VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG MINH
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM
HÀ HỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG MINH
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN ANH TUẤN
HÀ HỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
3.1. Các giải pháp phòng ngừa chung ........... Error! Bookmark not defined.6
3.2. Các giải pháp phòng ngừa chuyên ngành ................................................ 69
3.3. Các giải pháp phòng ngừa cụ thể đối với tội Trộm cắp tài sản và nhóm tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy ..................................... 74
Kết luận chương 3 ........................................................................................... 75
KẾT LUẬN .................................................................................................. 777
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT
An ninh trật tự
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CAND
Công an nhân dân
CSĐT
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Hệ số của tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp.HCM từ năm
2014 đến năm 2018 ............................................................................................ 29
Bảng 2.2. Cơ số hành vi phạm tội của tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2
Tp.HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ................................................................ 30
Bảng 2.3. Mức độ nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự của con người trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm 2014 đến năm 2018 . 31
Bảng 2.4. Mức độ nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM
từ năm 2014 đến năm 2018 ................................................................................ 32
Bảng 2.5. Mức độ nhóm tội về ma túy trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm
2014 đến năm 2018 ............................................................................................ 32
Bảng 2.6. Mức độ nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng
trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ............................... 33
Bảng 2.7. Mức độ tội danh cụ thể xảy ra trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ
năm 2014 đến năm 2018 .................................................................................... 34
Bảng 2.8. Tỷ lệ vụ án khởi tố và vụ án đã xét xử sơ thẩm trên địa bàn Quận 2
Tp. HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ................................................................ 36
Bảng 2.9. Diễn biến (động thái) tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp.
HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ....................................................................... 37
Bảng 2.10. Cơ cấu theo tên Chương quy định của BLHS trong phần tội phạm
cụ thể của tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm 2014 đến
năm 2018 ............................................................................................................. 39
Bảng 2.11. Cơ cấu theo tội danh cụ thể quy định của BLHS của tình hình tội
phạm trên địa bàn Quận 2 Tp HCM từ năm 2014 đến năm 2018....................... 41
Bảng 2.12. Cơ cấu theo địa bàn phạm tội của tình hình tội phạm trên địa bàn
quốc lộ (QL) 52, QL 25B, đường cao tốc Tp. HCM - Long Thành Dầu Giây,
vành đai đại lộ Đông Tây (đường Mai Chí Thọ - Võ Văn Kiệt), sông Sài Gòn
và sông Đồng Nai. Là nơi tập trung hàng hóa xuất nhập cảnh lớn nhất cả nước
với hệ thống cảng biển dày đặc, trong đó có cảng Cát Lái - cảng container lớn
nhất Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, Quận 2 được định hướng phát triển đô
thị mới, hiện đại, kinh doanh thương mại và dịch vụ. Cùng với mục tiêu phát
triển đó, sau hơn 20 năm thành lập, Quận 2 đang trong quá trình đô thị hóa
mạnh mẽ. Điều này được thể hiện qua sự gia tăng dân số, đặc biệt là sự gia
tăng nhanh chóng lượng dân nhập cư cũng như các công trình hạ tầng giao
thông trên địa bàn. Bên cạnh đó, Quận 2 đang có rất nhiều công trình, hạ tầng
1
cơ sở đang được tiến hành, trong đó nổi bật là khu đô thị mới Thủ Thiêm Trung tâm tài chính, thương mại mới của Tp. HCM; các cây cầu nối liền
Quận 2 với các quận xung quanh đã và đang làm cho tốc độ đô thị hóa ở Quận
2 ngày càng nhanh hơn. Quá trình đô thị hóa đã và đang tạo nên những
chuyển biến tích cực đối với sự phát triển KT - XH của Quận, như sự tăng
trưởng kinh tế đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư, an sinh
xã hội từng bước được thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên, quá trình này cũng có
nhiều tác động tiêu cực như sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, đặc
biệt tại Quận 2 đã hình thành các khu dân cư mà ở đó dường như chỉ dành cho
tầng lớp dân cư trung và thượng lưu như khu dân cư Thảo Điền, khu dân cư
An Phú, An Khánh hay khu dân cư bán đảo Kim Cương. Bên cạnh đó, đang
trong quá trình xây dựng về cơ sở hạ tầng nên đã kéo theo một số lượng lớn
dân cư ở các nơi khác tập trung về để tìm kiếm việc làm, nhất là lượng lao
động phổ thông với các thành phần đa dạng và rất phức tạp, trong đó có cả
những đối tượng có tiền án tiền sự khác nhau. Trong khi đó, các cơ quan chức
năng mặc dù đã có những biện pháp nhằm ổn định TTATXH nhưng tình hình
tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, nổi lên là các tội phạm truyền thống như
trộm cắp tài sản, cướp giật, các tội phạm về ma túy, tai nạn giao thông, lừa
hiện trên địa bàn tỉnh, thành phố trong cả nước, cũng như một số địa bàn
quận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh như:
- Phan Tô Ngọc (2015), Các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con
người trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: Tình hình, nguyên nhân và giải
pháp phòng ngừa, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.
- Nguyễn Thị Thanh Chung (2018), Tình hình các tội xâm phạm sở hữu
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã
hội.
3
- Bùi Thị Tâm (2018), Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam,
Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.
- Nguyễn Tiến Nghĩa (2016), Tình hình tội phạm trên địa bàn Quận Phú
Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội.
- Trịnh Hùng (2017) Tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã
hội.
Các công trình nghiên cứu trên đã cho thấy vấn đề tình hình tội phạm đã
được quan tâm và tập trung nghiên cứu ở các địa bàn khác nhau. Qua đó, đã
góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như đưa ra được các giải pháp
phòng ngừa tội phạm nói chung cũng như nhóm tội, tội danh cụ thể trên một
số địa bàn nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu và phân
tích chuyên sâu về tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Thành phố Hồ Chí
Minh, một trong những quận có sự phát triển mạnh mẽ về KT-XH nhưng
cũng là điểm nóng về tình hình tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh các báo cáo,
thống kê của tòa án nhân dân Quận 2 Tp. HCM cùng các cơ quan chức năng
khác và nghiên cứu một số vụ án xảy ra trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM. Cụ
thể:
5
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để phân tích số liệu
thống kê, tổng hợp đánh giá tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM
tại Chương 2 của Luận văn
- Phương pháp thống kê hình sự: Được sử dụng để tiến hành thống kê
hình sự trên cơ sở số liệu của Công an Quận 2 và Tòa án nhân dân Quận 2,
Tp. HCM. Qua đó làm rõ tình hình, đặc điểm, nguyên nhân, điều kiện của tình
hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM
- Phân tích nghiên cứu án điển hình: được sử dụng lựa chọn một số vụ
án trên địa bàn Quận 2, Tp. HCM để phân tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hơn lý luận về
tình hình tội phạm. Qua đó, áp dụng lý luận để nghiên cứu tình hình tội phạm
và đưa ra các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2
Tp. HCM.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về tình hình tội phạm
trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM; làm tài liệu tham khảo, vận dụng vào công tác
phòng ngừa tội phạm trên các địa bàn tương tự.
được gọi là pháp luật. Xã hội phát triển thì pháp luật cũng có sự phát triển để
giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội đó và pháp luật đã phát triển thành các
ngành luật khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau như quan hệ
kinh tế, dân sự, hình sự. Trong đó, pháp luật hình sự quy định những hành vi
vi phạm các chuẩn mực xã hội ở mức nghiêm trọng thì bị coi là tội phạm và
cần phải được trừng trị và dần loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội của con người.
Cùng với sự phát triển của xã hội, những hành vi bị coi là tội phạm
không những không mất đi mà còn tiếp tục tăng lên về cả quy mô lẫn tính
chất nguy hiểm. Đây là vấn đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu, xem xét ở
nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có khía cạnh về tội phạm học, tức là
khoa học nghiên cứu về tội phạm, và ở đó, tội phạm học nghiên cứu tội phạm
ở những khía cạnh như: Tình hình tội phạm đã xảy ra, nguyên nhân và điều
kiện làm phát sinh tội phạm đã xảy ra; Biện pháp có thể hạn chế, phòng ngừa
tội phạm. Để tìm ra quy luật của tội phạm trên một địa bàn nhất định ta phải
nghiên cứu chính sự vận động của tội phạm trên địa bàn đó. Nghiên cứu sự
vân động của tội phạm được gọi là nghiên cứu về tình hình tội phạm.
Trước hết, cần phải hiểu khái niệm tình hình tội phạm là như thế nào?
Hiện nay, khái niệm này được rất nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các khái
niệm khác nhau, như:
8
Quan điểm thứ nhất: “Tình hình tội phạm không chỉ là tổng thể các
hành vi nguy hiểm cho xã hội đơn lẻ mà còn là quá trình xã hội tuân theo các
quy luật chung của sự phát triển các hiện tượng xã hội
Tình hình tội phạm là toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của
các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra
trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc
toàn thế giới trong khoảng thời gian nhất định” [17, tr. 171]
Quan điểm thứ hai: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực,
khách quan trong bức tranh tổng thể về tình hình tội phạm trên một địa bàn cụ
thể. Tội phạm thì vẫn hàng ngày, hàng giờ vẫn đang xảy ra trong đời sống xã
hội. Tình hình tội phạm hiện (rõ) là những gì chúng ta phát hiện, xử lý và giải
quyết được nhưng còn những tội phạm chúng ta chưa phát hiện được thì vẫn
theo quy luật phát triển vẫn diễn ra liên tục, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức
và tìm biện pháp giải quyết, đây gọi là tội phạm ẩn hay tình hình tội phạm ẩn.
Hiện nay, khi nghiên cứu về tình hình tội phạm ẩn thì có nhiều luồng
quan điểm khác nhau. “Tội phạm ẩn được tạo nên bởi tổng thể các hành vi
phạm tội đã xảy ra trong thực tế nhưng không được phát hiện, không bị xử lý
theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê tội phạm”
[7, tr.163]. Tội phạm ẩn là số lượng tội phạm và người phạm tội đã thực hiện
trên thực tế nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc
chưa bị phát hiện (một cách chính thức) và do vậy chưa bị xử lý về hình sự,
chưa có trong thống kê hình sự chính thức [17, tr. 181], hay một quan điểm
khác lại cho rằng: “tội phạm ẩn là số lượng tội phạm đã thực hiện trên thực tế
nhưng không được tường thuật với cơ quan cảnh sát hoặc chưa bị phát hiện
bởi cơ quan có thẩm quyền do vậy chưa bị đưa ra xét xử, chưa có thống kê
hình sự chính thức” [16, tr. 29].
10
Mặc dù các quan điểm trên còn những nhận xét khác nhau về tội phạm
ẩn nhưng tất cả đều thừa nhận rằng tội phạm ẩn là tội phạm chưa được thống
kê hình sự. Có thể thấy rằng, thống kê hình sự là về tội phạm là những cơ sở
để nghiên cứu về tình hình tội phạm, từ những số liệu thống kê để phân tích
về tình hình tội phạm, từ đó tìm ra những nguyên nhân, điều kiện của tội
phạm và áp dụng những biện pháp phòng ngừa phù hợp với thực tiễn. Do đó,
số liệu thống kê tội phạm của cơ quan chức năng càng sát với thực tế số tội
phạm xảy ra bao nhiêu thì việc nghiên cứu THTP càng có mức độ tin cậy cao
nghiên cứu và đánh giá về tình hình tội phạm trong xã hội, chính đặc điểm
này cho phép chúng ta có thể phân biệt được tội phạm với các vi phạm pháp
luật, các hành vi tiêu cực trong xã hội. Từ đó có thể xác định chính xác đối
tượng nghiên cứu của tội phạm học phải là tội phạm, tức hành vi nguy hiểm
cho xã hội nhưng phải được quy định trong BLHS.
Ngoài tính pháp lý hình sự, tình hình tội phạm còn thể hiện tính giai cấp
sâu sắc. Tình hình tội phạm không phải là hiện tượng có trong mọi xã hội loài
người mà nó chỉ ra đời cùng với sự xuất hiện giai cấp, có giai cấp thống trị và
giai cấp bị trị. Chính giai cấp thống trị trong xã hội sẽ quy định hành vi nào bị
xem là tội phạm và hệ thống các biện pháp trừng trị căn cứ vào tính chất mức
độ nguy hiểm của hành vi đó đối với lợi ích của giai cấp mình, đồng thời
chính giai cấp thống trị có toàn quyền đề ra những trình tự thủ tục áp dụng
cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội và người thực
hiên hành vi phạm tội. Chính vì lẽ đó, tình hình tội phạm cũng mang tính giai
cấp sâu sắc.
Và tình hình tội phạm là tổng thể các tội phạm xảy ra, bao gồm hành vi
phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội đó. Nói cách khác, tình hình tội
phạm được tạo nên từ chính người phạm tội và tội phạm cụ thể được quy định
trong BLHS. Điều này cho thấy, giữa tình hình tội phạm và tội phạm cụ thể là
12
một thể thống nhất biện chứng, tác động qua lại. Khi có sự biến đổi ở tội
phạm cụ thể sẽ kéo tình hình tội phạm thay đổi theo.
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tình hình tội phạm
Từ phân tích ở trên, ta biết rằng tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội
và là một hiện tượng xã hội tiêu cực. Do đó, khi nghiên cứu, giải quyết về tình
hình tội phạm của địa bàn nào, ta phải đặt nó trong mối quan hệ biện chứng
với các hiện tượng, quá trình xã hội diễn ra trên địa bàn đó. Và khi tiến hành
đưa ra các giải pháp phòng ngừa, ta phải tìm ra các giải pháp cơ bản về xã
ra trên thực tế, nhưng không được các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các cơ quan chức năng không phát hiện và xử
lý được, nhưng tập trung vào các nguyên nhân sau: có thể từ chính hành vi
phạm tội, từ chủ thể thực hiện, nạn nhân của hành vi phạm tội, từ người
chứng kiến hoặc người biết việc. Tóm lại, khi tội phạm thực tế xảy ra, không
ai đứng lên tố giác, cũng không có tin báo và bản thân các cơ quan bảo vệ có
trách nhiệm phát hiện, xử lý hành vi phạm tội cũng không nhận thức được các
dấu hiệu tội phạm mặc dù thực tế hành vi phạm tội đã xảy ra. Khi tội phạm đã
xảy ra thực tế mà không bị các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý thì đồng
nghĩa là trong thống kê tội phạm sẽ không có.
Theo nghiên cứu hiện nay thì tội phạm ẩn khách quan đang chiếm tỷ lệ
lớn trong số các loại tội phạm ẩn ở nước ta hiện nay. Đây là một thách thức
không nhỏ đối với các cơ quan chuyên trách trong công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của khoa
học công nghệ, các loại tội phạm mới và truyền thống có nhiều thủ đoạn làm
ẩn hành vi của mình đối với các cơ quan chuyên trách.
- Tội phạm ẩn chủ quan
Tội phạm ẩn chủ quan được hiểu là toàn bộ các loại tội phạm đã xảy ra
trong thực tế mà thông tin về chúng đã được các cơ quan có chức năng nắm
14
được nhưng vì những lý do khác nhau mà các loại tội phạm này không bị phát
hiện và xử lý trong một thời gian nhất định hoặc đã được xử lý nhưng không
đúng theo quy định của pháp luật.
Không giống như tội phạm ẩn khách quan, tội phạm ẩn chủ quan có
điểm xuất phát cũng từ thực tế các tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng
nguyên nhân dẫn đến ẩn lại từ chính các cơ quan chuyên trách các cơ quan có
nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm được Nhà nước trao thẩm quyền
xử lý. Các tội phạm này đã được chính các cơ quan chuyên trách nắm được và
hai phương diện, gồm: mức độ tổng quan và mức độ nhóm.
Mức độ tổng quan được xác định bằng tổng số vụ án và bị cáo đã được
đưa ra xét xử trong một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất
định. Mức độ tổng quan được thể hiện qua hệ số của tình hình tội phạm và cơ
số hành vi phạm tội. Trong đó:
Hệ số của tình hình tội phạm tức là mối tương quan của số lượng các tội
phạm đã được thực hiện với số lượng dân cư tính trên 10 nghìn hoặc 100
nghìn người [39, tr. 62].
Cơ số hành vi phạm tội là số lượng hành vi phạm tội (số lượng bị cáo) so
với số lượng dân cư tính trên 10 nghìn hoặc 100 nghìn người.
Mức độ nhóm được xác định bằng tổng số vụ phạm tội của một nhóm tội
phạm nào đó được quy định trong BLHS trong tổng số vụ án đã xảy ra. Ngoài
ra, còn có mức độ tội cụ thể là tổng số vụ của một tội cụ thể trong tổng số vụ
án đã xảy ra.
1.2.2. Diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm
Diễn biến của tình hình tội phạm là sự vận động và sự thay đổi của thực
trạng và cơ cấu của tình hình tội phạm trong khoảng thời gian nhất định [39,
tr. 63]. Sự phản ánh này có thể là xu hướng tăng, giảm hay ổn định tương đối
của tình tình tội phạm.
16
Và để thấy được xu hướng của tình hình tội phạm diễn ra theo xu hướng
nào thì ta phải đặt chúng trong một chu kỳ nhất định, có thể là 05 năm hoặc
10 năm tùy vào quy mô và mức độ nghiên cứu khác nhau. Trong đó, năm đầu
tiên của chu kỳ sẽ là năm gốc để so sánh với các năm tiếp theo. Qua đó, cho ta
thấy được quy luật vận động của tội phạm (nhóm tội hoặc tội cụ thể) một chu
kỳ, đó là tăng, giảm hay ổn định tương đối. Thông qua đó, giúp ta có cơ sở về
xu hướng vận động của tình hình tội phạm trong thời gian tới. Từ đó, việc đề
ra các giải pháp phòng ngừa sẽ tập trung, trọng điểm, sát với thực tế và mang
1.2.3.1. Theo tên chương của các tội phạm cụ thể trong BLHS
Cơ cấu được phân chia theo tỷ trọng giữa các tội của từng chương đã xảy
ra với tổng số tội đã xảy ra. Cụ thể, nếu coi tổng số các tội phạm đã xảy ra
trong thời gian nhất định trên địa bàn nhất định là 100% thì các tội phạm của
mỗi chương đã xảy ra chiếm bao nhiêu %.
Cách xác định này dùng để cho ta biết tổng quan về tình hình tội phạm
trên địa bàn, xác định các nhóm tội chiếm tỷ lệ cao trong tổng số tội phạm xảy
ra để tập trung hướng phòng ngừa có hiệu quả, không dàn trải.
1.2.3.2 Theo tội danh cụ thể được quy định trong BLHS
Thường để áp dụng khi nghiên cứu về một nhóm tội được quy định trong
BLHS, được tính bằng tỷ trọng giữa tội danh cụ thể đã xảy ra với tổng số tội
phạm xảy ra trong nhóm tội mà ta đang nghiên cứu trong một khoảng thời
gian nhất định và địa bàn nhất định. Qua đó, xác định những tội danh chiếm
tỷ lệ cao nhất để tập trung tìm ra nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh, từ
đó tìm hướng phòng ngừa thích hợp, hiệu quả
1.2.3.3. Theo hình thức phạm tội
Loại cơ cấu này nhằm xác định tỷ lệ phần trăm của từng hình thức phạm
tội như đơn lẻ, đồng phạm hay có tổ chức chiếm bao nhiêu trong tổng số tội
phạm đã xảy ra. Đây là một loại cơ cấu rất có ý nghĩa trong việc xác định tính
18