Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa Philippines là một sự kết hợp của văn hóa phương Đông và văn
hóa phương Tây. Với một di sản Mã Lai, Philippines có những diện mạo tương
đồng với các quốc gia châu Á khác.
Nền tảng của văn hoá Philippines dựa trên các truyền thống văn hoá của
nhiều nhóm dân bản địa trong vùng. Tuy nhiên, nó cũng bị ảnh hưởng lớn từ các
văn hoá của người Tây Ban Nha, Trung Quốc, Hoa Kỳ và các nền văn hoá khác
tuy ở mức độ nhỏ hơn.
Người Tây Ban Nha có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với văn hoá
Philippines, đây là kết quả của hơn ba trăm năm chính quyền thuộc địa. Những
chính sách cai trị mà thực dân Tây Ban Nha áp đặt lên Philippines đã tác động
sâu sắc đến mọi mặt đời sống của người dân Philippines, đặc biệt là về tôn giáo,
văn hóa, giáo dục… Những ảnh hưởng đó hiện vẫn thấy trong các cách thức
phong tục và những nghi thức liên quan tới nhà thờ Thiên chúa giáo, đặc biệt là
trong các lễ hội tôn giáo.
Không dừng lại ở đó, văn hóa Philippines còn bị ảnh hưởng bởi Tây Ban
Nha trên các khía cạnh khác như ngôn ngữ, kiến trúc, nghệ thuật, ẩm thực, lễ
hội…
Sự ảnh hưởng bởi văn hóa Tây Ban Nha đã thay đổi đất nước Philippines,
làm cho nền văn hóa Philippines trở nên đa dạng, phong phú. Do vậy, tôi quyết
định chọn đề tài “Chính sách cai trị của Tây Ban Nha đối với Philippines
trên lĩnh vực văn hóa (1565 – 1762)” nhằm tìm hiểu rõ hơn về đất nước và con
người Philippnes cũng như sự ảnh hưởng của văn hóa Tây Ban Nha ở quốc đảo
này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu về văn hóa Philippines từ lâu đã thu hút sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu cũng như những ai quan tâm đến đất nước này. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu vấn đề này rất phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu phải tỉ mỉ,
phân tích kĩ càng và toàn diện, mỗi công trình nghiên cứu lại đề cập tới những
vấn đề này làm đề tài niên luận năm thứ ba.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, tôi muốn làm rõ quá trình thiết lập thuộc địa ở
Philippines của Tây Ban Nha trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, xã hội đến
chủng tộc, tôn giáo, tín ngưỡng…
2
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
2
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
Mặt khác, mục tiêu trên hết của đề tài là phải làm rõ chính sách cai trị của
Tây Ban Nha đối với Philippines trên lĩnh vực văn hóa, đặc biệt nghiên cứu về
các chính sách cai trị mà Tây Ban Nha đã áp đặt lên Philippines trên mọi khía
cạnh từ tôn giáo, giáo dục cho đến chính sách “đồng hóa văn hóa”, qua đó nhằm
góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu về lịch sử và văn hóa Philippines.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Phải hoàn thành việc tìm hiểu về đất nước và con người Philippines cũng
như văn hóa của quốc gia này, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1565 đến năm 1762.
Trong giai đoạn này, Philippines đã trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha,
trong bối cảnh đó, Tây Ban Nha đã áp đặt nền thống trị của mình lên
Philippines, từ đó, Philippines mang đậm dấu ấn của Tây Ban Nha trên tất cả các
lĩnh vực, đặc biệt là đời sống văn hóa. Vì thế, niên luận sẽ tìm hiểu các chính
sách cai trị của Tây Ban Nha đối với Philippines trên lĩnh vực văn hóa qua các
khía cạnh, từ đó rút ra kết luận.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề văn hóa.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành niên luận, tôi đã sử dụng hai
Đảo Luzon là đảo lớn nhất có diện tích 104750 km
2
, chiếm khoảng 35%
diện tích của Philippines. Phần lớn diện tích trên đảo là đồi núi với đỉnh núi cao
nhất là đỉnh Pulog (2.928m). Núi trên đảo thấp dần về phía Bắc và phía Đông.
Rìa phía Đông và phía Nam của đảo là một dải đồng bằng hẹp chạy men theo bờ
biển. Đồng bằng lớn nhất là đồng bằng Malina nằm ở phần trung tâm của đảo.
Đồng bằng này có chiều dài tới 190 km và kéo dài từ vịnh Lugain ở phía Bắc tới
vịnh Malina ở phái Nam. Chiều rộng trung bình của đồng bằng chừng 110 km.
Đồng bằng này được cung cấp nước bởi hai hệ thống sông: sông Pampauga ở
phía Nam và sông Agno ở phía Bắc. Đây là vựa lúa chính của Philippines. Đảo
Luzon được coi là đại diện và là trung tâm của đất nước Philippines [9; tr. 4].
Midanao là đảo lớn thứ hai của Philippines có diện tích 95.000 km
2
. Ở phía
Tây Nam của đảo có đồng bằng Katobato rộng lớn được cung cấp nước bởi hệ
thống sông Cagaian. Trên mặt đồng bằng mọc nhiều loại cây sú, vẹt, mangro. Ở
4
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
4
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
đây trồng rất nhiều dừa và tạo nên những rừng dừa lớn của Philippines. Ở phía
Nam đồng bằng có hồ Buluau cũng là một nguồn cung cấp nước quan trọng.
Đỉnh núi cao nhất của đảo và cũng là đỉnh núi cao nhất của Philippines là đỉnh
núi Apo với độ cao tuyệt đối là 2.965m.
Tuy là một quốc gia hải đảo, nhưng Philippines có bờ biển dài 23.184 km
bằng toàn bộ chiều dài bờ biển của nước Mỹ. Phía Đông Philippines là Thái
Bình Dương có độ sâu sâu nhất thế giới. Vùng biển Philippines có chỗ sâu nhất
là 10789 km cách đảo Luzon khoảng 100 km. Phía Bắc và Tây Philippines là
biển Nam Trung Hoa giáp với Đài Loan và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
lớn như: đồng, crom, sắt, niken. Ngoài ra còn có thủy ngân, than đá và nhiều
loại khác nữa.
Như vậy, với điều kiện tự nhiên, địa hình và khí hậu, đặc biệt là tài nguyên
thiên nhiên với rừng vàng, biển bạc và trữ lượng khoáng sản lớn, Philippines đã
trở thành miếng mồi ngon cho các nước tư bản phương Tây xâm lược, trong đó
có Tây Ban Nha.
1.1.2. Chính trị - kinh tế - xã hội
Ngay trước khi bị thực dân Tây Ban Nha xâm lược, xét về trình độ phát
triển kinh tế-xã hội, quần đảo Philippines có thể được chia thành ba vùng rõ rệt:
vùng nội địa bị cô lập, nơi chế độ công xã nguyên thủy vẫn chiếm địa vị thống
trị; vùng bình nguyên ven biển vốn là nơi cư ngụ phần lớn dân cư thì chế độ
công xã nguyên thủy đang tan rã ở mức độ khác nhau; những trung tâm lớn, nơi
hội tụ những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của lực lượng sản xuất,
như Nam và trung tâm đảo Luzon, đảo Cebu, quần đảo Sulu và Tây Nam
Mindanao, thì đã xuất hiện xã hội có giai cấp.
Khi bị người Tây Ban Nha xâm chiếm, trên các đảo Luzon và Visayas đã
xuất hiện xã hội có giai cấp nhưng chưa hình thành những nhà nước tập quyền.
Tổ chức lãnh thổ chính trị và xã hội cơ bản là các Barangay – các công xã thị tộc
– do các Dato,Rajah cầm đầu. Đa số là các Barangay nhỏ (có từ 80 đến 100 gia
đình). Chỉ ở trung tâm kinh tế phát triển nhất mới có những công xã lớn hay các
liên hiệp Barangay với số dân từ 1500 đến 2000 (vùng Manila, đảo Panay, đảo
Cebu). Đây không phải là nhữnghình thức nhà nước bền vững mà chỉ là những
liên minh quân sự tạm thời trong thời kì có xung đột quân sự.
Trình độ phát triển về xã hội giữa các Barangay thuộc các dân tộc khác
nhaucũng không đồng đều. Ở các dân tộc đông đúc như Tagala, Visayas và
Iloka đã hìnhthành các mối quan hệ phong kiến sơ kỳ.
Xã hội lúc này đã phân hóa thành ba hạng người rõ rệt: “người hạnh phúc”
(giới quý tộc maharlika mà đứng đầu là Dato), “người tự do” (Timagua) và
6
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
thành vùng tiến triển nhất, xét về tốc độ và mức độ phát triển về kinh tế xã hội
và chính trị.
7
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
7
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
Về phần mình, các hoạt động kinh tế của nhân dân Sulu và các vùng ven
biển Tây Nam Mindanao mà nền tảng là thương nghiệp hàng hải, khai thác ngọc
trai, đánh bắt cá biển đã tăng cường các quan hệ trên.
Trong các thế kỉ XIII – XIV ở Sulu và Mindanao đã tồn tại những hình
thức nhà nước tương đối bền vững (công quốc trên đảo Jolo thuộc quần đảo
Sulu, công quốc Magindanao và Buayan dọc theo triền sông Pulangi thuộc Tây
Nam Mindanao) [3; tr 2-5].
1.1.3 Các chủng tộc và ngôn ngữ
Philippines là một quốc gia đa dân tộc, trên quần đảo này có hơn 100 dân
tộc sinh sống, nói hơn 100 thứ tiếng và thổ ngữ khác nhau thuộc ngữ hệ Nam Á.
Đa số họ là người Mongoloit phương Nam. Các dân tộc phát triển không đồng
đều và trong mọi mặt đời sống xã hội dẫn tới những khác biệt trong thành phần
cơ cấu xã hội và văn hóa giữa các nhóm và trong từng nhóm riêng biệt. Các dân
tộc này có thể chia thành hai nhóm lớn: các dân tộc đồng bằng và các dân tộc
thiểu số miền núi.
Lớn nhất trong các dân tộc đồng bằng là người Visaya (41%), Tagan
(21%), Liocano (10,3%), Bicon (5,6%), Pampango (2,8%), Pangasinan (1,8%),
Icanago, Sampan…[10; tr.46]. Tất cả các dân tộc này cư trú tại miền ven biển
tương đối phẳng. Họ là những thổ dân đầu tiên của quần đảo bị thực dân phương
Tây chinh phục và dày xéo hàng trăm năm. Phong tục, ngôn ngữ, bản sắc dân
tộc và văn hóa của họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của nước ngoài như Tây Ban Nha
và Mỹ.
Góp phần vào bức tranh dân tộc của Philippines có các dân tộc thiểu số
miền núi, khoảng 12%. Đó là các dân tộc và nhóm dân tộc Iphugao, Bontec,
Phật giáo xâm nhập vào Philippines từ rất sớm thông qua quá trình Ấn Độ
hóa Indonesia. Nhưng ảnh hưởng của Phật giáo và Ấn Độ giáo bị chặn lại từ khi
Hồi giáo và Công giáo xâm nhập vào vùng đất này.
Philippines là một quốc gia hải đảo lớn ở Đông Nam Á, với điều kiện tự
nhiên thuận lợi và với một vị trí chiến lược quan trọng ở châu Á – Thái Bình
Dương nên Philippines đã sớm trở thành miếng mồi ngon cho các nước tư bản
phương Tây nhòm ngó. Hơn nữa, trong thời gian này, Philippines vẫn là một
nước nông nghiệp lạc hậu, các điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội đều ở trình độ
thấp so với thế giới lúc bấy giờ nên Philippines cũng không tránh khỏi sự xâm
lược của chủ nghĩa phương Tây vào lúc đó. Tây Ban Nha là một trong những
nước tư bản phát triển, lại luôn muốn mở rộng thị trường và phạm vi ảnh hưởng
trên thế giới. Do vậy, Tây Ban Nha đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược
9
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
9
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
vào khu vực Đông Nam Á, trong đó có Philippines. Cùng với các hoạt động xâm
chiếm thuộc địa và với hoàn cảnh của Philippines lúc đó là điều kiện thuận lợi
để Công giáo truyền bá mạnh mẽ vào quốc gia hải đảo này.
1.2. Quá trình xâm nhập và thôn tính Philippines của Tây Ban Nha
Việc Tây Ban Nha xâm chiếm quần đảo diễn ra vào đầu thời điểm người
Âu bắt đầu có mặt ở Viễn Đông. Đây cũng là thời kì của những phát kiến địa lí
vĩ đại.
Nhằm tìm kiếm con đường về phía Tây dẫn đến Ấn Độ và quần đảo
Maluku giàu hương liệu vì con đường đi về phía đông đã bị người Bồ Đào Nha
– đối thủ chính về hàng hải và thương mại của Tây Ban Nha – kiểm soát, ngày
10 tháng 5 năm 1519, một đoàn tàu thám hiểm của Tây Ban Nha gồm 5 chiếc do
Magellan chỉ huy đã rời bến Seville. Tháng 3 năm 1521, đoàn tàu đã cập bến tại
đảo Cebu. Tại đây, Magellan đã bị giết chếttrong một cuộc đụng độ với người
bản xứ. Bẵng đi một thời gian dài, do bận rộn với các thuộc địa ở châu Mỹ
là vùng phát triển nhất về kinh tế và đông dân nhất của quần đảo), vì họ vấp phải
sức kháng cự mạnh mẽ của người địa phương, đặc biệt là cuộc kháng chiến của
người dân sống ở phía bắc đảo kéo dài đến năm 1590.
Đầu những năm 80 của thế kỉ XV, quá trình chinh phục quần đảo coi như
đã hoàn thành. Biên giới thuộc địa Tây Ban Nha đã bao gồm miền Bắc và trung
tâm đảo Luzon, quần đảo Visayas, bắc Mindanao và đảo Palawan. Nằm ngoài
vòng kiểm soát của người TâyBan Nha là các cư dân vùng nội địa khó xâm nhập
trên đảo Luzon. Hoạt động bành trướng của thực dân Tây Ban Nha xuống miền
Nam quần đảo bị cư dân theo đạo Hồi ở đây chặn đứng.
Kéo dài suốt từ cuối thế kỉ XVI đến nửa sau thế kỉ XIX, cuộc chiến đấu
của người dân theo đạo Hồi ở miền Nam Philippines đã bước vào lịch sử với tên
gọi “cuộc chiến đấu của người Moro”. Ngọn cờ tư tưởng của cuộc chiến đấu này
là khẩu hiệu “bảo vệ tín ngưỡng chân chính”, tức đạo Hồi. Trong những năm từ
1580 đến 1590, thực dânTây Ban Nha đã nhiều lần tấn công xâm chiếm lãnh thổ
trung tâm Mindanao và quần đảo Sulu, nhưng đều không thể đè bẹp nổi sức đề
kháng của các Sultanat ở đây. Đến đây, giai đoạn một của cuộc “chiến tranh
Moro” coi như kết thúc bằng sự thất bại của thực dân Tây Ban Nha. Chẳng bao
lâu sau đó, người Moro Hồi giáo lại tiếp tục cuộc chiến đấu nhằm mở rộng
phạm vi ảnh hưởng của họ.
Sự tồn tại của chế độ thực dân ở Philippines phụ thuộc một phần vào ảnh
hưởng của Giáo hội Công giáo. Không một thuộc địa nào ở Đông Nam Á mà
11
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
11
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
Giáo hội lại giành được vị trí và ảnh hưởng lớn lao như ở Philippines. Là một
tầng lớp đông đảo nhất và ổn định nhất, giáo sĩ chiếm đến 2/3 số người Tây Ban
Nha sinh sống ở quần đảo. Họ có mặt trong mọi ngõ ngách, trong lúc các viên
chức Tây Ban Nha sống tậptrung ở Manila và các trung tâm tỉnh lỵ. Tình hình
này đã khiến giáo sĩ trở thành - dưới mắt người dân bản xứ - kẻ đại diện vừa cho
thống trị lên Philippines trong suốt hơn 300 năm.
Khi tiến hành thực dân hóa Philippines, Tây Ban Nha đã đặt cho mình ba
mục tiêu là: Thứ nhất, giành phần buôn bán hương liệu; Thứ hai, liên hệ với
Trung Quốc và Nhật Bản để mở đường cho sự cải giáo của họ; Thứ ba, làm cho
dân Philippines theo Công giáo. Kết quả, Tây Ban Nha chỉ thành công ở mục
đích thứ ba. Ngày nay có khoảng hơn 90% dân số Philippines là người theo
Công giáo và họ thường tự hào mình là quốc gia theo Công giáo lớn nhất ở châu
Á. Song, một điều phổ biến đó là “người Philippines theo Công giáo qua trung
gian là nền thống trị Tây Ban Nha” [9; tr.27].
Philippines là một quốc gia thế tục, hiến pháp tách biệt nhà thờ và nhà
nước. Do ảnh hưởng của văn hóa Tây Ban Nha, Philippines là một trong hai
quốc gia mà Công giáo La Mã chi phối tại châu Á.
Thiên Chúa giáo đã có nhiều tác động to lớn đến đời sống xã hội của đất
nước này, trong khi đó, những yếu tố bản địa vẫn được gìn giữ. Với sự có mặt
của hai yếu tố bản địa và ngoại lai, văn hóa Philippines là một sự pha trộn hoàn
13
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
13
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
hảo để rồi tạo nên tính đa dạng cho cư dân quần đảo. Chính điều này đã làm cho
Philippines trở nên khác biệt so với các quốc gia Đông Nam Á còn lại nhưng
vẫn mang tính thống nhất của nền văn hóa khu vực.
Năm 1521, theo lệnh của nhà vua Tây Ban Nha, nhà thám hiểm Ferdinand
Magellan, trong hành trình vòng quanh thế giới, đã cập bến đảo Cebu ở miền
Trung Philippines. Khi ở đảo Cebu, Magellan cùng hành đoàn của ông đã thực
hiện nghi lễ rửa tội đầu tiên trong lịch sử Thiên Chúa giáo ở Philippines cho
quần chúng nơi đây. Điều này báo hiệu cho một sự kiện đặc biệt sắp diễn ra trên
quần đảo vùng Đông Ấn này - sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo cùng với sự cai
trị của thực dân Tây Ban Nha. Sau gần một thế kỷ kể từ khi người Tây Ban Nha
mang Thiên Chúa giáo vào quần đảo, hầu hết các vùng đồng bằng, trung du ở
trộn những nghi thức thực hành tôn giáo Thiên Chúa với tín ngưỡng bản địa.
Sự du nhập một tôn giáo độc thần như Thiên Chúa giáo đã làm xáo trộn tín
ngưỡng linh vật giáo lâu đời của người dân bản xứ nơi đây và do đó, trong thời
gian đầu, người Philippines đã phản kháng rất mạnh mẽ nhằm loại trừ một thứ
xấu xa, tội đồ đang phá vỡ những quy tắc thần thánh từ xưa đến nay họ vẫn thực
hiện. Bên cạnh đó, sự tồn tại của Thiên Chúa giáo và chính sách truyền giáo của
thực dân Tây Ban Nha khiến người dân cảm thấy có tội với thần linh khi họ
không thể thực hiện những nghĩa vụ nông nghiệp thường niên đối với những
thần linh của họ và cũng không thể gắn kết với mảnh đất, cây trồng, con vật mà
thần linh đã ban tặng. Người dân nơi đây nhận thấy thần linh của họ bị xúc
phạm nghiêm trọng bởi lẽ cách thức thực hành tôn giáo của họ khác hoàn toàn
so với những gì mà những giáo sỹ phương Tây truyền bá trên lãnh thổ của họ.
Chính vì vậy, họ đã chống trả quyết liệt quá trình truyền giáo của những
giáo sỹ Tây Ban Nha. Họ từ chối tiếp nhận những lối hành xử tôn giáo mới,
cũng như xua đuổi thậm chí giết chết những nhà truyền giáo, trong đó việc
Magellan và nhiều tuỳ tùng của ông bị giết trên đảo Mactan vào tháng 7 năm
1521 là một sự kiện điển hình.
Mặc dù đã thực hiện nhiều chính sách khôn ngoan và đầy bạo lực, thực dân
Tây Ban Nha phải mất rất nhiều thời gian để làm cho người dân địa phương nắm
bắt được những khái niệm cơ bản của Thiên Chúa giáo. Qua thời gian, người
dân Philippines đã quen với sự có mặt của những giáo sỹ phương Tây và tôn
giáo mới mà họ mang lại.
Với chiêu bài xoa dịu và hòa trộn phong tục của những giáo sỹ, người dân
đã bị lầm tưởng về mục đích của những nghi lễ sùng bái mới nhưng chính sách
đó hoàn toàn không thể thay đổi lối sống bản địa của người dân như những nhà
truyền giáo mong muốn.
15
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
15
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
phục chế độ mới. Cơ Đốc hóa dân bản địa được tiến hành song song với bành
trướng quân sự. Việc cư dân trênđảo Luzon và quần đảo Visayas không theo
16
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
16
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
một tôn giáo thống nhất đã cho phép Công giáo mau chóng được truyền bá rộng
rãi. Vào những năm 20 của thế kỉ XVIII, hầu hết nhân dân thuộc địa – khoảng
50 vạn – đã theo Công giáo. Để tưởng thưởng công lao này của Giáo hội, nhà
vua đã phân chia nhiều vùng đất bao la cho các tăng đoàn. Giáo sĩ được trao
quyền trực tiếp quản lý xứ đạo, bao gồm cả thu thuế vốn là nguồn lợi tức chính
của Giáo hội. Lúc đầu, khi chế độ thuộc địa còn chưa vững vàng, Giáo hội đã
khôn ngoan thi hành chính sách mềm dẻo với người bản xứ. Nhưng đầu thế kỉ
XVIII, cùng với việc vị trí của Tây Ban Nha ở quần đảo đã được củng cố và
nhất là với việc chế độ “Encomienda” bị bãi bỏ, Giáo hội đã thực sự trở thành kẻ
bóc lột thuộc địa chủ yếu.
Như vậy, như chúng ta đã biết, trước khi Công giáo được truyền bá vào
Philippines, quần đảo này đang ở trình độ phát triển thấp nhất về mọi mặt. Các
yếu tố quốc gia, dân tộc mới hình thành, chưa bền vững, dân cư phần lớn còn
theo tôn giáo nguyên thủy. Do đó, mục đích truyền giáo của Tây Ban Nha đi
theo xu hướng cải tạo và đồng hóa toàn bộ dân tộc đó. Lúc này, ở Philippines
cũng chưa có một chính quyền trung ương tập quyền thống nhất toàn bộ quần
đảo, cũng như chưa có một tôn giáo chủ đạo làm nền tảng - tư tưởng - chính trị -
đạo đức cho xã hội nên Công giáo đã không vấp phải sự kháng cự quyết liệt nào
từ phía chính quyền đại diện cho nhân dân để bảo vệ nền tảng của xã hội và văn
hóa dân tộc.
Các giáo sĩ Tây Ban Nha đã rất thành công trong việc truyền đạo và thực
hiện các chính sách truyền giáo ở Philippines, do vậy, số tín đồ theo đạo ngày
càng tăng lên.
Qua đây, ta có thể thấy rằng, Công giáo mặc dù được truyền bá vào
đạo, chúng không được cung cấp gì, ít nhất cho tới 1869. Các trẻ em tập viết
bằng que hoặc bằng ngón tay trên những tàu lá chuối hoặc trên cát đựng trong
hộp. Hệ thống dạy học trong những trường học này do một giáo viên, một nhân
vật của thầy tu chủ trì là giữ nguyên những bộ óc đơn giản và để in sâu vào
trong đó mần mống của những sự nhu mì, dễ bảo và tuân thủ.
Những người Tây Ban Nha luôn muốn thống trị người dân Philippin về cả
quyền lực chính trị lẫn tư tưởng tôn giáo. Trên tinh thần đó nhằm nhào nặn đầu
óc những người cần quan tâm như trẻ em và thanh niên.
Các giáo viên là những người trông coi và dạy dỗ trẻ em về mọi mặt từ
những thứ nhỏ nhặt nhất như vệ sinh cá nhân cho đến việc học và thực hành
giáo lí. Đối với các hành vi vi phạm, các giáo viên sẵn sàng dùng roi để sửa dạy.
Những việc mà người dân Philippin thường làm được lặp đi lặp lại mỗi
ngày. Nhờ những công việc đó và sự kiên trì của các “Cha phó” mà Công giáo
18
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
18
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
đã từng bước ngấm dần vào nhanh chóng trở thành món ăn tinh thần của người
dân Philippin và nó ảnh hưởng tới tất cả mọi mặt đời sống xã hội.
Từ thế kỷ XVI cho đến năm 1863 hệ thống giáo dục, trong công việc hành
chính và trong nội dung của công việc này chủ yếu vẫn không thay đổi. Trong
năm ấy, với việc một chính phủ “tự do” mới lên cầm quyền ở Tây Ban Nha,
người ta đã thông qua một đạo luật cải cách giáo dục mà trong số các mục tiêu
khác, người ta đã tìm cách thiết lập một hệ thống trường học hoàn chỉnh cho
hàng trăm năm. Những ý thức tôn giáo của Tây Ban Nha cả ở những người phi
tôn giáo đến những người theo tôn giáo quá mạnh, vì trong một đoạn của đạo
luật có nói: “theo chương trình này thì phải reo rắc những sự giáo dục về tín
ngưỡng Công giáo thiêng liêng càng rộng càng tốt, bằng tiếng mẹ đẻ và trong
các mặt cơ bản của kiến thức sinh hoạt, việc thiếu nó là nguyên nhân chính của
tình hình hiện nay ( tình trạng dốt nát ở thuộc địa) ” [11; tr.64].
việc đưa hệ ý thức Công giáo vào người dân Philippin. Đồng thời với trường học
là hệ thống nhà thờ mọc lên nhan nhản ở khắp mọi nơi, mỗi làng xã của
Philippin điều có nhà thờ. Mọi hoạt động của người dân trong làng điều được tổ
chức bên cạnh nhà thờ. Chính quyền thực dân không những biến nhà thờ thành
trung tâm quyền lực tinh thần và phương tiện để bóc lột nhân dân Philippin mà
còn biến nó thành trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. Tại đây các nghi
lễ tôn giáo diễn ra không phải một cách công thức cứng chắc, buồn tẻ mà luôn
luôn được kết hợp chắt chẽ, nhuần nhuyễn với các hoạt động văn hóa văn nghệ
kể cả các trò chơi giải trí, thể thao, do đó có sức lôi cuốn đặc biệt. Nhà thờ trở
thành chỗ dựa tinh thần của người dân và các cha cố trở thành hình tượng cao cả
của họ. Các tín đồ tin tưởng, phục tùng và trung thành với cha cố của mình một
cách tuyệt đối, với đúng nghĩa là “niềm tin tôn giáo”.
Như vậy, bằng cách thực hiện các chính sách trên, Tây Ban Nha đã thành
công trong việc cải tiến trường học, cải tiến hệ thống giáo dục cho phù hợp với
mục tiêu tôn giáo. Và như vậy, Công giáo đã tạo nên sự thay đổi lớn lao trong tư
tưởng của cư dân nơi đây, nó đã làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cư
dân trên quần đảo, song nó cũng để lại những hệ quả hết sức to lớn và lâu dài
trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
2.3. Chính sách “đồng hóa” văn hóa
2.3.1. Ngôn ngữ
Tây Ban Nha đã trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh hàng đầu
châu Âu trong thế kỷ XVI và nửa đầu của thế kỷ XVII, vị thế đó được tạo nên
bởi thương mại phát triển và sự chiếm hữu thuộc địa. Trong một khoảng thời
20
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
20
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
gian, đế chế Tây Ban Nha thống trị các đại dương nhờ hạm đội tàu giàu kinh
nghiệm, với một sức mạnh bậc nhất toàn cầu.
Hệ thống thuộc địa ở đế chế Tây Ban Nha trải rộng khắp Trung Mỹ
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
21
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
Ban đầu, các giáo sĩ cũng không hề muốn người bản địa học tiếng Tây Ban
Nha, vì họ tự cho mình là đẳng cấp cao, là tầng lớp trên so với người dân
Philippines. Họ muốn duy trì sự tách biệt này và thấy rằng việc ngăn chặn người
dân Philippines có thể duy trì được sự tách biệt đó. Ngoài ra, họ còn lo sợ nếu
người dân Philippines học được tiếng Tây Ban Nha thì sẽ nổi loạn chống chính
phủ. Vì những nguyên nhân khác nhau, các giáo sĩ đã do dự, ngay cả khi nhận
được yêu cầu trực tiếp từ Tây Ban Nha.
Nhưng sau này, họ đã thay đổi suy nghĩ và cho rằng tôn giáo phải được
thực hiện bằng tiếng Tây Ban Nha. Nhưng các giáo sĩ cũng quên một việc chính
đáng tương đương, đó là nghe tiếng ngoại quốc, người bản địa Philippines sẽ
không thể hiểu giáo lý rõ ràng. Khó khăn này hai bên ngang nhau. Nhưng các họ
chọn cách giữ ngôn ngữ của mình và bắt dân theo, tức là các họ muốn mình ổn
định, không thay đổi, mà đòi buộc dân phải thay đổi. Và họ bắt đầu thực hiện
chương trình dạy tiếng Tây Ban Nha trong các trường học ở Philippines. Đa số
dân đã đón nhận để tin Chúa. Do đó, ngôn ngữ của Philippines là ngôn ngữ của
những người Nam Đảo pha tạp tiếng Tây Ban Nha đến trên 30%.
2.3.2. Kiến trúc
Hầu hết các di tích và công trình lịch sử của đảo quốc này đều ghi dấu ấn
từ thời thuộc địa, khi người Tây Ban Nha đến đây nửa thế kỷ trước, mang theo
nhiều ảnh hưởng về văn hóa và kiến trúc của nơi này. Trong suốt thời gian cai
trị của mình trên thuộc địa Philippines, thực dân Tây Ban Nha đã xây dựng rất
nhiều công trình mang đậm kiến trúc Tây Ban Nha nhằm phục vụ các nhu cầu
khác nhau.
Các nhà truyền giáo Thiên Chúa giáo theo chân binh lính từ hòn đảo này
sang hòn đảo khác, để tìm kiếm những con chiên thổ dân. Các thuỷ thủ Tây Ban
Nha nhanh chóng lập ra các nhà thờ và pháo đài, trong khi vẫn tìm kiếm vàng và
các loại gia vị.
như biệt thự, lâu đài, nhà thờ, trường học và đặc biệt là khu toàn nhà dành riêng
cho bộ máy cai trị Tây Ban Nha.
Thời gian xây dựng hệ thống Intramuros kéo dài hàng trăm năm, qua nhiều
lãnh đạo cai trị thuộc địa. Khu tường ban đầu dựng bằng gỗ, nhưng đến năm
1590, vị tổng đốc đầu tiên của Manila người Tây Ban Nha là Santiago cho phá
bỏ khu tường gỗ và xây tường thành bằng đá dày kiên cố (cao tới 6m, dài
4,5km) và hệ thống hào sâu bao quanh, đồng thời cho xây thêm tháp canh và
pháo đài, lấy tên là pháo đài Ford Santiago. Ban đầu, có tám cổng vào thành, tất
23
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
23
Niên luận năm 3 GVHD: Th.S Trần Thị Hợi
cả đều có cầu rút, có lính canh gác. Cư dân trong thành chỉ là người Tây Ban
Nha, dân bản địa không được phép vào trong thành. Nếu muốn trao đổi mua
bán, người ở phía trong thành sẽ ra ngoài cổng thành mua bán với người dân bản
địa. Cầu nối bị rút lên và cổng thành thường được đóng từ 11 giờ đêm đến 4 giờ
sáng. Nhưng sau trận động đất năm 1852, cầu không còn bị rút lên và cửa thành
cũng không còn bị đóng lại nữa.
Năm 1574, pháo đài Santiago bị phá hủy trong cuộc tấn công của hải tặc
Limahong. Rồi nó được xây lại bằng đá năm 1589 – 1592. Pháo đài một lần nữa
bị phá hủy bởi trận động đất năm 1645. Sau khi được sửa chữa, nó trở thành sở
chỉ huy của quân đội Anh từ năm 1762 – 1764. Tiếp đó là nơi đóng quân của
người Philippines và quân đội Mỹ. Pháo đài quân sự Ford Santiago nơi mà hàng
ngàn anh hùng chiến đấu cho độc lập Philipines bị cầm tù trong thời kỳ thuộc
địa và thế chiến thứ hai [17].
Không chỉ các công trình kiến trúc phục vụ cho mục đích quân sự, Tây
Ban Nha cũng đã xây dựng rất nhiều công trình kiến trúc phục vụ cho tôn giáo
nhằm thúc đẩy phát triển Công giáo ở đất nước này.
Trong đó phải kể đến nhà thờ thánh Augustin trong bức tường thành
Intramuros. Được xây dựng từ năm 1587 đến năm 1606 mới hoàn thành. Đây là
nhạc bất hủ như Romance de amor được người dân Philippines độc tấu một cách
thường xuyên và thành thục.
“Romance de amor - đôi khi còn mang tên gọi “Ca khúc nghệ thuật” là một
thể loại âm nhạc hòa tấu thính phòng dành cho giọng ca và bè đệm đàn. Thuật
ngữ này xuất hiện ở Tây Ban Nha thoạt đầu mang ý nghĩa “Bài hát thế tục” được
sáng tác bằng tiếng Tây Ban Nha để phân biệt với các ca khúc Tôn giáo bằng
tiếng Latinh. Dần dần, ngôn từ Romance được phổ biến, phát triển rộng rãi ra
ngoài biên giới Tây Ban Nha và trở thành tên gọi cho một thể loại thơ ca trữ tình
và một thể loại âm nhạc dành cho giọng ca.” [18].
Trong nghệ thuật, không thể không nhắc đến các loại hình múa hát. Điệu nhảy
Tinikling là điệu nhảy truyền thống của Philippines bắt nguồn Tây Ban Nha.
Như vậy, trong suốt thời gian cai trị của mình, đời sống sinh hoạt, nghệ
thuật của thực dân Tây Ban Nha đã ăn sâu và in đậm, rõ nét trong người dân
Philippines .
2.3.4. Ẩm thực
25
SVTH: Nguyễn Ngọc Kiều Hoa Lớp: DPH K35
25