TRẦN HOÀNG DŨNG
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HOÀNG DŨNG
NGÀNH TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM
KHÓA II/2017
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HOÀNG DŨNG
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
2.3. Nhận xét, đánh giá về thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn
huyện Củ Chi ............................................................................................................ 51
Chương 3: DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ PHÒNG
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI .......................... 62
3.1. Dự báo khả năng phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới ............................................................ 62
3.2. Giải pháp tăng cường hiệu quả phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn
huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới ..................................... 66
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 81
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 86
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1
ANTT
: An ninh trật tự
2
CAND
: Công an nhân dân
3
CQĐT
: Thành phố Hồ Chí Minh
9
UBND
: Ủy ban nhân dân
10
KSV
: Kiểm sát viên
11
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê các hình thức mô hình tự quản trên địa bàn huyện Củ Chi (Giai
đoạn từ năm2014 đến năm 2018)
Bảng 2.2. Thống kê về hoạt động tuyên truyền trong phong trào Toàn dân bảo vệ an
ninh Tổ quốc trên địa bàn huyện Củ Chi (Giai đoạn từ năm 2014 đến năm
2018)
Bảng 2.3. Thống kê kết quả điều tra, khám phá tội phạm của Công an huyện Củ Chi
(Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018)
Bảng 2.4. Thống kê kết quả thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết các vụ án
các cấp đã triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều nội dung, biện pháp đấu tranh phòng,
chống tội phạm, thu được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, THTP hiện nay vẫn
diễn biến phức tạp, đặc biệt là tại một số địa phương cấp huyện, thuộc vùng ven của
các thành phố lớn trong đó có huyện Củ Chi, một huyện ngoại ô của TP.HCM.
Nằm cách trung tâm TP.HCM khoảng 60km về phía Tây Bắc, Củ Chi tiếp giáp
với nhiều địa phương khác như: Huyện Trảng Bàng (Tây Ninh), huyện Hóc Môn
(TP.HCM), Thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương), huyện Đức Hòa (Long An). Với
hệ thống hạ tầng đồng bộ và điều kiện vị trí địa lý thuận lợi, Củ Chi hiện nay là địa
phương thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thuận
lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần nâng cao chất lượng đời sống
nhân dân. Bên cạnh những mặt tích cực về phát triển kinh tế - xã hội nêu trên, huyện
Củ Chi vẫn tồn tại nhiều khó khăn, trong đó có vấn đề kiểm soát và kéo giảm tội
phạm. Trong 05 năm gần đây (từ năm 2014 đến năm 2018), THTP ở huyện Củ Chi
còn diễn biến phức tạp với số vụ phạm pháp hình sự luôn ở mức cao, trung bình mỗi
năm khoảng hơn 500 vụ. Trước tình hình đó, các cấp ủy đảng và chính quyền địa
phương đã chỉ đạo các ban, ngành, tổ chức và công dân tăng cường công tác
PNTHTP. Trong đó, lực lượng nòng cốt là các cơ quan Công an, VKSND và TAND
huyện Củ Chi đã tăng cường phối hợp, tích cực phát hiện, điều tra, truy tố và đưa ra
xét xử kịp thời hầu hết các vụ án hình sự xảy ra trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu đấu
2
tranh phòng chống tội phạm, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương,
được quần chúng nhân dân và dư luận xã hội đồng tình ủng hộ.
Theo số liệu thống kê hình sự, đến năm 2018, số vụ và số người phạm tội trên
địa bàn huyện Củ Chi đã được kéo giảm đáng kể so với năm 2014 nhưng nhiều loại
tội phạm đang có chiều hướng gia tăng với tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng
cao. Điều này cho thấy, mặc dù, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa
bàn đã đạt được những hiệu quả nhất định, tuy nhiên, so với yêu cầu thực tế thì vẫn
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ lý luận và thực tiễn PNTHTP trên địa bàn huyện
Củ Chi, Luận văn tìm ra những giải pháp tăng cường PNTHTP trên địa bàn huyện
Củ Chi trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phòng ngừa tình hình tội phạm;
+ Nghiên cứu thực trạng tình hình các tội phạm và phòng ngừa tình hình tội
phạm trên địa bàn huyện Củ Chi từ năm 2014 đến 2018 để tìm ra nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế trong công tác này.
+ Dự báo khả năng PNTHTP trên địa bàn huyện Củ Chi, TP.HCM; đề xuất
giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả PNTHTP trong thời gian tới trên địa
bàn này.
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận và thực trạng
PNTHTP trên địa bàn huyện Củ Chi; các giải pháp nâng cao hiệu quả PNTHTP trên
địa bàn này trong thời gian tới.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực trạng PNTHTP trên địa bàn huyện Củ Chi, TP.HCM
trong thời gian 5 năm (từ năm 2014 đến năm 2018).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của
4
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÒNG NGỪA
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm
1.1.1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm
Theo Từ điển tiếng Việt, phòng ngừa là “phòng không cho điều bất lợi, tai hại
xảy ra” [53, tr.1339]. THTP được hiểu là “toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn
biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy
ra trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc toàn
thế giới trong một khoảng thời gian nhất định”.[62, tr.24]. Từ những nhận thức trên,
có thể hiểu về PNTHTP một cách khái quát như sau: Phòng ngừa tình hình tội phạm
là hoạt động phòng trước, không để cho trạng thái, xu thế phát triển của tội phạm
diễn biến theo chiều hướng tiêu cực hơn trên một địa bàn cụ thể và hướng tới triệt
tiêu hành vi phạm tội.
Ở góc độ cụ thể hơn, khái niệm “phòng ngừa tình hình tội phạm” đã được
nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học và được hiểu theo những cách khác nhau,
điển hình như: Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh, “Phòng ngừa tình hình
tội phạm là hệ thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và
Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc
làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại
bỏ tình hình tội phạm” [57, tr.154]. Theo Giáo trình Tội phạm học của trường Đại
học Luật Hà Nội, “Phòng ngừa tình hình tội phạm là việc áp dụng một cách tổng thể
các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật… do các cơ quan, các tổ chức
và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các
nguyên nhân, điều kiện phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm giảm tội phạm
và tiến tới loại trừ hoàn toàn tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [51, tr.210].
Qua nghiên cứu, học viên nhận thấy, về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống
nhất chỉ ra những vấn đề cốt lõi của khái niệm PNTHTP, đó là:
6
tranh đồng bộ” [42, tr.80]. Như vậy, chúng ta có thể dựa trên mối quan hệ biến chứng
7
giữa nguyên nhân, điều kiện của THTP với THTP để nhận thức rằng: Để PNTHTP
nhất thiết phải ngăn chặn và loại trừ tất cả các yếu tố là nguyên nhân, điều kiện của
THTP thuộc về tất cả các mặt như: Kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng…
Với những nhận thức về khái niệm PNTHTP như đã nêu trên, học viên cho
rằng dưới góc độ khoa học có thể hiểu về PNTHTP như sau:
Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
sử dụng tổng hợp các biện pháp nhà nước và xã hội tác động vào nguyên nhân, điều
kiện làm phát sinh tình hình tội phạm xảy ra ở một địa bàn cụ thể trong khoảng thời
gian nhất định, đồng thời tiến hành những biện pháp kịp thời phát hiện, xử lý tội
phạm theo thẩm quyền nhằm từng bước làm giảm và tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi
đời sống xã hội.
Với khái niệm này, nội dung của PNTHTP đã được xác định cụ thể, bao gồm:
Các hoạt động phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội) và các hoạt động phòng ngừa
riêng (phòng ngừa nghiệp vụ). Trong đó, phòng ngừa chung là hệ thống các biện pháp
của Nhà nước và xã hội sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng,
văn hóa, giáo dục, pháp luật… nhằm hạn chế, loại trừ nguyên nhân, điều kiện của
tình hình các tội phạm. Phòng ngừa riêng là hoạt động của các cơ quan chức năng sử
dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ để khắc phục những nguyên nhân, điều kiện
cụ thể dẫn đến việc phạm tội, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi phạm
tội, quản lý, giáo dục đối tượng phạm tội để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đồng thời, khái niệm cũng đã chỉ rõ chủ thể tham gia vào hoạt động PNTHTP là tất
cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể người lao động và mọi công dân.
Qua nghiên cứu các tư liệu khoa học liên quan đến vấn đề PNTHTP, học viên
nhận thấy có một số quan điểm riêng, khác biệt của người nghiên cứu so với tổng thể
chung các công trình khoa học khác, điển hình như:
liên quan đến toàn bộ tội phạm xảy ra trong xã hội đó ở phạm vi không gian và thời
gian xác định. Nói cách khác, trong Tội phạm học, tội phạm và THTP có mối quan
hệ với nhau, đó là “mối quan hệ tuân theo quy luật giữa toàn thể và bộ phận, cái
chung và cái đơn nhất, giữa hệ thống và bộ phận” [51, tr.80]. Do đó, không thể đồng
nhất tội phạm và THTP và cũng không thể đồng nhất khái niệm về “phòng ngừa tình
hình tội phạm” và “phòng ngừa tội phạm”.
Như vậy, trên cơ sở thống nhất khái niệm về PNTHTP như đã nêu trên, cho
9
phép học viên đưa ra quan điểm phản biện đối với những ý kiến khác nhau liên quan
đến thuật ngữ “phòng ngừa tình hình tội phạm” và các thuật ngữ khác có liên quan.
Mặc dù có thể ý kiến phản biện chưa thật sự sâu sắc, tuy nhiên cũng đã cho thấy sự
hiểu biết nhất định của học viên về bản chất của hoạt động PNTHTP.
1.1.2. Ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm
Về mặt lý luận, PNTHTP là một trong những nội dung quan trọng, chiếm vị
trí đặc biệt của lý luận về Tội phạm học, vừa là mục tiêu, là chức năng cơ bản của
Tội phạm học. Bởi, “suy cho cùng thì mục đích của khoa học về Tội phạm học chính
là để PNTHTP, để cho tội phạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm
cho xã hội” [55, tr.185].
Về mặt thực tiễn, PNTHTP là hoạt động có tính chiến lược lâu dài, hỗ trợ và
tạo điều kiện cho các hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm khác. PNTHTP tốt
tác động tích cực đến các lĩnh vực khác của quá trình xây dựng và phát triển đất nước
như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng... Ngoài ra, PNTHTP còn mang ý
nghĩa chính trị xã hội sâu sắc bởi làm tốt công tác PNTHTP giúp giữ vững an ninh
quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của xã hội, tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của mọi người dân. Đối với hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp
luật như CQĐT, VKSND, TAND, việc làm tốt công tác phòng ngừa giúp làm giảm
tải áp lực công việc, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan này, làm
đường lối định hướng cho hoạt động phòng chống tội phạm nói chung theo từng giai
đoạn, từng thời kỳ phát triển của đất nước; từng bước hoàn thiện, cả tổ chức bộ máy
các cơ quan đấu tranh phòng chống tội phạm. Để thực hiện được vai trò lãnh đạo của
mình, ngoài việc đề ra các chủ chương, đường lối, Đảng còn hiện thực hóa những chủ
trương đường lối đó qua hoạt động cụ thể của từng Đảng viên.
- Nguyên tắc pháp chế XHCN: Mặc dù mục đích của hoạt động PNTHTP là
bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng và tài
sản hợp pháp của nhân dân… nhưng không phải vì thế mà hoạt động phòng ngừa có
thể được thực hiện bằng mọi phương pháp, cách thức khác nhau bất chấp quy định
của pháp luật, miễn đạt được mục đích đề ra. Hoạt động PNTHTP cần tuân thủ nguyên
tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nội dung của nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi hoạt
động PNTHTP phải có cơ sở pháp luật, phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp,
các Bộ luật, Luật… Để đảm bảo nguyên tắc này, đòi hỏi các chủ thể phòng ngừa (đặc
11
biệt là cơ quan bảo vệ pháp luật) phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định pháp luật,
không được lạm dụng pháp luật để làm sai đường lối, chính sách, pháp luật. Bên cạnh
đó, pháp luật cũng phải được phổ biến, tuyên truyền trong nhân dân để người dân
hiểu và làm theo đúng các quy định của pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả giám
sát của nhân dân đối với các hoạt động PNTHTP của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
- Nguyên tắc dân chủ: Thực tiễn cũng cho thấy muốn hoạt động PNTHTP đạt
hiệu quả cao phải có tham gia của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Điều
này chỉ đạt được khi mọi người được dân chủ bàn bạc, phát huy sáng kiến, sáng tạo,
đặc biệt là từng công dân phải được tham gia theo đúng cơ chế: “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra”. Để làm được điều này thì trong PNTHTP cũng phải thực sự
lấy dân làm gốc, phải thật sự tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân. Bên cạnh đó, các cơ quan Đảng, chính quyền, các cơ quan bảo vệ pháp luật phải
thật sự được củng cố trong sạch, vững mạnh là chỗ dựa vững chắc để nhân dân phát
được tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Nguyên tắc phân công, phối hợp chặt chẽ giữa
các lực lượng, các biện pháp PNTHTP đòi hỏi hoạt động PNTHTP phải đặt trong một
cơ chế phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, có sự điều hành thống nhất giữa các cơ quan
chuyên trách và không chuyên trách, giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội,
các tổ chức kinh tế và mọi công dân, giữa trung ương với địa phương.
- Nguyên tắc khoa học và tiến bộ: Điều kiện, hoàn cảnh xã hội luôn có thay
đổi, kéo theo sự thay đổi của THTP tại một địa bàn cụ thể. Điều đó đòi hỏi hoạt động
PNTHTP cũng phải được tiến hành phù hợp với sự thay đổi đó mới đảm bảo hiệu quả
của công tác phòng ngừa. Bên cạnh đó, PNTHTP là hoạt động của toàn xã hội bao
gồm nhiều lực lượng tham gia với rất nhiều các biện pháp, do đó đòi hỏi hoạt động
phòng ngừa phải được tiến hành một cách khoa học. Chính vì vậy, trong PNTHTP,
việc áp dụng nguyên tắc khoa học và tiến bộ trong áp dụng các biện pháp PNTHTP
là rất cần thiết. Để thực hiện nguyên tác này, các hoạt động PNTHTP phải luôn được
cải tiến, được áp dụng các thành tựu khoa học mới, trang thiết bị mới, hiện đại. Ngoài
ra, các chủ thể cần phải nghiên cứu đưa ra được các quy trình, phương pháp khoa
học, tiến bộ đảm bảo cho việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa diễn ra một cách
phù hợp, tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Tất cả các nguyên tắc cơ bản trên tạo thành một hệ thống tư tưởng vững chắc
cho tổ chức và hoạt động của hệ thống phòng ngừa tình hình tội phạm. Việc tuân thủ
13
nghiêm và nhất quán các nguyên tắc đó trong thực tiễn sẽ đảm bảo hiệu quả cao của
hoạt động PNTHTP trên địa bàn cụ thể.
1.2.2. Nội dung phòng ngừa tình hình tội phạm
Thứ nhất, tiến hành các hoạt động tạo ra những biến đổi, những tác động làm
biến mất những nguyên nhân và điều kiện của THTP.
Các hoạt động tạo ra những biến đổi, những tác động làm biến mất những
nguyên nhân và điều kiện của THTP bao gồm: Xóa bỏ môi trường không thuận lợi
PNTHTP được hiểu là tất cả những người và tổ chức tham gia hoạt động phòng ngừa
tội phạm một cách thường xuyên và có hệ thống. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ
của mình, mỗi chủ thể tham gia PNTHTP với những vai trò khác nhau. Trong
PNTHTP, các chủ thể tham gia vào hoạt động này bao gồm:
- Các tổ chức của Đảng cộng sản Việt Nam: Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai
trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, trong đó có quá
trình tiến hành hoạt động PNTHTP trong phạm vi cả nước và ở từng địa phương. Vai
trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong PNTHTP thể hiện ở những nội dung
sau: Định hướng công tác phòng ngừa tội phạm ở mỗi giai đoạn cách mạng, thể hiện
qua các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng; lãnh đạo toàn diện, trực tiếp nhiều mặt đối với
cơ quan chuyên trách, phòng chống tội phạm; kiểm tra, giám sát để kịp thời uốn nắn
nhằm khắc phục những sai sót, khuyết điểm trong hoạt động phòng ngừa tội phạm.
- Quốc hội, HĐND các cấp: Quốc hội, HĐND các cấp là cơ quan quyền lực
của Nhà nước ở Trung ương và địa phương. Trong phạm vi thẩm quyền, Quốc hội,
HĐND các cấp ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về những vấn đề PNTHTP
và các vi phạm pháp luật khác; kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật trong các
hoạt động PNTHTP của các cơ quan, tổ chức xã hội; quyết định các chủ trương, biện
pháp về kinh tế xã hội quan trọng góp phần xóa bỏ các nguyên nhân, điều kiện của
THTP; đồng thời đưa ra các biện pháp PNTHTP hiệu quả.
- Chính phủ, UBND các cấp: Chính phủ và UBND các cấp có vai trò quan
trọng trong hoạt động PNTHTP, bởi vì đây là các cơ quan quản lý, tổ chức, điều hành,
phối hợp, đảm bảo điều kiện cần thiết cho phòng ngừa. Vai trò của các cơ quan này
trong PNTHTP thể hiện ở các hoạt động: Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục gắn liền với nhiệm vụ PNTHTP; xây dựng các
chương trình, kế hoạch phòng chống tội phạm (cấp quốc gia hay ở địa phương), phát
15
động quần chúng tham gia bảo vệ ANTT; tổ chức, hướng dẫn các chủ thể khác nhau
nghĩa Việt Nam thừa nhận gồm: Mật trận tổ quốc Việt Nam và các thành viên như:
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội phụ nữ,
Đoàn thanh niên… Các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp như Hội luật gia, Hội
nhà báo… Tập thể lao động là tập hợp những người lao động có quan hệ với nhau về
công việc trong phạm vi sử dụng lao động nhất định. Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của mình mà mỗi tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội
– nghề nghiệp, tập thể lao động có những nét đặc thù riêng, có nội dung và biện pháp
tham gia vào hoạt động PNTHTP khác nhau, chủ yếu là góp phần vào việc thực hiện
các nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội của tổ chức mình; kịp thời phát hiện những sai
sót trong quản lý kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, đưa
ra đề nghị khắc phục có tính chất thuyết phục, Các hoạt động này giúp nhà nước kịp
thời ngăn chặn những hiện tượng phạm tội, làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện của
THTP tại địa phương.
- Cá nhân: Là lực lượng đông đảo, trực tiếp sinh sống, lao động, học tập trên
những địa bàn nhất định, sự tham gia của các cá nhân trong công tác PNTHTP có vai
trò rất quan trọng, thông qua những đóng góp nhất định của mỗi người như: Thực
hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, tích
cực tham gia hoạt động PNTHTP; tích cực, chủ động phát hiện mọi hoạt động của tội
phạm và thông báo cho các cơ quan chức năng; tham gia nhiệt tình vào công tác giáo
dục, cảm hoá các đối tượng có liên quan đến hoạt động phạm tội tại cộng đồng dân
cư; phối hợp tham gia, giúp đỡ các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trên địa bàn cá
nhân đó sinh sống, làm việc.
1.3.2. Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, biện pháp được hiểu là “cách làm, cách thức tiến
hành, giải quyết một vấn đề cụ thể” [61, tr.161]. Như vậy, có thể hiểu biện pháp
PNTHTP là cách làm của các chủ thể để tác động vào nguyên nhân, điều kiện làm
phát sinh THTP xảy ra ở một địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian nhất định, đồng
thời kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm theo thẩm quyền nhằm từng bước làm giảm và
kinh tế - xã hội như: Nền kinh tế kém phát triển, tình trạng thừa lao động, thiếu việc
làm, mức thu nhập thấp, không ổn định, đời sống bấp bênh của một bộ phận người
dân trong xã hội và khoảng cách giàu, nghèo ngày càng lớn… đã làm cho nhiều người
mong muốn làm giàu bằng mọi giá dẫn đến sa vào con đường phạm tội. Vì vậy, để
18
PNTHTP, trước mắt và lâu dài phải tập trung xử lý các vấn đề về kinh tế, xã hội bằng
các biện pháp tích cực như: Xây dựng những cơ chế hợp lý để phát triển kinh tế, mở
rộng sản xuất, kinh doanh; tạo thêm việc làm cho người lao động; cải cách tiền lương,
nâng cao mức sống, cải thiện điều kiện sinh hoạt, đời sống cho người dân, nhất là đối
với những hộ nghèo, những bà con ở vùng sâu, vùng xa, gặp khó khăn về kinh tế.
- Biện pháp chính trị - tư tưởng:Đây là biện pháp tác động vào ý thức, tư
tưởng, tâm lý của con người nhằm nâng cao ý thức giác ngộ chính trị, tăng cường sự
hiểu biết của người dân về tác hại của tội phạm, nâng cao ý thức về trách nhiệm công
dân để họ tự giác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc tích cực sử dụng các biện
pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức chính trị, xây dựng tư tưởng phòng, chống các
hành vi phạm tội là rất cần thiết, vì sẽ giúp cho mọi người, trong đó có cả những đối
tượng sẵn có tâm lý phạm tội nhận thức được những vấn đề sai trái của hành vi phạm
tội mà ngăn ngừa được những hành vi lệch chuẩn, không đi vào con đường phạm tội.
- Biện pháp tổ chức – quản lý xã hội: Sơ hở trong tổ chức và quản lý xã hội
là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành ý thức, động cơ phạm tội; tình trạng quản
lý lỏng lẻo hoặc không quản lý xã hội tạo điều kiện cho tội phạm nảy sinh. Những
yếu tố tiêu cực đó tồn tại trong xã hội là những nhân tố thuận lợi để tội phạm tồn tại
và phát triển. Chính vì vậy, cần phải khắc phục ngay những yếu kém trong tổ chức và
quản lý xã hội thông qua các biện pháp như: Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu
lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở những cơ quan, đơn vị hoạt động kém hiệu
quả; khắc phục tình trạng bố trí cán bộ quản lý bị hạn chế về năng lực, trình độ chuyên
môn, yếu kém về phẩm chất đạo đức trong các cơ quan nhà nước; gấp rút đào tạo, bồi
được quy định một cách rõ ràng, cụ thể, đúng mức sẽ giúp các cơ quan, người có
thẩm quyền áp dụng pháp luật có được cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý nghiêm minh
những hành vi vi phạm và tội phạm, đảm bảo tính thống nhất của pháp chế XHCN,
từ đó sẽ có tác dụng phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Vì vậy, xây dựng và
hoàn thiện pháp luật theo hướng Nhà nước pháp quyền; tổ chức thi hành pháp luật
một cách nghiêm chỉnh và triệt để, đảm bảo pháp chế XHCN; các cơ quan chức năng,
người có thẩm quyền thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm trong công
tác phòng, chống tội phạm là phương hướng căn bản và lâu dài cho PNTHTP.
1.3.2.2. Các biện pháp phòng ngừa riêng
Những biện pháp phòng ngừa riêng đối với THTP là những biện pháp do các
20