VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HUỲNH NHƯ
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HUỲNH NHƯ
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60.38.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Hồ Chí Minh ..........................................................................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................81
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANQG
: An ninh quốc gia
ANTQ
: An ninh Tổ quốc
ANTT
: An ninh trật tự
BVANTQ
: Bảo vệ An ninh Tổ quốc
CA
: Công an
CAND
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mức độ tổng quan tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 12 (2012
– 2016)
Bảng 2.2: Cơ cấu theo phân loại tội phạm hình sự cụ thể trên địa bàn Quận
12 (2012 – 2016) .
Bảng 2.3: Thống kê tình hình tội phạm về kinh tế và môi trường trên địa bàn
Quận 12 (2012 – 2016) .
Bảng 2.4: Thống kê tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn Quận 12 (2012
– 2016) .
Bảng 2.5: Thống kê tình hình tệ nạn xã hội trên địa bàn Quận 12 (2012 –
2016) .
Bảng 2.6: Thống kê tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn Quận 12 (2012 –
2016) .
Bảng 2.7: Thống kê phạm pháp hình sự trên địa bàn 11 phường của Quận 12
(2012 – 2016) .
Bảng 2.8: Phân tích kết quả điều tra khám phá án trên địa bàn Quận 12 (2012
– 2016) .
giải quyết chưa triệt để, kéo dài tiềm ẩn phát sinh phức tạp. Những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ diễn biến phức tạp. Các loại tội phạm có tổ
chức, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm kinh tế, tham nhũng, tội phạm ma
túy, tội phạm là người nước ngoài... lợi dụng các điều kiện đặc thù của thành phố
(trong đó có quận 12) để tập trung, móc nối hoạt động. Địa bàn cửa ngõ thành phố,
lượng phương tiện lưu thông đông nhưng ý thức chấp hành các quy định về trật tự
giao thông của một bộ phận nhân dân còn thấp, hệ thống biển báo, các bất cập về hạ
tầng giao thông chưa khắc phục kịp thời nên tai nạn giao thông tiếp tục phức tạp.
Trong 5 năm qua (2012 – 2016) trên địa bàn Quận 12, cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án nhân dân đã khởi tố, điều tra truy tố trung bình mỗi năm khoảng
461 vụ án với 210 bị cáo, trong đó tội phạm khởi tố, điều tra, truy tố xét xử 139 vụ
với 145 bị cáo (chiếm khoảng 30% số lượng vụ án và bị cáo), đứng thứ năm về số
lượng tội phạm xảy ra trong số 24 quận, huyện của thành phố.
1
Trước tình hình diễn biến tội phạm như vậy, các cấp Ủy đảng và chính quyền
địa phương đã chỉ đạo các ban, ngành, tổ chức xã hội và công dân tăng cường công
tác phòng ngừa tình hình tội phạm. Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tế và đứng trước
diễn biến tình hình tội phạm như hiện nay thì vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, hạn
chế nhất định, dẫn đến tội phạm luôn có chiều hướng gia tăng, số lượng người bị
bắt, bị xét xử sau đó lại tái phạm chiếm tỷ lệ lớn trong số những người phạm tội gây
hậu quả to lớn đối với tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân làm ảnh hưởng
đến tâm lý lo lắng cho xã hội. Một số vụ án được phát hiện, điều tra xử lý chưa
phản ánh hết thực trạng của tội phạm trong thực tiễn.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, cần thiết phải nghiên cứu lý luận phòng ngừa
tình hình tội phạm, tìm hiểu về thực trạng nhận thức, thực trạng áp dụng các biện
pháp phòng ngừa tình hình tội phạm. Từ đó, đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả phòng ngừa một cách toàn diện, có hệ thống, đem lại hiệu quả cao trong
phạm.
- Thực trạng hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 12,
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 - 2016.
- Làm rõ những hạn chế trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm trên
địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Dự báo tình hình tội phạm trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình
phạm trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực tiển hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm
trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: các vấn đề lý luận chung về thực tiển hoạt động phòng ngừa
tình hình tội phạm; thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 12.
- Về không gian: khảo sát trên địa bàn Quận 12.
- Về thời gian: từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
3
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối của
Đảng, Nhà nước ta về phòng ngừa tội phạm .
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nội dung của đề tài, luận văn được thực hiện trên cơ sở phương
pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật, các cơ quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước và ngành Công an về phòng,
phạm, việc bảo đảm không thoát khỏi hình phạt, giáo dục lại, cải tạo những người
phạm tội. Các biện pháp pháp lý-hình sự của cuộc đấu tranh với tình hình tội phạm
được đưa lên hàng đầu trong những trường hợp chuẩn bị và thực hiện các tội phạm
cụ thể. Việc phòng ngừa ở nghĩa đen, tức là việc khắc phục hoặc làm vô hiệu các
nguyên nhân và điều kiện của các tội phạm trước khi nó gây ra việc thực hiện tội
phạm đóng vai trò cơ bản, quan trọng trong công tác đấu tranh với tình hình tội
phạm”[47, tr.153].
Phòng ngừa tình hình tội phạm là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng
được đặt ra sau khi tìm hiểu đặc điểm, tính chất tình hình tội phạm và các nguyên
nhân – điều kiện tình hình tội phạm. Về thuật ngữ, các nhà khoa học Việt Nam đã
sử dụng hai thuật ngữ “phòng ngừa tội phạm” và “phòng ngừa tình hình tội phạm”.
Lý luận và thực tiễn cho thấy, “phòng ngừa tội phạm” không có chỉ giới hạn ở mức
độ phòng ngừa tội phạm cụ thể (cái riêng). Ngược lại, “phòng ngừa tình hình tội
phạm” cũng không có nghĩa chỉ giới hạn ở mức độ phòng ngừa chung toàn bộ tình
hình tội phạm (cái chung) mà không kết hợp với phòng ngừa tội cụ thể. Thật ra, hai
cách diễn đạt này đều thể hiện phòng ngừa tội phạm ở tất cả các mức độ: tình hình
tội phạm nói chung, loại tội phạm và từng tội phạm cụ thể. Mục đích chung của
phòng ngừa tình hình tội phạm là hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã
hội, không phân biệt loại tội phạm (hoặc tội phạm) nào.
Từ trước đến nay, đấu tranh chống tội phạm được tiến hành theo phương
châm: nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, không bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, tránh làm oan người vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội,
hình thành thói quen phản ứng tích cực và hưởng ứng của Nhà nước và xã hội đối
5
với tội phạm. Do đó, phòng ngừa tình hình tội phạm chính là một trong những nội
dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học. Nghiên
cứu về phòng ngừa tình hình tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm
xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học.
phạm có thể đưa ra khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm như sau: “Phòng ngừa
tình hình tội phạm là việc tiến hành đồng bộ có hệ thống các biện pháp khác nhau
của Nhà nước và xã hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tội phạm
từng bước hạn chế làm giảm tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội”.
Như vậy, phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm trước hết là việc làm rõ
nguyên nhân và điều kiện của tội phạm trên phạm vi toàn xã hội từ đó áp dụng các
biện pháp nhằm xoá bỏ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến phạm tội, xoá bỏ nguồn
gốc phát sinh tội phạm. Đồng thời tiến hành quản lý giáo dục đối với những người
có điều kiện khả năng phạm tội nhằm không để họ tiếp tục thực hiện tội phạm, làm
giảm tình hình tội phạm tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Việc xây dựng chương trình phòng ngừa tình hình tội phạm cũng cần phải
thực hiện trên cơ sở các đặc điểm kinh tế, tâm lý, xã hội và các đặc điểm truyền
thống của từng địa phương; cần mang tính kế hoạch, thường xuyên có sự chỉ đạo
chặt chẽ của Nhà nước, Đảng và các tổ chức xã hội khác.
1.1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội phạm
Phòng ngừa tình hình tội phạm nhằm loại bỏ các tác động tiêu cực của nó đối
với xã hội và hạn chế làm giảm tới mức thấp nhất xảy ra tội phạm trong xã hội.
Việc thực hiện tốt phòng ngừa tình hình tội phạm góp phần thực hiện nghiêm chỉnh
và đầy đủ các Nghị quyết, Chỉ thị, đường lối và Chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
Phòng ngừa tình hình tội phạm tốt còn góp phần huy động sức mạnh tổng
thể, đồng bộ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, làm giảm sự gia tăng của tội
phạm và vi phạm pháp luật. Tạo trạng thái tâm lý ổn định, bình an trong quần chúng
nhân dân, an toàn cho cộng đồng và dân cư, làm tăng niềm tin, hy vọng của quần
chúng nhân dân vào nền pháp chế Xã hội chủ nghĩa, tạo sự ổn định có trật tự pháp
luật, không rối loạn, qua đó nâng cao sự tín nhiệm vào khả năng, hiệu quả hoạt
động của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án. Thực hiện tốt phòng ngừa tình
hình tội phạm thông qua việc thực hiện các chương trình quốc gia phòng chống tội
7
nước và mỗi người dân để đảm bảo cuộc sống yên vui, hạnh phúc” [33, tr.415].
8
Như vậy, mục đích phòng ngừa tình hình tội phạm được đặt ra tùy thuộc vào
điều kiện của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ, giai đoạn cụ thể. Trong tình hình hiện nay
ở nước ta để chỉ đạo cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, Đảng ta đã ban hành
Chỉ thị số 48/CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới” trong đó đã chỉ rõ: “Trong thời
gian tới công tác phòng chống tội phạm phải kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm,
nhất là các loại tội phạm nghiêm trọng, tội phạm mới, tạo môi trường lành mạnh
phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ cuộc sống hạnh phúc
và bình yên của nhân dân”. Xuất phát từ nhận thức con người sinh ra vốn có bản
chất hướng thiện và đều có thể trở thành công dân có ích. Việc họ làm sai, làm trái
là xuất phát từ những nguyên nhân và điều kiện xã hội nhất định. Nếu loại trừ các
nguyên nhân và điều kiện này thì con người sẽ không bị sa vào thế giới của tội
phạm. Mặt khác, nên tạo ra những điều kiện xã hội lành mạnh thì người phạm tội
hoàn toàn có thể cải tạo, rèn luyện trở thành người lương thiện [21, tr.209].
1.2.2. Các nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội phạm
Phòng ngừa tình hình tội phạm là một loại hoạt động thực tiễn xã hội có
những đặc điểm đặc thù của mình. Cách thức tổ chức và hoạt động của hệ thống đó
phải được xây dựng theo những nguyên tắc nhất định[47, tr.157]. Hoạt động đó
được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc cơ bản sau:
1.2.2.1. Nguyên tắc pháp chế XHCN
Nguyên tắc pháp chế XHCN thể hiện ở chỗ hoạt động phòng ngừa tình hình
tội phạm nói chung và việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa phải có cơ sở pháp
luật, phải phù hợp với các quy định của pháp luật. Trong quá trình tiến hành các
hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm các chủ thể tuân thủ nghiêm chỉnh các
quy định của pháp luật.
Nhân đạo là sự thể hiện thái độ có thiện chí, có sự cảm thông, có tình yêu
thương sâu sắc của con người đối với con người, sự tận tụy phục vụ lợi ích, đem lại
tự do và hạnh phúc cho con người.
Nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa được xây dựng và áp
dụng trong thực tiễn không được hạ thấp nhân phẩm, danh dự, các quyền cơ bản của
con người mà phải hướng đến việc định hướng hành vi, lối sống cho họ theo hướng
hòa nhập với xã hội, làm những việc có ích cho xã hội. Nguyên tắc này còn đòi hỏi
10
hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm phải kết hợp hài hòa, đúng mức độ biện
pháp cưỡng chế với thuyết phục theo hướng tăng cường sự thuyết phục, giáo dục
[47, tr. 158].
Nguyên tắc nhân đạo trong phòng ngừa tình hình tội phạm, về bản chất là
hoạt động mang tính nhân đạo, vì con người, nó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của xã hội, Nhà nước và công dân. Hơn nữa, phòng ngừa tình hình tội phạm xảy ra
cũng có nghĩa là không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu hậu quả do
hành vi phạm tội phạm gây ra. Mặt khác, tổ chức và hoạt động phòng ngừa tình
hình tội phạm phải có hiệu quả. Hiệu quả càng cao thì tính nhân đạo càng được đảm
bảo.
1.2.2.4. Nguyên tắc khoa học và tiến bộ của hoạt động phòng ngừa tình hình
tội phạm
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ các biện pháp phòng ngừa, tổ
chức hệ thống phòng ngừa, các chủ thể phòng ngừa phải được xây dựng có cơ sở
khoa học [47, tr.158]. Trong phòng ngừa tình hình tội phạm phải ứng dụng các
thành tựu của khoa học và công nghệ trong việc xây dựng các biện pháp phòng
ngừa, các biện pháp phòng ngừa luôn phải đảm bảo cho mọi người có cơ hội phát
triển bình đẳng, không được phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, thái độ chính
trị, phải có cơ sở lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh với
tắc hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung.
1.3. Nội dung phòng ngừa tình hình tội phạm
- Nghiên cứu, xác định rõ các nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội
Để phòng ngừa có hiệu quả tội phạm đòi hỏi các cơ quan chức năng phải xác
định chính xác những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm xây dựng chiến lược
phòng ngừa phù hợp. Những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm hiện nay bao
gồm:
+ Sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị
trường, bên cạnh những mặt ưu điểm cũng bộc lộ nhiều mặt trái trở thành những
nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, đó là:
Mặt trái nền kinh tế thị trường hình thành lối sống hưởng thụ xa hoa, truỵ lạc
của một bộ phận người trong xã hội.
12
Tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường đã làm xuống cấp nhiều mặt về
văn hoá, đạo đức, lối sống làm mất đi truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Nền kinh tế thị trường đẩy mạnh tốc độ phân tầng xã hội, tạo ra sự phân hoá
giàu nghèo sâu sắc, một bộ phận giàu lên nhanh chóng trong đó có một số người
làm giàu bất chính từ đó dẫn đến phạm tội, mặt khác không ít người không có tư
liệu sản xuất phải ra thành phố, thị xã làm thuê kiếm sống bị tác động bởi những
hiện tượng tiêu cực dễ dẫn đến phạm tội.
+ Tác động trực tiếp, toàn diện của những hiện tượng xã hội tiêu cực do chế
độ cũ để lại.
+ Hậu quả của chế độ thực dân, đế quốc cùng với chiến tranh kéo dài trong
nhiều năm đã phá hoại cơ sở vật chất, hình thành lối sống hưởng thụ, tư tưởng tham
lam, ích kỷ, sa đoạ truỵ lạc trong một bộ phận nhân dân.
+ Tư tưởng trọng nam, coi thường phụ nữ; những tác động tiêu cực, tàn dư của
chế độ xã hội cũ còn tồn tại lâu dài tác động vào đời sống xã hội làm nảy sinh các
hiện tượng tiêu cực trong đó có tội phạm
pháp luật và trong nội bộ từng cơ quan chưa thực sự khoa học, hiệu quả vận hành chưa cao.
+ Công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự còn bộc lộ nhiều sơ hở. Công
tác giáo dục cải tạo chưa xoá bỏ được tư tưởng phạm tội của các đối tượng, số đối
tượng phạm tội trở lại còn nhiều.
+ Phong trào quần chúng tham gia đấu tranh chống tội phạm ở một số nơi
chưa chực sự mạnh mẽ, chưa hiệu quả. Chưa phát huy được sức mạnh của quần
chúng trong công tác giáo dục, cải tạo và tái hoà nhập cộng đồng cho người
phạm tội.
- Nghiên cứu, soạn thảo đề ra các chủ trương, giải pháp, biện pháp thích hợp
nhằm từng bước xoá bỏ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm
Tuỳ thuộc vào nguyên nhân, điều kiện cụ thể của tình trạng phạm tội trên các
lĩnh vực để soạn thảo đề xuất các biện pháp đấu tranh xoá bỏ nguyên nhân, điều
kiện của tội phạm cho phù hợp, bao gồm:
- Các giải pháp phát triển kinh tế.
14
- Các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật.
+ Phòng ngừa tội phạm kết hợp với thực hiện các chính sách xã hội phù hợp
với các địa phương cụ thể.
+ Nhà nước phải xây dựng chương trình quốc gia phòng chống tội phạm nói
chung, đảm bảo các yêu cầu, nội dung sau:
Xác định rõ mục tiêu, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, sử dụng đồng bộ hệ thống,
các biện pháp phòng ngừa, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các
ngành, của công dân.
+ Mỗi cấp, mỗi ngành phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình để xây
dựng và tổ chức chương trình hành động cụ thể phòng chống tội phạm.
+ Mỗi công dân phải nhận thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong công
tác phòng ngừa tội phạm.
pháp lý thực hiện những nhiệm vụ được giao [50, tr. 60].
1.4.1. Chủ thể lãnh đạo hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm
Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 đã khẳng
định: "Đảng cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,
đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động của các
dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo
nhà nước và xã hội " 27, tr. 137. Với vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng
cộng sản Việt Nam luôn luôn chú trọng đến công tác phòng, chống tội phạm đặc
biệt là PNTP ở địa bàn cơ sở để bảo vệ vững chắc ANQG và TTATXH. Rõ ràng
vấn đề PNTP là một nội dung quan trọng trong hoạt động của các tổ chức Đảng.
Trong cương lĩnh hành động của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như trong các Nghị
quyết Đại hội Đảng các cấp đều khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc tổ
chức hoạt động đấu tranh PNTP.
Đảng lãnh đạo toàn diện về mọi mặt hoạt động PNTP của lực lượng Công an
bằng việc đề ra đường lối chủ trương chính sách vv... phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội. Vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh góp
phần phòng ngừa chung tình trạng phạm tội tại địa bàn cơ sở.
16
Với tư cách là chủ thể hoạt động PNTP, các tổ chức Đảng cộng sản Việt
Nam thường xuyên chú trọng tổ chức các hoạt động PNTP một cách hệ thống đồng
bộ và toàn diện, các cấp ủy Đảng theo dõi kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết
của Đảng về các lĩnh vực lãnh đạo chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để
góp phần phòng ngừa chung tình trạng phạm tội. Thường xuyên nghe báo cáo về
tình hình tội phạm và công tác tổ chức PNTP, kiểm tra đôn đốc nhắc nhở các cơ
quan, nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện PNTP để kịp thời chỉ đạo cho phù hợp với
tình hình thực tế ở địa bàn cơ sở trong từng giai đoạn của cách mạng, khắc phục tư
tưởng quan liêu xa rời thực tế.
1.4.2. Chủ thể thực hiện hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm
dân được cụ thể hóa ở một số nội dung:
- Quyết định những chủ trương, biện pháp kinh tế xã hội quan trọng để phát
huy tiềm năng của địa phương, để không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân địa phương, từ đó có tác dụng phòng ngừa tình hình tội phạm.
- Quyết định các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm ở địa phương.
- Kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương để phòng
ngừa tiêu cực và phạm tội.
1.4.2.2. Chủ thể triển khai, thi hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm
Chủ thể triển khai thi hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm
Chính phủ, UBND các cấp, các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan tiến
hành tố tụng, các tổ chức và các cá nhân, công dân.
Chính phủ, vai trò phòng ngừa tình hình tội phạm của Chỉnh phủ thể hiện
như sau:
- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo
dục trong phạm vi quốc gia, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân, từ đó có tác dụng phòng ngừa tình hình tội phạm.
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội, Chính phủ tổ chức
thực hiện các chính sách, biện pháp để củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn
dân, an ninh nhân dân, trật tự an toàn xã hội; tổ chức và thực hiện các biện pháp
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm phạm, các vi phạm pháp luật.
18
- Lãnh đạo hoạt động phòng chống tội phạm quốc gia (thông qua Ban chỉ đạo
quốc gia phòng chống tội phạm, cơ quan chuyên môn của Bộ tư pháp, Thanh tra
nhà nước chuyên ngành); thực hiện hoạt động phòng chống tội phạm; xây dựng các
chương trình quốc gia phòng chống tội phạm.
Ủy ban nhân dân các cấp, vai trò phòng ngừa tình hình tội phạm của Ủy ban
nhân dân các cấp thể hiện như sau:
+ Cơ quan Công an trong phạm vi thẩm quyền của mình các cơ quan công an
thực hiện việc phân tích thực trạng tình hình tội phạm, các khuynh hướng của tình
hình tội phạm và thông báo về những vấn đề mà các cơ quan đó không có thẩm
quyền giải quyết cho các tổ chức Đảng, các Hội đồng nhân dân, cơ quan kiểm sát.
Cơ quan Công an là một trong những cơ quan tham gia chính vào việc phối hợp và
kế hoạch hóa tổng thể việc phòng ngừa [47, tr.174].
Công an là cơ quan được giao nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh và phòng ngừa
tình hình tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bộ phận công an
làm công tác quản lý khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa cá
nhân. Với sự giúp đỡ của các điểm bảo vệ trật tự ở các khu công nghiệp, khu tập
thể, khu dân cư… bộ phận công an khu vực làm sáng tỏ và khắc phục các nguyên
nhân và điều kiện của tội phạm ở địa bàn đảm nhiệm, trong đó lưu ý về hoàn cảnh,
lối sống của các gia đình có thể tạo ra tình huống phạm tội; tiến hành công tác
phòng ngừa, giáo dục hằng ngày đối với những người có lối sống và hành vi có khả
năng phạm tội phạm.
+ Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp. Hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm của Viện kiểm sát
được đánh giá rất cao. Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình VKS sử dụng
tổng hợp các quyền năng pháp lý truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật; giám
sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan Điều tra, Tòa án, cơ quan Thi hành án. Đặc
biệt giám sát việc thực hiện các biện pháp và chương trình phòng ngừa tội phạm tại
các cơ quan này; phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật của bất cứ
chủ thể nào và có biện pháp xử lý thích hợp.
20