CÁC tội xâm PHẠM AN NINH QUỐC GIA TRONG LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM - Pdf 35

Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

5

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh chống các tội xâm phạm ANQG là nội dung chủ yếu của
cuộc đấu tranh chống phản cách mạng. Yêu cầu đặt ra trong cuộc đấu tranh
này là làm thất bại âm mu và hoạt động của các thế lực thù địch ở trong và
ngoài nớc nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ sự tồn tại và vững mạnh của chế độ XHCN và Nhà nớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, từ khi chính quyền thuộc về
nhân dân (8/1945) cho đến nay, Đảng và Nhà nớc ta luôn coi sự nghiệp bảo
vệ ANQG là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dới sự lãnh
đạo của Đảng. Nhà nớc cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và hoàn
thiện các văn bản pháp luật quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội
xâm phạm ANQG phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách
mạng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh này.
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất
nớc, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng XHCN và đã
giành đợc những thành tựu to lớn, đa đất nớc ta thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng về kinh tế - xã hội, giữ vững thế ổn định và phát triển. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành tựu đạt đợc, đã nảy sinh không ít tiêu cực trong đời sống
xã hội cũng nh những khó khăn, thách thức mới. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu, Liên Xô sụp đổ đã tác động mạnh vào t tởng, tình cảm, niềm tin
của cán bộ và nhân dân ta. Các thế lực chống cộng, chống CNXH đang lợi
dụng cơ hội này để ráo riết hoạt động hòng làm tan rã từ bên trong, tiến
đến xóa bỏ chế độ XHCN ở nớc ta. Trong tình hình đó, nhiệm vụ bảo vệ
ANQG, giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trờng thuận lợi để nhân dân ta
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, đa đất

các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, (Tạp chí Nhà nớc
và Pháp luật, số 3-1995); Về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh
quốc gia (Tạp chí Khoa học Công an, số 3-1995). TS. Trần Đình Nhã đã có
công trình Về sửa đổi bổ sung chơng I Phần các tội phạm của Bộ luật hình


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

7

sự (Tạp chí Khoa học Công an, số 11-1996). TS. Nguyễn Vạn Nguyên đã có
bài báo về Trách nhiệm hình sự về tội phản bội Tổ quốc (Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 5-1989)... Tuy nhiên, các công trình đó chỉ mới đề cập tới
từng khía cạnh của vấn đề hoặc từ các góc độ khác nhau của đề tài này
nh hoàn thiện pháp luật hình sự, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp
luật v.v... Cho đến nay, cha có một công trình chuyên khảo nào dành cho
việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện từ lịch sử vấn đề đến quy định
của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng, cũng nh đồng thời từ các góc
độ luật hình sự và tội phạm học để từ đó đề ra các biện pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội
phạm này.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của
luận án
- Mục đích
Trớc yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm
ANQG, mục đích của luận án là làm sáng tỏ một cách có hệ thống những
vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định các tội xâm phạm ANQG, đánh giá
tình hình tội phạm và thực tiễn đấu tranh phòng chống các loại tội phạm
này đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội
xâm phạm ANQG.

t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta về xây
dựng nhà nớc và pháp luật, về chính sách hình sự, đặc biệt về đờng lối đấu
tranh chống phản cách mạng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng XHCN ở nớc ta. Trong quá
trình nghiên cứu, tác giả đã nghiên cứu và khảo sát thực tiễn hàng trăm vụ
án thuộc nhóm các tội xâm phạm ANQG, các báo cáo tổng kết thực tiễn xét
xử và nhiều tài liệu ở trong và ngoài nớc về trách nhiệm hình sự và công tác
đấu tranh phòng, chống loại tội này.


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

9

Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án đặc biệt coi trọng các phơng pháp hệ
thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, tổng hợp, thống kê t pháp hình sự và tham
khảo ý kiến của các chuyên gia.
5. Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sự
Việt Nam nghiên cứu toàn diện và có hệ thống chế định các tội xâm phạm
ANQG, tình hình tội phạm và thực tiễn đấu tranh phòng chống các loại tội
phạm này, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống
các tội xâm phạm ANQG.
Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án thể hiện trong
các điểm sau:
1. Đã khái quát đợc một cách có hệ thống sự hình thành và phát
triển chế định các tội xâm phạm ANQG trong luật hình sự Việt Nam từ
năm 1945 đến nay; đã phân tích và đánh giá đợc ý nghĩa và tác dụng của
chế định này trớc yêu cầu đấu tranh bảo vệ ANQG qua các giai đoạn cách
mạng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi cả nớc đang đẩy mạnh công

mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3 chơng 13 mục.


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

11

Chơng 1
lịch sử lập pháp hình sự việt nam về các tội xâm
phạm an ninh quốc gia từ năm 1945 đến nay

1.1. các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong pháp luật
hình sự việt nam trớc khi pháp điển hóa hình sự năm 1985

Trong hơn nửa thế kỷ xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở
Việt Nam, kể từ tháng 8 năm 1945 đến nay đã khẳng định nhiệm vụ bảo vệ
ANQG và đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm ANQG là vấn đề có
tính quy luật để Nhà nớc kiểu mới tồn tại và phát triển. Trong cuộc đấu
tranh này, pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng là hình thức
ghi nhận của Nhà nớc về các nhu cầu khách quan bảo vệ và phát triển các
thành quả cách mạng do nhân dân tiến hành dới sự lãnh đạo của Đảng.
Nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự không thể tách rời nghiên cứu nhiệm
vụ cách mạng trong từng giai đoạn cụ thể cũng nh các quan hệ xã hội đợc
pháp luật hình sự ghi nhận bảo vệ, càng không thể thoát ly các đặc điểm về
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của từng thời kỳ lịch sử mà trong đó các
văn bản pháp luật hình sự đợc ban hành. Pháp luật hình sự luôn luôn thể
hiện hai mặt cơ bản: trớc hết đó là sự kết tinh những giá trị phổ biến, những
kinh nghiệm về đấu tranh phòng chống tội phạm của các giai đoạn, thời kỳ
trớc đó và tại giai đoạn nó đợc ban hành; mặt khác, pháp luật hình sự đợc ban
hành để bảo vệ lợi ích giai cấp và trật tự xã hội theo quan điểm của giai cấp

ANQG đợc Nhà nớc ta rất chú trọng và luôn luôn có những bổ sung kịp
thời trớc những đòi hỏi khách quan của tình hình và nhiệm vụ chung của sự
nghiệp cách mạng. Có thể thấy rõ nhận xét này qua tìm hiểu các văn bản
quy phạm pháp luật hình sự đợc ban hành trong giai đoạn này.
Ngay trong tháng 9/1945, lực lợng Liêm phóng đã kịp thời tham mu
cho Đảng, Nhà nớc ban hành Sắc lệnh số 08 ngày 5/9/1945 về giải tán
những đảng phái phản động. Sắc lệnh nêu rõ: "Xét theo các cuộc điều tra
của Ty Liêm phóng Bắc Bộ, Đại việt quốc gia xã hội đảng đã t thông với
ngoại quốc để mu những việc có hại cho sự độc lập của quốc gia và nền
kinh tế Việt Nam, nên giải tán Đại việt quốc gia xã hội đảng và Đại việt


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

13

quốc dân đảng. Nếu hai đảng ấy còn tiếp tục hoạt động thì những ngời can
phạm sẽ bị đem ra Tòa án chiểu luật nghiêm trị". Ngày 12/9/1945, Chủ tịch
Chính phủ ra Sắc lệnh số 30 giải tán Việt Nam hng quốc thanh niên và Việt
Nam ái quốc thanh niên. Sắc lệnh số 08 và Sắc lệnh số 30 là cơ sở pháp lý
đầu tiên cho phép trấn áp các đối tợng và các đảng phái phản động. Ngay
sau khi Sắc lệnh đợc ban hành, lực lợng Liêm phóng, Quốc gia tự vệ cuộc đã
tổ chức trừng trị những tên đầu sỏ, đa đi an trí những tên nguy hiểm. Ngày
9/9/1945, ta đã trấn áp vụ bạo loạn ở Cần Thơ do bọn phản động lợi dụng
Đạo Hòa Hảo cầm đầu. Các địa phơng khác trên toàn quốc cũng trấn áp
mạnh các phần tử và các tổ chức phản động, làm mất chỗ dựa xã hội của
các thế lực thù địch núp dới danh nghĩa Đồng minh kéo vào nớc ta hòng thủ
tiêu các thành quả cách mạng mà nhân dân ta vừa giành đợc.
Sắc lệnh số 06 ngày 5/9/1945 đợc ban hành cấm nhân dân Việt Nam
không đợc đăng lính, bán thực phẩm, dẫn đờng, liên lạc làm tay sai cho

các nhà máy điện, máy nớc.
2. Cố ý hủy hoại hoặc ăn trộm các dây điện thoại hay
điện tín cùng các cột dây điện và dây thép.
3. Đặt ở các nơi nói trên cơ giới, khí cụ dùng để giết ngời
hay tác liệt [1, tr. 113].
Ngày 28/2/1946, Sắc lệnh số 27 đợc ban hành nhằm trừng trị các tội
bắt cóc, tống tiền và ám sát quy định: "Những ngời phạm tội bắt cóc, tống
tiền và ám sát sẽ bị phạt từ 2 năm đến 10 năm tù và có thể bị xử tử" [3, tr. 79].
Có thể nói, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công đến ngày
toàn quốc kháng chiến, hoạt động lập pháp hình sự của nhà nớc ta diễn ra
rất dồn dập và phong phú, nhằm tăng cờng sức mạnh chuyên chính đối với
các kẻ thù của chính quyền non trẻ, các văn bản quy phạm pháp luật hình
sự đợc ban hành đã thể hiện rõ chính sách phân hóa hình sự của Nhà nớc
ta. Mặc dù cha đa ra quy phạm định nghĩa các tội xâm phạm ANQG nhng
các văn bản pháp luật đợc ban hành đã đề cập đến hành vi "làm phơng hại
đến nền độc lập của nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa" chính là hành vi cấu
thành tội xâm phạm ANQG nh cách hiểu trong Luật hình sự hiện hành.
Ngoài các hành vi trên, Nhà nớc ta còn quy định những hành vi nguy hiểm
cho xã hội xâm phạm lợi ích của Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa trên
các lĩnh vực Giao thông, Thủy lợi, Bu điện và an toàn chung của xã hội mà
sau đó đợc gọi là các tội khác xâm phạm ANQG trong BLHS năm 1985.


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

16

Chúng tôi không đi sâu phân tích nhóm các tội này vì không thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài luận án.
Có thể rút ra nhận xét, thời kỳ này các nhà làm luật đã ý thức rõ sự

quyền dân chủ nhân dân trong các vùng tự do, đẩy mạnh công cuộc kháng
chiến, giành độc lập thống nhất cho dân tộc.
Từ năm 1948, thực dân Pháp tăng cờng hoạt động do thám, gián
điệp, chúng chú trọng tung gián điệp vào nội bộ các cơ quan kháng chiến,
các đơn vị quân đội. Nhiều cơ quan, đơn vị mất cảnh giác đã để lộ tài liệu
hoặc để cho bọn do thám hoạt động gây tác hại lớn. Trớc tình hình đó, Ban
Thờng vụ Trung ơng Đảng ra Chỉ thị số 25-CT-TW ngày 25/9/1948 về việc
"Đề phòng gián điệp chui vào hàng ngũ Đảng và các cơ quan chính quyền".
Đồng thời, Nhà nớc đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hình sự
quy định trách nhiệm hình sự với các tội xâm phạm ANQG, cụ thể hóa các
chủ trơng chính sách của Đảng về đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ
an toàn các cơ quan lãnh đạo và góp phần đảm bảo cho cuộc kháng chiến
thắng lợi. Ngoài hình phạt chính, để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình
phạt, xử lý ngời phạm tội gián điệp hay phản quốc một cách triệt để, Sắc
lệnh 146 ngày 2/3/1948 quy định: "Các Tòa án quân sự và Tòa án binh khi
xử một vụ gián điệp hay phản quốc bắt buộc phải tuyên ngoài hình phạt
chính theo luật hiện hành, hình phạt phụ là tịch thu một phần hay tất cả gia
sản của phạm nhân" [3, tr. 215]. Đáng chú ý, Nhà nớc ta đã ban hành hàng
loạt Sắc lệnh quy định về việc giữ gìn bí mật nh Sắc lệnh 95 ngày 13/8/1949
về bí mật kinh tế; Sắc lệnh 128 ngày 17/7/1950 về bí mật công văn, th tín;
Sắc lệnh số 154 ngày 17/11/1950 về bí mật cơ quan, bí mật công tác của
Chính phủ; Sắc lệnh số 69 ngày 10/12/1951 về bí mật của Nhà nớc. Đặc
biệt, Sắc lệnh số 69 đã quy định cụ thể những hành vi dới đây sẽ bị truy tố
trớc Tòa án nh tội phản quốc:
1- Cố ý tiết lộ hoặc bán bí mật quốc gia cho địch, hay là cho tay sai
của địch.
2- Lợi dụng bí mật quốc gia để lấy lợi.


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

đối nội và đối ngoại. Khái niệm "những ngời phạm một việc gì... có phơng hại


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

19

đến nền độc lập của nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa..." đợc quy định trong
Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 đợc thay bằng khái niệm xâm phạm an toàn
Nhà nớc về đối nội và đối ngoại. Điều 1 của Sắc lệnh 133 qui định: "Để củng
cố chính quyền dân chủ nhân dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến giành độc
lập, thống nhất cho dân tộc, nay ban hành Sắc lệnh này nhằm mục đích
trừng trị các loại việt gian, phản động và xét xử những âm mu và hành động
phản quốc". Sắc lệnh số 133 đã đạt đợc bớc tiến bộ về kỹ thuật lập pháp,
chỉ rõ những quan hệ xã hội cụ thể có tầm quan trọng nhất bị hành vi phạm
tội xâm phạm tới - là cơ sở để xây dựng nhóm khách thể của các tội đặc
biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG sau này. Đây là một văn bản pháp luật
hình sự tơng đối hoàn chỉnh, qui định nguyên tắc có tính chất phân hóa của
Nhà nớc ta trong xử lý các tội phạm. Theo chúng tôi, những nguyên tắc và
điểm mới của Sắc lệnh đó thể hiện nh sau:
a) Đề cao nguyên tắc trừng trị có phân hóa: nghiêm trị bọn chủ mu,
cầm đầu, bọn ngoan cố, khoan hồng đối với những ngời bị lừa phỉnh, bị ép
buộc, lầm đờng (Điều 2)
b) Các hành vi hoạt động phản cách mạng đợc phân thành 9 loại tội
phạm cụ thể, đó là:
1- Tội cấu kết với địch (đế quốc xâm lợc và bù nhìn phản động),
cầm đầu những tổ chức quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phản bội
Tổ quốc (Điều 3).
2- Tội vây quét, bắt giết, tra tấn, khủng bố, hãm hiếp cán bộ và nhân
dân, áp bức bóc lột, cớp phá nhân dân, bắt phu, bắt lính, thu thuế cho địch

hủy.
- Bỏ thuốc độc, gieo rắc vi trùng, sâu bọ hoặc dùng cách nào khác
gây bệnh, phá hoại lơng thực và mùa màng.


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

21

- Cớp, phá các công trình quân sự, thủy lợi, đê điều, kho tàng, công
xởng, cắt đờng dây điện tín, điện thoại, các phơng tiện giao thông vận tải.
8- Tội tuyên truyền cổ động cho địch biểu hiện cụ thể là:
- Phao tin đồn nhảm làm cho nhân dân hoang mang.
- Bất cứ cách gì để tuyên truyền cho chính sách, áp bức, bóc lột, lừa
phỉnh của địch.
- Đầu độc, trụy lạc nhân dân bằng văn hóa nô dịch.
- Tuyển mộ ngụy binh hay mộ phu cho địch.
- Dụ dỗ bộ đội, cán bộ, nhân dân bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo
địch (Điều 11).
9- Tội phá hoại sự đoàn kết kháng chiến của các dân tộc trong nớc,
các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, các đảng phái và đoàn thể dân chủ,
chia rẽ nhân dân với Chính phủ, chia rẽ nhân dân Việt Nam với các nớc bạn
Miên, Lào, phá hoại tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân
Liên Xô và các nớc dân chủ nhân dân khác (Điều 12).
Nh vậy, cấu thành của các tội phạm đợc nêu ra từ Điều 3 cho đến
Điều 7 không nêu ra dấu hiệu mục đích phản quốc, nhng các hành vi này
uy hiếp trực tiếp đến sự tồn tại của chính quyền nhân dân, đã thể hiện rõ
ràng mục đích chống cách mạng, chống lại Tổ quốc của kẻ phạm tội.
Những tội còn lại nh chống lại các chủ trơng chính sách của Chính phủ
(Điều 8), phá hoại kinh tế, tài chính (Điều 9), phá hoại cơ sở vật chất và môi

thời kỳ này. Về pháp luật hình sự, Nhà nớc ta đã Ban hành Sắc lệnh số 89
ngày 22/5/1950 quy định việc trừng trị đối với những kẻ dùng thủ đoạn man
trá hoặc đầu cơ, bóc lột để cho vay. Ngày 4/12/1953, Nhà nớc ta đã thông qua
luật cải cách ruộng đất, tuyên bố tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực
dân Pháp và bọn đế quốc xâm lợc khác. Đối với địa chủ việt gian thì tùy tội
nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hay một phần ruộng đất, nông cụ, lơng thực
thừa, nhà cửa thừa hay tài sản khác, phần không tịch thu thì trng thu. Để đảm
bảo việc thi hành chính sách cải cách ruộng đất, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

23

chính quyền nhân dân, đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng
lợi, Sắc lệnh số 151 đợc ban hành ngày 12/4/1953 quy định:
Trừng trị những địa chủ chống pháp luật trong khi và ở
những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất
nhằm mục đích giữ gìn tính mệnh và tài sản của nhân dân,
nghiêm cấm mọi hành động phá hoại của địa chủ không tuân luật
pháp, giữ gìn trật tự cách mạng, củng cố khối đoàn kết kháng
chiến của nhân dân [3, tr. 98].
Nội dung Sắc lệnh 151 có 5 điều quy định tội danh và hình phạt tơng ứng, đó là:
1- Tội chống chính sách ruộng đất: dùng thủ đoạn trái phép để cỡng
bức nộp tô hoặc trả nợ cũ, lấy lại ruộng đất, nhà cửa, đuổi ngời làm công.
2- Tội phân tán tài sản, của cải, ruộng đất bằng cách cầm, bán, cho,
chia gia tài hoặc các thủ đoạn lén lút khác.
3- Tội phá hoại tài sản nh: giết hại hay làm bị thơng các súc vật, phá
hoại lơng thực, đồ đạc, nông cụ, cây cối, hoa màu, ruộng đất, công trình
thủy lợi... để gây thiệt hại cho nông dân và làm hại cho sản xuất.

của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính
sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa [3, tr. 115].
Sắc lệnh 267 qui định nghiêm trị những kẻ vì mục đích phá hoại có
những hành vi sau đây:
- Trộm cắp, lãng phí, làm hỏng, hủy hoại, cớp bóc tài sản của Nhà
nớc, của hợp tác xã và của nhân dân.
- Tiết lộ, đánh cắp, mua bán, do thám bí mật nhà nớc.
- Cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch kinh tế và văn hóa của
Nhà nớc bằng bất cứ cách nào nh: tuyên truyền chống chính sách, chống kế
hoạch, phao đồn tin bịa gây sự nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng;
hành động chống chính sách, chống kế hoạch; không làm hoặc làm sai công
việc mình phụ trách; làm gián đoạn công việc thờng xuyên; kìm hãm sự


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

25

phát triển của một bộ phận, một ngành hoạt động; gây mâu thuẫn, chia rẽ
nội bộ công nhân viên, cán bộ, xã viên hoặc chia rẽ nhân dân và cán bộ.
So sánh với các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đợc ban hành
trớc đó, nội dung cấu thành tội phạm của các tội đợc quy định tại các điều
2, 3, 4 của Sắc lệnh 267 có rất nhiều điểm tơng đồng với nhóm các tội uy
hiếp đến sự vững mạnh của chính quyền, trong đó dấu hiệu "mục đích phá
hoại" đã đợc thay thế cho dấu hiệu "mục đích phản quốc". Hơn nữa, trong
Sắc lệnh 267, các tội có "mục đích phá hoại" đã đợc phân biệt với các tội có
hành vi khách quan tơng tự nhng đợc thực hiện với mục đích khác nh tham
lam, t lợi (Điều 7), thiếu tinh thần trách nhiệm (Điều 10). Có thể nói, đây là
bớc tiến rõ rệt trong kỹ thuật lập pháp hình sự nớc ta qui định trách nhiệm
hình sự với các tội xâm phạm ANQG.

tội phạm (tội phạm hóa), những biện pháp trách nhiệm tơng xứng để trừng
phạt, trấn áp ngời nào thực hiện hành vi đó (hình sự hóa), từ đó góp phần
vào việc đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn tay sai.
Thứ hai, các tội xâm phạm ANQG đợc quy định tản mạn trong nhiều
văn bản đơn hành dẫn tới khó khăn trong việc thống nhất áp dụng pháp
luật. Một số văn bản quy phạm pháp luật hình sự còn bộc lộ nhợc điểm về
kỹ thuật lập pháp hình sự nh chỉ nêu nguyên tắc mà không quy định tội
phạm và hình phạt (Sắc lệnh số 234, ba đạo luật về tự do báo chí, tự do lập
hội, tự do hội họp).
Thứ ba, ngày từ thời kỳ này, các nhà làm luật đã có ý thức phân biệt
rõ rệt nhóm các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG với các nhóm tội
xâm phạm ANQG khác.
Giai đoạn 1960 - 1975
Sau những thắng lợi cơ bản của thời kỳ khôi phục và cải tạo nền
kinh tế, miền Bắc bắt tay vào việc xây dựng những cơ sở kinh tế và kỹ thuật
đầu tiên của chủ nghĩa xã hội, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để chi
viện cho cách mạng miền Nam. ở miền Nam, sau những vụ đàn áp tàn khốc
của Mỹ - Ngụy, nhân dân ta đã tiến hành những cuộc khởi nghĩa từng phần


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

27

kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đồng thời từng bớc
chuyển sang chiến tranh cách mạng, cuối cùng giành chính quyền toàn miền.
Trớc yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng
mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phơng miền Bắc XHCN đã đợc
Đảng và Nhà nớc ta quan tâm. Trong thời kỳ này, ngoài việc ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật hình sự quy định việc trừng trị các tội xâm phạm

các khái niệm "mục đích phản quốc" trong Sắc lệnh số 133 và khái niệm
"mục đích phá hoại" trong Sắc lệnh số 267. Lần đầu tiên, Pháp lệnh nêu lên
khái niệm tội phản cách mạng tại Điều 1:
Tội phản cách mạng là tội chống lại Tổ quốc, chống lại
chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo xã hội
chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phá hoại quốc phòng,
phá hoại sự nghiệp chống Mỹ cứu nớc, bảo vệ miền Bắc, giải
phóng miền Nam, thực hiện hòa bình thống nhất nớc nhà [39, tr.
153].
Cần chú ý rằng, về mặt pháp lý, tội phản cách mạng là một thể thống
nhất giữa ý thức và hành động chống lại cách mạng của kẻ phạm tội. Do
đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, phải làm rõ mục đích của kẻ
phạm tội, nó là yếu tố cần thiết, không thể thiếu đợc, về mặt chủ quan của
kẻ phạm tội. Xác định rõ mục đích của kẻ phạm tội là cơ sở để phân biệt
hành vi phản cách mạng với hành vi không phải phản cách mạng (nh phân
biệt phản tuyên truyền, phao đồn tin nhảm gây hoang mang trong quần
chúng vì mục đích phản cách mạng với phản tuyên truyền, phao đồn tin
thất thiệt vì t lợi, vì kém giác ngộ...).
Ba là, căn cứ vào khách thể trực tiếp bị xâm hại, Pháp lệnh đã quy
định 15 loại tội phản cách mạng. Việc các tội phạm đó đều có tiêu đề về tội
danh và đợc mô tả rõ ràng, chặt chẽ cho thấy đây là một bớc tiến lớn về mặt
kỹ thuật lập pháp. Các cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng
nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ đợc quy định cụ thể đối với một số tội
phạm tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã


Ketnooi.com din n chia s kin thc, cụng ngh

29


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status