A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vào cuối thế kỷ XX, bản đồ địa - chính trị thế giới đã thay đổi về
căn bản với sự thăng trầm của nhiều cường quốc. Sau khi Liên Xô tan rã
(25/12/1991), mặc dù Liên bang Nga được kế thừa 70% tiềm lực kinh tế, quân
sự, vị trí trong các tổ chức quốc tế của Liên Xô, nhưng cùng với những khó
khăn trong giai đoạn chuyển đổi ở thập niên 90, tình trạng khủng hoảng toàn
diện về kinh tế, chính trị, xã hội đã kéo nước Nga tụt hậu xuống so với Liên
Xô trước đây cũng như những nước TBCN mới phát triển.
Bước sang thế kỷ XXI, trong quan hệ quốc tế xu thế chủ đạo là quá
trình toàn cầu hoá, xu thế tăng cường sự liên kết và canh tranh về mọi mặt
kinh tế, chính trị, quân sự và khoa học công nghệ giữa các quốc gia, khu vực
trên thế giới. Việc khôi phục lại vị trí của nước Nga trên trường quốc tế có ý
nghĩa hết sức quan trọng không chỉ riêng với Liên bang Nga mà cả cục diện
thế giới.
1.2. Liên bang Nga bước vào ngưỡng cửa thế kỷ mới với những khó
khăn chồng chất, tình trạng khủng hoảng toàn diện về kinh tế - xã hội sau gần
một thập kỷ thử nghiệm và tiến hành đường lối cải cách thị trường dưới sự
cầm quyền của Tổng thống Boris Yeltsin (1992 - 1999). Nước Nga đang đứng
bên bờ vực thẳm.
Trong thời điểm lịch sử vô cùng quan trọng đó, xuất hiện một con
người mà hầu như không được thế giới biết đến trước khi nắm quyền Tổng
thống nước Nga đã không những làm thay đổi hoàn toàn hình ảnh nước Nga
mà bằng sự thông minh, khôn khéo, quyết đoán và bản lĩnh hiếm có đã tạo ra
sự cân bằng tưởng như không tìm lại được trên chính trường quốc tế. Đó
chính là V.Putin.
1
Cuộc chuyển giao quyền lực giữa Boris Yeltsin và Vladimir Putin ngày
31/12/1999 đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử nước Nga - thời kỳ hồi
sinh và trỗi dậy. Trong hai nhiệm kỳ của minh, V.Putin đã thực hiện đường
lối phát triển kinh tế - xã hội đạt được sự chuyển biến to lớn về mọi mặt kinh
Quốc) ấn hành và đã được Nxb Lao động dịch sang tiếng Việt. Như tên gọi
của cuốn sách, tác giả tập trung trình bày quá trình hoạt động của V.Putin từ
khi còn làm việc cho KGB (1975) cho đến khi trở thành Tổng thống thứ hai
của nước Nga (2000). Qua đó những sự kiện, những vấn đề nổi cộm của nền
kinh tế, chính trị - xã hội Nga giai đoạn 1991 - 2000 được tái hiện. Đồng thời
tác giả cũng đã có những đánh giá về cá nhân con người và khả năng lãnh đạo
đất nước của hai vị Tổng thống đầu tiên của nứơc Nga: Boris Yeltsin và
Vladimir Putin.
Phùng Thuấn Hoa (2004), “Căn bệnh của nền kinh tế Nga hiện nay là gì ”,
đăng trên Tạp chí Quản lý số 3 của Trung Quốc đã được Thông tấn xã Việt
Nam dịch sang tiếng Việt. Bằng những số liệu kinh tế cụ thể, tác giả đã khẳng
định những thành công to lớn trong việc khôi phục kinh tế Nga trong nhiệm
kỳ thứ nhất của Tổng thống V.Putin, đồng thời tác giả cũng nêu lên những
hạn chế lớn nhất của nền kinh tế Nga như khả năng thu hút đầu tư, kỹ thuật
lạc hậu.
Nguyễn Đình Hương chủ biên (2005), “Chuyển đổi kinh tế Liên bang
Nga lý luận, thực tiễn và bài học kinh nghiệm”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu của các tác giả trình bày quy
luật, các giai đoạn của nền kinh tế chuyển đổi ở Liên bang Nga như tư nhân
hoá, thị trường và việc giải quyết các vấn đề xã hội… Ngoài ra cuốn sách
cũng phân tích triển vọng của nền kinh tế Liên bang Nga và rút ra những bài
học kinh nghiệm cho các nền kinh tế chuyển đổi.
3
Nguyễn An Hà chủ biên (2008), “Liên bang Nga những năm đầu thế
kỷ XXI”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Trong cuốn sách này, các tác giả tập
trung phác hoạ diện mạo phát triển của LB Nga trong thập kỷ đầu của thế kỷ
XXI. Trên cơ sở phân tích bối cảnh mới cả quốc tế, khu vực và trong nước,
những nhân tố tác động đến quá trình phát triển của nước Nga những năm đầu
thế kỷ XXI; những vấn đề cơ bản trong đường lối đối nội cũng như đối ngoại
của Nga được chọn lọc phân tích, đánh giá.
Nguyễn Thanh Huyền (2007), Sự vươn lên của nước Nga thời Tổng
thống Putin, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 11. Trong bài viết này tác giả
đánh giá khái quát sự trỗi dậy của nước Nga. Đó là sự vươn lên về kinh tế,
quân sự và sự củng cố về chính trị và đối ngoại.
Ngoài ra, trong quá trình khảo sát chúng tôi đã tiếp cận được một số
luận văn thạc sĩ viết về LB Nga như: Trịnh Thị Thắm (2008) “Sự phục hưng
của Liên bang Nga dưới thời Tổng thống V.Putin và ảnh hưởng của nó đến
quan hệ Nga - Trung”… Các kênh thông tin Thông tấn xã Việt Nam, Tạp chí
chuyên ngành như: Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu quốc tế, Thời báo kinh tế,
Nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới... đã có nhiều bài viết của các học giả
trong và ngoài nước đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội của LB Nga trong
những năm đầu thế kỷ XXI.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã phán ánh khá đa dạng tình
hình LB Nga dưới các góc độ đơn lẻ khác nhau như về từng lĩnh vực kinh tế,
chính trị, quân sự, đối ngoại… trong những khoảng thời gian hạn chế như ở
thập niên 90 của thế kỷ XX hay những năm đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, chưa
có công trình nào trình bày cụ thể, hệ thống, đánh giá được đường lối phát
triển kinh tế - xã hội của LB Nga cũng như những thành tựu của nó dưới sự
5
lãnh đạo của Tổng thống V.Putin trong suốt hai nhiệm kỳ cầm quyền (2000 -
2008) trong sự đối sánh với thời kỳ khủng hoảng dưới thời Tổng thống
B.Yeltsin (1992 - 1999). Thế nhưng, những công trình nghiên cứu của các tác
giả nêu trên là nguồn tài liệu quý giá cho chúng tôi tham khảo để hoàn thành
đề tài luận văn của mình.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế - xã hội của LB Nga dưới
thời Tổng thống V.Putin (2000 - 2008)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế
Tài liệu tham khảo khác: Bao gồm các công trình nghiên cứu của các
học giả trong và ngoài nước đã được xuất bản thành sách. Các Tạp chí chuyên
ngành như: Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Lịch sử,
Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới…
Các bài viết được đăng tải trên các báo Nhân dân, Thời báo kinh tế, báo
Quốc tế... Các kênh thông tin tham khảo hàng ngày, Tài liệu tham khảo đặc
biệt của Thông tấn xã Việt Nam; Học viện Quan hệ quốc tế, Viện Nghiên cứu
châu Âu; Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam và một số trang Website:
http// www. Kremlin.ru, www.Vnanet.vn (www.Vnageci.vn), www.mid.ru và
một số Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ có liên quan…
6. Đóng góp của luận văn
Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ, với trình độ ngoại ngữ còn hạn
chế, đề tài xác định một số đóng góp sau:
7
Qua luận văn cung cấp cho chúng ta hiểu rõ về đường lối, biện pháp
của quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như những thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân của nó. Để từ đó có cái nhìn toàn diện, khách quan, đánh giá
chính xác về thực trạng, vai trò, vị trí của nước Nga mới trên trường quốc tế
cũng như trách nhiệm, vai trò của Tổng thống với tư cách là người đứng đầu
nhà nước đối với sự phát triển của đất nước.
Nghiên cứu về tình hình kinh tế - xã hội LB Nga sẽ giúp cho mối quan
hệ Nga - Việt ngày càng được củng cố, phát triển, có thể vận dụng được
những kinh nghiệm trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đề tài là sự bổ sung thêm cho nguồn tư liệu nghiên cứu, giảng dạy về
LB Nga thời kỳ hậu Xô viết.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đâu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Ch¬ng 1. Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã
hội Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ XXI
của các công ty xuyên quốc gia trong các thập kỷ qua đã đánh dấu một bước
9
tiến quan trọng trong lịch sử phát triển của quan hệ kinh tế - thương mại
quốc tế.
Toàn cầu hóa như là xu thế khách quan không thể cưỡng lại được của
thời đại do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của kinh tế và thị trường thế
giới được xúc tiến bởi những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật và công nghệ. Hiện nay, nó đã và đang tác động mạnh mẽ đến
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và ảnh hưởng to lớn đến tất cả các lĩnh vực hoạt
động của đời sống nhân loại.
Trong thời đại ngày nay không một quốc gia, một dân tộc nào có thể
phát triển nếu không hội nhập kinh tế quốc tế và đứng ngoài quá trình toàn
cầu hoá. Đường lối phát triển của một quốc gia trong giai đoạn hiện nay phụ
thuộc không chỉ vào tiềm lực, vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong
nước mà còn chịu sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực. LB Nga luôn
khẳng định rằng những thành tựu mà Nga đạt được phụ thuộc rất nhiều vào
yếu tố bên ngoài. LB Nga quan niệm rằng “Nga chỉ có thể tồn tại và phát
triển được trong biên giới hiện nay của mình như một cường quốc năng động,
luôn thực thi các chính sách đối vói mọi vấn đề đang hiện diện của thế giới
trên cơ sở tính toán thực tế của mình” [6, 13]. Như vậy, tham gia toàn cầu hoá
là một đòi hỏi khách quan, vừa là nhu cầu nội tại cho sự phát triển kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia. Toàn cầu hoá là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh,
diễn ra ở nhiều cấp độ, quy mô với nhiều phương thức khác nhau.
Bước sang thế kỷ XXI, cùng với quá trình toàn cầu hóa, sự vận động và
phát triển của thế giới còn chịu tác động mạnh mẽ của nhiều nhân tố khác
như: sự phát triển nhanh của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới đã đưa
nền kinh tế thế giới chuyển dần sang nền kinh tế tri thức; xu thế hòa bình hợp
tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế từ sau chiến
tranh lạnh kết thúc. Sự thay đổi đó của tình hình quốc tế có tác động to lớn
đến con đường phát triển các nước trên thế giới, trong đó có LB Nga. LB Nga
và đến lượt nó tác động trở lại đối với sự phát triển của thế giới nói chung và
của các khu vực, các nước trên thế giới. Bởi thế “cấu trúc chiến lược quốc tế
đã phát triển từ nhất siêu đa cường sang đa cực hóa vừa có nhân tố trỗi dậy
của EU, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ, vừa có sự gia tăng của chủ nghĩa đơn
cực và bá quyền của Mỹ” [6,14]. Theo đó, Mỹ vẫn là một quốc gia nắm giữ
vai trò điều khiển “cuộc chơi” toàn cầu, tiếp tục gia tăng chủ nghĩa đơn
phương, lấn át vai trò của Liên hợp quốc trong việc giải quyết các vấn đề
quốc tế như chống chủ nghĩa khủng bố, ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân…
Lo sợ sự lớn mạnh của Nga, Mỹ tăng cường kiềm chế Nga về mọi mặt kinh
tế, chính trị và quân sự, dẫn tới nguy cơ một cuộc chạy đua vũ trang mới bằng
việc quân sự hóa khoảng không vũ trụ. Theo lời bình luận của Đại tá Viktor
Litovkin “Người Mỹ đang lượn quanh nước Nga bằng ra đa và đang lắp đặt
tên lửa chống tên lửa đạn đạo gần biên giới chúng ta. Đó là vấn đề có tính
cách nghiêm trọng. Chúng ta đang bị kích động lao vào một cuộc chạy đua vũ
trang mới” [41, 15]. Chính điều này nó đặt ra yêu cầu cho Nga phải có những
điều chỉnh kịp thời trong đường lối phát triển đất nước để đối trọng với Mỹ.
Tuy vậy, bản thân Mỹ đang gặp nhiều khó khăn khi phải sa lầy trong chiến
tranh Irắc, mâu thuẫn với Iran về vấn đề “vũ khí hạt nhân” hay không tự ngăn
chặn được Bắc Triều Tiên trong các vụ thử tên lửa đạn đạo.
Cùng với sự lớn mạnh của đồng minh thân cận ở bên kia bán cầu, sự
trỗi dậy của EU và ngày càng mở rộng ảnh hưởng của mình sang phía Đông
đã ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của LB Nga. Với việc hàng loạt nước Đông
Âu lần lượt gia nhập vào NATO làm cho không gian địa - chính trị của Nga
ngày càng hẹp lại. Đặc biệt những động thái mới đây của Mỹ và NATO bố trí
tên lửa đánh chặn ở Ba Lan và Cộng hòa Séc làm cho Nga rất bất bình.
Bước sang đầu thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trở
thành tâm điểm chú ý của thế giới, được đánh dấu bằng sự phục hồi của nền
12
kinh tế Nhật Bản, sự phát triển mạnh mẽ của Ấn Độ, Trung Quốc và sự năng
động của khu vực ASEAN đã làm cho “cơ cấu quyền lực thế giới có sự thay
gây ảnh hưởng trên thế giới cũng như trong khu vực [41, 16].
Trên lĩnh vực kinh tế, bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, sự phát
triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới mà hạt nhân là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung
Quốc, Ấn Độ và LB Nga, Braxin, Iran đã phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai xu
thế: nhất siêu và đa cường.
Trước hết, dựa vào tiềm lực kinh tế là một trong những nhà xuất khẩu
và nhập khẩu lớn nhất thế giới, Mỹ đã trở thành động lực của nền kinh tế thế
giới. Hệ thống tài chính của Mỹ có ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế thế giới.
Giờ đây, Mỹ đang nỗ lực nhằm khôi phục vị trí thủ lĩnh của mình trong trật tự
thế giới đơn cực, duy trì vị trí siêu cường về chính trị, quân sự và kinh tế.
Tuy nhiên, nền kinh tế thế giới đang có sự chuyển dịch theo hướng
hình thành cấu trúc thế giới đa trung tâm. Cùng với Mỹ, các trung tâm thế
giới mới đang hình thành, bao gồm: EU, Trung Quốc, Ấn Độ, ngoài ra là LB
Nga, Braxin, Iran, những trung tâm này đang tác động mạnh mẽ với vai trò
thống trị của Mỹ trong nền kinh tế, chính trị thế giới, đồng thời cũng đang
cạnh tranh với nhau kịch kiệt để củng cố vị thế của mình trên trường quốc tế.
Theo thống kê “EU hiện có GDP xấp xỉ với Mỹ, chiếm 40,6% xuất khẩu
và 45,2% nhập khẩu toàn cầu, vượt trội các trung tâm khác về tỷ trọng thương
mại toàn cầu hay thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Theo đánh giá của
Economic Intelligence Unit “đến năm 2020 Châu Á sẽ chiếm hơn 43% GDP
của toàn cầu, trong đó Trung Quốc là 19,4%, Nhật Bản là 4,5% và theo dự
báo lạc quan đến 2020 Trung Quốc sẽ vượt qua 30 ngàn tỷ USD (tính theo
ngang giá sức mua)” [6, 19]. Theo hướng xuất khẩu trữ lượng thiên nhiên và
14
nhập khẩu hàng hóa thành phẩm, sự phát triển của LB Nga liên quan chặt chẽ
với EU, Trung Quốc, Nhật Bản. Đặc biệt là những ưu tiên trong lĩnh vực hợp
tác công nghệ quốc phòng và năng lượng nguyên tử với Trung Quốc và Ấn
Độ. Bởi vậy, bước sang thế kỷ XXI, LB Nga phải chú ý đến chiến lược phát
triển kinh tế đối ngoại, tăng cường liên kết kinh tế với các trung tâm đã hình
thành, đồng thời phải xây dựng cho mình những liên kết mới để vừa tăng
chiến lược “Đại Trung Á” nhằm mục đích đưa các quốc gia trong khu vực ra
khỏi ảnh hưởng độc quyền của Nga và tăng cường ảnh hưởng của Oasinhtơn.
Thách thức nữa đối với Nga còn liên quan tới những nỗ lực của Trung Quốc
trong việc chuyển hướng cải tổ tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) từ lĩnh
vực hợp tác an ninh quốc phòng sang hợp tác toàn diện. Trung Quốc đang nỗ
lực hình thành một khu vực mậu dịch tự do trong khuôn khổ SCO. Thế nhưng
đối với Nga và Trung Á “nó chứa đựng nhiều rủi ro khi hàng hóa của Trung
Quốc sẽ chèn ép thị trường của các nhà sản xuất địa phương, còn lực lượng
lao động Trung Quốc nhập cư sẽ làm thay đổi tình hình xã hội, cơ cấu dân số
của những nước này ” [6, 24].
Như vậy trước xu thế “li tâm”, LB Nga nỗ lực tăng cường hợp tác với
các nước SNG. Việc tăng cường xu thế liên kết trong SNG đóng vai trò cực
kỳ quan trọng, nó liên quan tới việc củng cố vị thế chính trị và kinh tế của LB
Nga trên thế giới cũng như sự thay đổi trật tự thế giới. Sự cạnh tranh ngày
càng quyết liệt của các trung tâm toàn cầu sẽ tác động tới chính sách của LB
Nga theo hướng hình thành nhóm liên kết kinh tế khu vực năng động và phát
triển. Đặc biệt trong thời gian gần đây, ý nghĩa của SNG đối với LB Nga ngày
càng tăng lên cả về phục hồi sự giảm sút dân số và duy trì vị thế của một
trong những cường quốc trên thị trường năng lượng thế giới.
16
Đối với Liên minh châu Âu (EU), đây là một trong những ưu tiên trong
đối ngoại của LB Nga sau SNG. Nhìn chung, quan hệ EU - LB Nga là tương
đối suôn sẻ về những dự án về bốn không gian chung, bao gồm không gian
kinh tế, không gian an ninh bên ngoài, không gian tự do về an ninh và tư
pháp, không gian về khoa học giáo dục và văn hóa. Tuy nhiên, trong thời gian
qua, do những biến động của bối cảnh quốc tế, đặc biệt là vấn đề an ninh năng
lượng, vấn đề Trung Đông, vấn đề vũ khí hạt nhân và việc Mỹ và NATO triển
khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở châu Âu có nhiều tác động tới quan hệ giữa
LB Nga và EU.
Trong quan hệ giữa LB Nga và EU thách thức lớn nhất về đối ngoại đó
Nếu như quan hệ đầu tư thương mại có dấu hiệu tích cực thì hợp tác về
an ninh chính trị lại có nhiều vấn đề. Mỹ liên tục mở rộng ảnh hưởng của
mình ở SNG, chèn ép không gian chính trị của Nga. Mỹ luôn can thiệp vào
công việc nội bộ của LB Nga, phê phán đường lối cải tổ của LB Nga, ngăn
cản LB Nga hội nhập kinh tế thế giới... Theo lời của ông Yuri Ushakov, đại
sứ LB Nga tại Mỹ cho rằng “đã nhiều năm từ khi Mỹ và Nga không còn là kẻ
thù, song chúng ta chưa hoàn toàn là đồng minh. Chúng ta phải học để là bạn
bè và để hợp tác trong thế giới ngày nay” [6, 34]. Tình hình đó đặt ra cho LB
Nga phải có sự điều chỉnh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt
là chính sách hợp tác toàn diện với Mỹ nhằm đảm bảo quyền lợi của LB Nga
trên trường quốc tế.
Trong quan hệ với Trung Quốc, những năm đầu thế kỷ XXI, kinh tế
Trung Quốc tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Xét về tổng lượng, Trung Quốc trở
thành nước đứng đầu thế giới về sản xuất công nghiệp, đứng thứ hai về thu
hút đầu tư nước ngoài và là nước lớn thứ ba về thương mại, GDP tăng trưởng
bình quân hàng năm là 9%. Tuy nhiên, những rủi ro đối với nền kinh tế rất
18
lớn đó là nguy cơ vơi cạn nguồn tài nguyên, nguồn năng lượng dầu khí...
Trong điều kiện như vậy vai trò của LB Nga vô cùng to lớn, hai nước trở
thành đối tác chiến lược hướng tới thế kỷ XXI.
Về phía Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung - Nga là mối quan hệ tốt
nhất trong quan hệ với các nước lớn, Nga còn ý nghĩa và tác dụng chiến lược
không thể thay thế đối với việc Trung Quốc trở thành nước lớn. Còn đối với
LB Nga quan hệ hợp tác chiến lược tốt đẹp với Trung Quốc là cơ sở để phát
triển mối quan hệ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như có thêm
“đồng minh” trong cuộc chạy đua với Mỹ về mọi mặt.
Trong chiến lược đối ngoại hướng về phía đông, LB Nga chú ý đến
ASEAN. LB Nga thực sự trở thành đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN từ
tháng 7/1996 và dần đạt được nhiều bước tiến quan trọng nhờ vào sự nỗ lực
của cả hai phía. ASEAN ngày càng trở thành khu vực quan trọng trong khu
hoảng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và nâng cao tiềm lực, vị thế của
LB Nga trên trường quốc tế.
Lịch sử phát triển của LB Nga trong thập niên 90 của thế kỷ XX gắn
liền với vai trò của Tổng thống B.Yeltsin là một thời kỳ đầy biến động và khó
khăn. Những khó khăn đặt ra đối với LB Nga là rất lớn, đó là sự tồn tại khá
lâu và dai dẳng của mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung thời kỳ LB Nga
nằm trong Liên bang Xô Viết. Sự độc quyền của nhà nước kéo dài dẫn đến
tình trạng xơ cứng trong quản lí, tách rời thị trường trong nước với thị trường
thế giới, sản xuất với tiêu dùng, kìm hãm sự phát triển kinh tế. Tổng thống
B.Yeltsin đã kiên quyết phá vỡ toàn bộ cơ sở kinh tế - xã hội cũ bằng việc đẩy
mạnh thực hiện cải cách kinh tế thị trường nhằm mục tiêu xây dựng một cách
nhanh nhất cơ sở kinh tế cho mô hình nhà nước mới. Đường lối cải cách kinh
20
tế của LB Nga dưới thời Tổng thống B.Yeltsin có rất nhiều nội dung, song có
thể khải quát thành ba nội dung cơ bản là cải cách tài chính - tiền tệ, tự do hoá
thương mại và cải cách chế độ sỡ hữu.
Trong đống nổ nát, hỗn độn của nền kinh tế - xã hội do những sai lầm
bởi chính sách cải tổ dưới thời Gocrbachov, giới cầm quyền LB Nga đứng
đầu là B.Yeltsin đã nhanh chóng thành lập một Chính phủ đủ mạnh để thực
hiện cải cách. Thủ tướng G.Gaidar là người đầu tiên được chọn để giao trọng
trách xây dựng đường lối cải cách kinh tế với mong muốn nhanh chóng đưa
nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường. Thủ tướng G.Gaidar đã lựa
chọn “liệu pháp sốc”, với mũi nhọn là tự do hoá kinh tế, tư nhân hoá và hạn
chế tối đa vai trò điều tiết của nhà nước. Đây là giải pháp khá đồng bộ, triệt
để, nhất quán trong việc áp dụng nhanh nhất những biệp pháp mạnh làm thay
đổi toàn bộ những cơ sở của nền kinh tế, đưa nó sang vận hành theo những
nguyên lý cơ bản của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thực hiện “liệu pháp
sốc” đã không đưa lại kết quả như mong muốn của các nhà cải cách, thậm chí
còn làm cho nền kinh tế Nga suy thoái nghiêm trọng và không thể kiểm soát.
Trước tình hình đó, Tổng thống B.Yeltsin buộc phải đi đến quyết định thay
trình tư nhân hoá trong tất cả các ngành kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực dịch
vụ, thương mại, công nghiệp và nông nghiệp, trong đó sở hữu nhà nước chỉ
chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 3 - 5 % [42].
Cùng với việc thực hiện tư nhân hoá, từ đầu năm 1992, LB Nga cũng
thực hiện chính sách tự do hoá giá cả và tự do buôn bán. Chỉ sau một thời
gian ngắn, có tới 95% hàng hoá cùng một lúc được giải phóng khỏi sự kiểm
soát của nhà nước để cho thị trường tự điều tiết. Về nội thương, hệ thống thu
mua, buôn bán của nhà nước hầu hết bị xoá bỏ, khuyến khích tư nhân tham
22
gia buôn bán. Còn về ngoại thương, nhà nước chủ trương thực hiện chính
sách mở cửa, đẩy mạnh nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.
Những chính sách mạnh mẽ của nhà nước đã giải quyết được tình trạng khan
hiếm của hàng hoá, song giá cả lại tăng vọt tới 10 đến 12 lần. Vai trò điều tiết
của nhà nước không còn, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là tình trạng lạm phát
với tốc độ phi mã : 200% (1991), 2510% (1992), 970% (1993), 220% (1994),
130% (1995), 21,8% (1996), 11% (1997), 84,4% (1998) và 36,5% (1999) [42].
Hậu quả mà nền kinh tế Nga phải gánh chịu đó là tình trạng suy thoái
kéo dài, GDP luôn tăng trưởng ở mức âm: -15% (1991), -18% (1992), -15,5%
(1993), -12,6% (1994), -6% (1995), -5% (1996), đến năm 1997, lần đầu tiên
GDP tăng trưởng dương, đạt 0,4% [42]. Tuy nhiên, dấu hiệu phục hồi của nền
kinh tế Nga chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn để rồi cơn khủng hoảng tài
chính - tiền tệ và sự phá giá của đồng rúp (17/8/1998) đã kéo GDP của LB
Nga tụt xuống con số âm với -4,6%. Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước cũng ở
trong tình trạng thâm hụt triền miên với các chỉ số âm ngoại trừ năm 1992
(xem Phụ lục1).
Trong bối cảnh nền kinh tế ảm đạm như vậy, các lĩnh vực kinh tế của
LB Nga ở thập niên 90 bị sa sút nghiệm trọng. Sản lượng công nghiệp LB
Nga trong tổng sản lượng công nghiệp toàn thế giới thời gian 1992 - 1997
giảm 2 lần tức là từ 3,5% xuống 1,8%, trong khi đó sản lượng công nghiệp
của Mỹ dù có giảm nhẹ, song vẫn chiếm tỷ trọng cao (từ 17,2% xuống
thời là nguồn gốc của tình trạng chảy vốn ra nước ngoài với số lượng lớn
khoảng 20 tỷ USD mỗi năm dưới các hình thức kinh doanh gian lận, trốn lậu
thuế hoặc để rửa tiền bất hợp pháp… Tổng nợ nước ngoài của LB Nga trước
khi V.Putin lên nắm chính quyền lên tới 158,4 Tỷ USD. Theo nhận xét của tờ
24
báo Berlin từ “một nhà nước bị moi rỗng ruột và nhiều năm phải nhờ vào
những khoản tín dụng quốc tế để tồn tại” thì rất không dễ dàng để xây dựng
nên “một xã hội tự do, nở hoa và giàu có”.
Kết qủa phản ánh thực trạng kinh tế LB Nga giai đoạn 1992 - 1999
được cả thế giới biết đến đó là vị trí của nền kinh tế LB Nga trong bảng xếp
hạng các nền kinh tế thế giới. Theo đánh giá của WB, GDP của LB Nga trong
thập niên 90 liên tục giảm, năm 1997 đạt 403,5 tỷ USD, chỉ chiếm 1,7% GDP
toàn thế giới (xếp thứ 12), đến năm 1998 GDP giảm xuống chỉ còn 337,9 tỷ
USD và tụt xuống thứ 16. Theo đó, GDP bình quân đầu người cũng giảm
nhanh, từ chỗ xếp thứ 59 trong bảng tổng xếp hạng năm 1997 đã tụt xuống
thứ 62 chỉ sau một năm. Vì vậy, LB Nga bị xếp vào hàng các quốc gia có mức
thu nhập ở mức trung bình.
Như vậy, trong thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều nước cùng chung
bối cảnh với LB Nga như Việt Nam, Trung Quốc, các nước Trung - Đông Âu
cùng thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, mức độ, kết quả có khác
nhau và những giai đoạn khủng hoảng nhẹ là không thể tránh khỏi nhưng
không phải rơi vào thảm cảnh suy thoái nặng nề nền kinh tế - xã hội như ở LB
Nga. Thực trạng đó của nền kinh tế xã hội Nga là thách thức rất lớn đối với
giới lãnh đạo Nga trong việc ổn định nền kinh tế trong nước cũng như việc
tìm kiếm vị trí cường quốc của mình trên trường quốc tế.
1.3.2. Tình hình chính trị - xã hội
Sau khi lên cầm quyền nhà nước, Tổng thống B.Yeltsin đã khẳng định
quyết tâm xây dựng nước Nga đi theo con đường TBCN sau khi Liên Xô sụp
đổ là “sự trở lại thế giới văn minh sau khi đã rời bỏ nó trong 70 năm”. Thế