề tài:
- Về lý luận:
Những đề xuất của đề tài có thể được nghiên cứu, sử dụng trong quá
trình hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự nói chung và pháp luật hình sự về
8
Trong khoa học luật hình sự, các nhà hình sự học vẫn còn có nhiều ý
kiến khác nhau về khái niệm TNHS.Trong khoa học luật hình sự của Liên xô
cũ và Liên bang Nga hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về TNHS, trong
đó nổi bật là các quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: TNHS là nghĩa vụ của người phạm tội: phải chịu
hình phạt và được thể hiện trong việc tước bỏ có tính chất cá nhân hoặc tính
chất tài sản đối với người đó vì tội phạm đã được thực hiện; phải chịu biện
pháp tác động về mặt pháp lý hình sự bao gồm những việc tước bỏ, đau đớn
mà pháp luật quy định đối với người đó; phải chịu các hạn chế về quyền lợi
theo trình tự đã được pháp luật quy định, đồng thời bị kết án và chịu hình phạt
xuất phát từ trình tự tố tụng; phải chịu các biện pháp cưỡng chế Nhà nước
[13-tr.26]. Theo quan điểm này nhấn mạnh về hậu quả của TNHS, theo đó
người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với
hành vi phạm tội của người đó.
Quan điểm thứ hai: TNHS là sự thực hiện có tính chất cưỡng chế những
sự tước bỏ nhất định được các cơ quan đấu tranh chống tội phạm nhân danh
Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm; kết án
nhân danh Nhà nước đối với người có lỗi về tội phạm do người đó thực
hiện;chịu đựng mang tính chất bắt buộc của người có tội những hậu quả tiêu
cực của tội phạm dưới hình thức kết án (sự khiển trách của Nhà nước và sự
cưỡng chế phải chịu những hậu quả đó bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền đối với kẻ phạm tội; tác động có tính chất cưỡng chế Nhà nước do quy
10
phạm pháp luật hình sự quy định và được áp dụng đối với người phạm tội bằng
bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; phản ứng của Nhà nước đối
với việc thực hiện tội phạm gắn liền với việc tước bỏ mang tính cưỡng chế đối
với người có tội các quyền nhất định hoặc sự hạn chế các quyền ấy và được
việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước do Luật hình sự quy định” [12]. Theo quan điểm này thì TNHS là
hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, nếu không có sự việc phạm tội
thì không đặt ra TNHS. TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng một hoặc
nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định đối với
người phạm tội; PGS.TS Lê Thị Sơn cho rằng: “TNHS là trách nhiệm của
người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của
mình. TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự
tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng
chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [77].
Theo quan điểm này thì TNHS là trách nhiệm mà người thực hiện hành vi
phạm tôi phải chịu những hậu quả bất lợi bị truy cứu TNHS, chịu bị kết tội,
chịu biện pháp cưỡng chế và chịu mang án tích.
Theo quan điểm có tính truyền thống, phổ biến, có tính chung nhất
trong khoa học luật hình sự Việt Nam thì khái niệm TNHS được hiểu là hậu
quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự
quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án
nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội
phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự
theo một trình tự tố tụng riêng.
Theo quan điểm này thì TNHS có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội, TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội, cụ thể:
12
- Trong thực tế khách quan nếu như không có việc thực hiện tội phạm –
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, thì cùng không xuất hiện
vấn đề TNHS;
coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm.
Thứ tư, TNHS chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Các quyết định
của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình TTHS chỉ là các văn
bản áp dụng các biện pháp cưỡng chế về mặt TNHS nhằm bảo đảm cho việc
thực hiện TNHS sau này mà chưa phải là các văn bản mà trong đó TNHS
được thực hiện. Một người chỉ bị coi là tội phạm khi có bản án kết tội của Tòa
án có hiệu lực pháp luật, TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng đối với
người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật
hình sự quy định.
Thứ năm, TNHS chỉ mang tính chất cá nhân, hiện nay, pháp luật hình
sự nước ta mới chỉ quy định TNHS đối với cá nhân mà chưa quy định TNHS
đối với pháp nhân.
Tuy nhiên, hiện nay cũng có quan điểm cho rằng các đặc điểm của
TNHS gồm các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm
tội. Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội bị PLHS cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà PLHS yêu cầu
phải thực hiện.
TNHS chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội. Trong thực tế khách quan, nếu
như không có việc thực hiện tội phạm thì cũng sẽ không xuất hiện vấn đề TNHS.
TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kì dạngtrách
nhiệm pháp lý nào khác. Bởi vì, các dạng trách nhiệm pháp lý khác không đưa
14
đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ thể của hành vi vi phạm như
TNHS (hạn chế, tước bỏ quyền tự do, thậm chí tính mạng của chủ thể).
TNHS là: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định
mới phải chịu trách nhiệm hình sự”[5].Việc quy định cơ sở của TNHS của
Bộ luật hình sự năm 1999 dựa trên các yếu tố chính sau đây: lỗi, mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội,… Lỗi là một trong
những điều kiện của TNHS và là mặt chủ quan của tội phạm. Người phạm tội
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã bị luật hình sự cấm với lỗi cố ý hoặc vô
ý; cơ sở của TNHS là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự
quy định, dựa vào đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra vấn đề
TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự
cấm; cơ sở pháp lý của TNHS là hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ các
dấu hiệu của CTTP cụ thể tương ứng được ghi trong pháp luật hình sự.
1.1.2.2. Điều kiện của trách nhiệm hình sự
Điều kiện của TNHS là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và
do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng thì một
người mới phải chịu TNHS. Chỉ người nào có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu
TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật
quy định là tội phạm mới phải chịu TNHS. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật
hình sự thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự là: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng
chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng
do cố ý hoặctội phạm đặc biệt nghiêm trọng”[5].
1.1.2.3.Trách nhiệm hình sự của các tội phạm về môi trường trong
pháp luật Việt Nam
TNHS đối với các tội phạm về môi trường là TNHS được quy định và áp
dụng đối với các tội phạm về môi trường do BLHS quy định. Trước hết cần
hiểu tội phạm về môi trường là gì.
16
Từ những điểm vừa phân tích trên đây, có thể đưa ra một định nghĩa về
TNHS đối với các tội phạm về môi trường như sau: TNHS đối với các tội
phạm về môi trường là hậu quả pháp lý bất lợi do luật định mà một người
phải gánh chịu vì đã thực hiện hành vi tội phạm xâm phạm đến các quan hệ
xã hội có liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên
thiên nhiên và việc bảo đảm an ninh môi trường thể hiện trong các biện pháp
mang tính cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp
dụng theo trình tự do luật định [1].
Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "chỉ người nào phạm một
tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu TNHS"[5].
Sở dĩ người phạm tội phải chịu TNHS trước Nhà nước, vì họ đã có điều
kiện tự do lựa chọn khi hành động phạm tội. Nói cách khác, họ đã có lỗi khi
chọn hành động đi ngược lại với lợi ích xã hội. Để kết luận hành vi đã được
thực hiện của người nào đó có phải là tội phạm không và tội đó là tội gì, hình
phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó đã thỏa mãn
những dấu hiệu của CTTP cụ thể chưa? Nếu thỏa mãn tức là người ấy đã thực
hiện tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS và người thực hiện hành vi
này phải chịu TNHS (hình phạt). Với tính cách là tổng hợp những dấu hiệu
đặc trưng, cần và đủ được quy định trong luật hình sự cho phép phân biệt tội
phạm này với tội phạm khác, phân biệt các trường hợp phạm tội trong một
loại tội, CTTP là cơ sở pháp lý của TNHS và một người chỉ có thể phải chịu
TNHS nếu hành vi của họ có đủ những dấu hiệu của CTTP.
Để phân biệt hành vi bị coi là tội phạm với hành vi không bị coi là tội
phạm, Khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Những hành vi tuy
có dấu hiệu tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên
không bị coi là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp pháp lý khác” [5].
18