Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, không gian sống của con người đã bị thu hẹp lại rất
nhiều, việc dân số ngày càng gia tăng cùng với áp lực người dân đổ xô lên những
thành phố lớn để sinh sống đã làm cho mật độ dân số tăng lên rất nhiều, tại thành
phố Hồ Chí Minh theo số liệu của Cục Thống kê dân số thành phố vào giữa năm
2010 là 7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km
2
, mật độ dân số cả nước cao gấp 5
lần so với mật độ dân số thế giới. Với mật độ dân số cao như thế thì không gian sống
của người dân đang gặp phải những vấn đề hết sức khó khăn. Từ thực tế đó, việc đưa
ra giải pháp giúp cải thiện không gian sống của con người được quan tâm hơn rất
nhiều. Việc làm thế nào để có thể mang lại một không gian sống trong lành đảm bảo
đưa môi trường xanh vào gần gũi với con người, giúp con người sống gần thiên
nhiên, đáp ứng được nhu cầu về môi trường trong lành hơn được đặc biệt quan tâm.
Trước những nhu cầu như thế của xã hội thì một giải pháp được con người áp dụng
đó là thiết kế mẫu nhà ở sinh thái cho những thành phố lớn, với mẫu nhà sinh thái
này con người có thể đưa thiên nhiên vào gần gũi với cuộc sống của mình, từ đó
nâng cao việc yêu môi trường, yêu thiên nhiên vừa có thể đảm bảo mang lại một
không gian sống lý tưởng và cải thiện được tình hình sức khỏe cho bản thân và gia
đình.
Nhà ở sinh thái hiện nay được nhiều người tại thành phố Hồ Chí Minh rất quan
tâm và ngày càng phổ biến trong kiến trúc xây dựng nhà ở. Mẫu nhà sinh thái với
thiết kế đưa cây xanh vào không gian ngôi nhà một cách hợp lý nhất, hài hòa nhất là
lựa chọn của rất nhiều người bởi vừa đảm bảo được không gian sống trong lành vừa
tiết kiệm được chi chí xây dựng một cách thấp nhất so với các mẫu nhà sinh thái
• Đánh giá sự hiểu biết về việc sử dụng cây xanh trong thiết kế nhà ở và nhu cầu của
người dân về mô hình nhà sinh thái hiện nay.
• Tìm hiểu mối tương quan giữa các yếu tố như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ
học vấn, thu nhập cá nhân… có ảnh hưởng đến việc trồng cây xanh trong nhà.
• Đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng cây xanh trong thiết kế nhà ở
sinh thái.
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
3
3. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Với mục tiêu nghiên cứu như trên, nội dung của đề tài tập trung vào các vấn đề
chính sau đây:
• Tổng quan về nhà ở xanh và đô thị sinh thái.
• Tổng hợp, biên hội các tài liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và môi trường
của Quận 2.
• Phát phiếu điều tra khảo sát để lấy ý kiến của người dân.
• Phân tích kết quả điều tra được bằng phần mềm thống kê SPSS (phiên bản 16.0)
nhằm: (1) đánh giá hiện trạng và nhận thức của người dân về việc sử dụng thực vật
trong thiết kế nhà ở sinh thái; (2) xác định các mối tương quan như giới tính, độ
tuổi, trình độ, thu nhập với việc trồng cây xanh trong nhà.
• Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc sử dụng
cây xanh trong thiết kế nhà ở sinh thái.
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
• Thực vật cảnh (cây cảnh) đang được trồng tại Quận 2
• Người dân sinh sống trên địa bàn Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh.
5. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
• Giới hạn về không gian và thời gian: Do thời gian thực hiện đồ án có giới hạn
trong khoảng 12 tuần từ ngày 14/11/2011 đến ngày 14/2/2012 nên đề tài chỉ tập
trung vào việc khảo sát lấy ý kiến của người dân trên các phường: Thảo Điền, An
1 chương phương pháp nghiên cứu, 1 chương hiện trạng, 1 chương giải pháp và
cuối cùng là phần kết luận kiến nghị. Trong đó:
• Phần mở đầu nêu lên mục đích nội dung và ý nghĩa của đề tài.
• Chương 1: Giới thiệu chung về đô thị sinh thái và nhà ở sinh thái.
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
5
Đưa ra các khái niệm về đô thị sinh thái và nhà ở xanh, đặc điểm cũng như các
tiêu chí quy hoạch mô hình nhà ở sinh thái hiện nay.
• Chương 2: Tổng quan về điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của Quận 2.
Nêu lên các đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và các vấn đề về hiện
trạng sử dụng đất, hiện trạng mảng xanh, trình độ học tập, thu nhập bình quân của
người dân Quận 2.
• Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Nêu ra cơ sở của việc nghiên cứu và các thức áp dụng, các bước của quy trình
chọn mẫu và phát phiếu điều tra khi thực hiện nghiên cứu.
• Chương 4: Hiện trạng sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh tại quận 2.
Đưa ra kết quả nghiên cứu cụ thể về hiện trạng sử dụng cây xanh trên địa bàn
Quận 2 và phân tích các yếu tố liên quan đến việc trồng cây xanh trong không gian
nhà ở hiện nay
• Chương 5: Đề xuất các phương hướng, giải pháp sử dụng thực vật trong thiết kế
nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2.
Đưa ra các giải pháp đối với từng yếu tố, đối tượng riêng nhằm nâng cao hiệu quả
việc trồng cây xanh, cây cảnh trong nhà.
• Phần kết luận, kiến nghị.
Những đô thị sắp xây dựng nên quy hoạch theo kiểu đô thị sinh thái, trong đó có
cả khu công nghiệp sinh thái, khu dân cư sinh thái. Có 4 nguyên tắc chính để tạo
dựng những thành phố sinh thái:
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
7
1- Xâm phạm ít nhất đến môi trường tự nhiên
2- Đa dạng hóa nhiều nhất việc sử dụng đất, chức năng đô thị và các hoạt động
khác của con người.
3- Trong điều kiện có thể, cố giữ cho hệ thống đô thị được khép kín và tự cân
bằng.
4- Giữ cho sự phát triển dân số đô thị và tiềm năng của môi trường được cân
bằng một cách tối ưu.
1.1.3 Những tiêu chí quy hoạch của đô thị sinh thái
Các tiêu chí quy hoạch đô thị sinh thái có thể được khái quát trên các phương
diện sau: kiến trúc công trình, sự đa dạng sinh học, giao thông, công nghiệp và kinh
tế đô thị.
- Về kiến trúc, các công trình trong đô thị sinh thái phải đảm bảo khai thác tối
đa các nguồn mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng
nhu cầu nước của người sử dụng. Thông thường là nhà cao tầng để dành mặt
đất cho không gian xanh.
- Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang cư trú
tự nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên
nhiên để nghĩ ngơi giải trí.
- Giao thông và vận tải cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng
hóa chủ yếu nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận. Phần lớn dân
cư đô thị sẽ sống và làm việc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp để
giảm thiểu nhu cầu di chuyển cơ giới. Sử dụng các phương tiện giao thông
công cộng nối liền các trung tâm để phục vụ nhu cầu di chuyển xa hơn của
các bãi cỏ và cây xanh để điều nhiệt và để tái sinh nước. Thành phố dành cho mỗi
người đi bộ một không gian rộng gấp sáu lần Côpenhaghen, một trong những thủ đô
thoáng đãng nhất của Châu Âu. Ủy ban khôi phục rừng của Bắc Kinh long trọng
cam kết ngày 17 tháng 10 năm 2001 rằng sẽ biến đổi thủ đô Bắc Kinh thành một
thành phố sinh thái quốc tế hạng nhất trước năm 2007 nhằm phục vụ tổ chức "Thế
vận hội Olimpic xanh" vào năm 2008.
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
9 Hình 1.1: Mô hình đô thị sinh thái hiện nay
Dự án quy hoạch phát triển tiểu khu Christie Walk nằm trong trung tâm buôn
bán của thành phố Adelaide, đã phối hợp nhiều yếu tố sinh thái bền vững và nâng
cao tính cộng đồng. Diện tích khu đất khoảng 2000 m
2
, giành cho 27 hộ gia đình
với tổng số dân cư khoảng 40 người, địa chỉ số 105, phố Sturt, thành phố Adelaide.
Các kết quả mong muốn thu được gồm: bảo tồn nước và năng lượng; tái sử dụng và
tái sinh vật liệu; tạo ra các không gian công cộng thân thiện, có lợi cho sức khỏe.
Các đặc điểm chính của dự án là: các không gian thân thiện cho người đi bộ; vườn
chung, bao gồm cả vườn mái; sản xuất lương thực địa phương trong các khu vườn
lương thực công cộng tại chỗ; trữ nước mặt để sử dụng cho các vườn và nước xả vệ
sinh; thiết kế thuận lợi với khí hậu/mặt trời để sưởi, làm mát và điều hòa độ ẩm
bằng gió, ánh sáng mặt trời và hệ thực vật; nước nóng sử dụng mặt trời; năng lượng
quang điện thu bằng các tấm panô lắp đặt vào các hệ khung giàn trên vườn mái; sử
dụng các vật liệu tái sinh, không độc hại và tiêu thụ ít năng lượng; giảm thiểu sự
phụ thuộc vào ôtô con do bối cảnh nội thành.
Ở Việt Nam, mô hình như vậy rất khó khả thi vì đầu tư ban đầu đòi hỏi khoản
kinh phí lớn (khoảng 4,5 tỉ euro cho một đô thị như ở khu hải cảng cũ Stockholm).
)
1
Đất công cộng
68.661
2
Đất ở
390.512
Đất nhà lô phố
156.929
Đất tái định cư
30.933
Đất biệt thự đơn lập
135.769
3
Đất biệt thự xong lập
66.881
4
Đất du lịch thương mại
6.314
5
Đất nhà trẻ
4.21
6
Đất bến bãi
1.676
7
Đất công viên cây xanh – mặt
nước
168.993
8
1.2.1 Khái niệm chung
Nhà ở sinh thái đó là kiến trúc nhà ở được áp dụng các thành tựu khoa học xây dựng
hiện đại và sinh thái học trong việc thiết kế hợp lý các yếu tố vật chất cũng như năng
lượng của không gian trong và ngoài công trình nhằm chuyển đổi tuần hoàn trong một hệ
thống nhất định với hiệu quả cao, tiêu thụ ít năng lượng, cân bằng sinh thái và không gây
ô nhiễm môi trường. Không thể không có nhà ở sinh thái nếu không áp dụng hàng loạt
các tiến bộ về vật liệu xây dựng, thiết bị, kỹ thuật xây dựng cũng như các công nghệ
mới về thông tin điện tử, năng lượng mới và tái tạo năng lượng, nghĩa là mọi điều kiện
cần thiết cho việc sinh thái hoá nhà ở.
1.2.2 Đặc điểm và phân loại nhà ở sinh thái
1.2.2.1 Đặc điểm
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
13
Nhà ở sinh thái trước kia là tổ chức không gian điển hình nhà ở Việt truyền
thống: ngôi nhà + sân + vườn + ao, một cấu trúc sinh thái đặc trưng. Ngôi nhà chính
bao gồm ba hoặc năm gian, nhiều khi thêm hai chái. Nhà là một không gian thống
nhất, tạo điều kiện tối ưu cho không khí lưu thông, đặc biệt trong điều kiện khí hậu
nóng ẩm. Hàng hiên và sân sạch là những nhân tố chuyển tiếp từ thiên nhiên vào
nhà và ngược lại. Vườn không chỉ cung cấp rau quả, củi và vật liệu xây dựng; nó là
phương tiện điều tiết khí hậu trong khuôn viên nhà. Ao là một phát minh kỳ lạ về
mặt sinh thái của văn minh cư trú Việt: Đào ao lấy đất đắp nền, lấy nơi thả bèo và
thả cám, tắm giặt, thoát nước mưa, làm mát không khí.
Cấu tạo nhà ở Bắc Bộ và Nam Bộ có sự khác biệt: Nhà ở phía bắc có kết cấu
bao che lưỡng tính, bởi nó phải vừa mở tối đa vào mùa hạ và lại vừa khép kín ở
chừng mực có thể vào mùa đông. Trong khi đó, kết cấu bao che của nhà ở phía nam
lại mỏng manh, bổn phận của nó chỉ thuần túy che mưa chắn nắng.
- Hướng ra và mở tối đa vào thiên nhiên.
- Sử dụng đất hết sức tiết kiệm, bằng mọi cách giữ lại nhiều đất không bị chiếm
cứ bởi xây dựng, dành nhiều đất cho việc tạo mảng xanh xung quanh nhà.
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
15
- Không gian của ngôi nhà phải là không gian thống nhất, không bị xé vụn, tránh
những diện tích thiếu ánh sáng tự nhiên và không khí ít lưu thông.
- Sử dụng nhiều các vật liệu có xuất xứ tự nhiên, đặc biệt vật liệu địa phương.
- Kéo gần trời đất và thiên nhiên vào nhà, bằng việc thiết kế lôgic, ban công, hàng
hiên, mái che; bố trí cây xanh ở mọi nơi có thể; biến mái nhà thành vườn cây cỏ.
Trồng cây cỏ sân vườn và thiết lập hệ thống phun tưới thường xuyên. Đây là tiêu
chí quan trọng nhất mà đề tài tập trung nghiên cứu.
- Tận dụng tối đa gió tự nhiên, kích thích sự lưu thông của không khí; tăng cường
sử dụng ánh sáng tự nhiên.
- Hạn chế bằng mọi cách việc sử dụng các phương tiện và thiết bị tạo tiện nghi khí
hậu và tiện nghi sống nhân tạo.
- Ưu tiên tối đa cho việc sử dụng các nguồn năng lượng tự nhiên, tận dụng hết các
vai trò quan trọng của cây xanh đối với đời sống.
- Kết hợp thông minh các chu trình mở và chu trình khép kín trong một căn nhà ở.
- Nhà ở sinh thái sử dụng thực vật trong thiết kế phải là nhà hô hấp nghĩa là có
khả năng điều hòa và lưu thông không khí tốt.
1.2.4 Tình hình nhà ở sinh thái trên thế giới và Việt Nam
1.2.4.1 Tình hình nhà ở sinh thái trên thế giới
Những ngôi nhà sinh thái đã trở thành trào lưu ở Đan Mạch và Thụy Điển.
Trong thập niên qua tại châu Âu đã xuất hiện cả những khu phố sinh thái dần dần
mở rộng thành các thành phố sinh thái. Riêng tại Đan Mạch có 6 điểm dân cư được
chính thức công nhận là thành phố sinh thái. Tại thủ đô Copenhagen của Đan Mạch,
những ngôi nhà sinh thái sử dụng rất nhiều cây xanh và thân thiện với môi trường
ta nhưng chưa có một công trình nào mang đầy đủ điều kiện của một kiến trúc sinh
thái.
Gần đây, mô hình nhà ở sinh thái đô thị của nhóm sinh viên Đại học Kiến trúc
Đà Nẵng đang được nhiều người quan tâm và hỗ trợ kinh phí xây dựng thí điểm.
Theo thiết kế ngôi nhà này được xây dựng khá kiên cố và quy mô (gồm 3 tầng), có
kết cấu bê tông nhẹ và hài hòa bởi hệ thống nhà – vườn – cây cảnh… và sử dụng hệ
thống điện năng từ gió. Ngoài ra sân thượng phía trước tầng 3, nơi có mái nhà tứ
giác và vườn sinh thái để trồng cây ăn quả, rau sạch, các loại hoa và cả ao cá. Điều
này tạo cho ngôi nhà có cảm giác thân thiện với môi trường và tạo nên một không
gian sống lý tưởng. Hình 1.5: Mô hình nhà ở sinh thái tại Việt Nam
1.3 SỬ DỤNG THỰC VẬT TRONG THIẾT KẾ NHÀ Ở XANH
1.3.1 Vai trò của cây xanh trong xây dựng nhà ở
Dưới sự phát triển và tác động của con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên
nhiên đang dần bị mất đi. Khí hậu thay đổi, thời tiết bất thường cộng với nhiều
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
18
nguồn ô nhiễm gây ra cho con người những bất lợi về sức khỏe đặc biệt là về yếu tố
tinh thần. Để bảo vệ môi trường và cải thiện không gian sống quanh ta, ngoài các
biện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì việc sử dụng cây xanh có vai trò vô cùng
quan trọng. Hệ thống cây xanh xung quanh nhà ở có những vai trò chính sau:
- Trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả
năng ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước,
giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước,
kiểm soát gió và lưu thông gió.
cũng có tác dụng hút khí độc nhưng mức độ hút các loại khí độc của các cây là khác
nhau. Các cây khác nhau cũng đòi hỏi điều kiện về ánh sáng và độ ẩm khác nhau,
thích hợp cho những chỗ khác nhau trong nhà. Dưới đây là một số cây xanh trồng
trong nhà phổ biến nhất và đặc điểm của từng loại:
Bảng 1.2: Các loại cây xanh trồng trong nhà và đặc điểm của từng loại Cây Lượng ty: thích chỗ râm, không chịu được ánh sáng
mạnh. Mùa hè có thể phun nước lên lá, mùa đông chỉ cần ít
nước (tưới không quá 1 lần 1 tuần).
Cây Nha đam: Thích chỗ nửa sáng nửa râm. Mùa đông cần rất
ít nước (đất mà nhiều nước quá có thể làm thối cây). Cây xương rồng: Làm giảm tác hại của các phát xạ từ các máy
móc như tivi, máy tính … Những người bị nhức đầu vì làm
việc với máy tính nhiều tìm lại thăng bằng cơ thể nhờ đặt
xương rồng chỗ làm việc. Cây Vạn niên thanh: không cần nhiều ánh sáng nhưng thích
ẩm, có thể đặt cây ở phòng khách hay gần cầu thang.
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
Cây si: Thích ánh sáng, tưới nước vừa phải, không nhiều. Chú
ý là khi cây si đang thích hợp với chỗ nào rồi, thì tránh chuyển
chỗ nó, vì nó sẽ bị rụng lá trong những ngày sau khi chuyển
chỗ.
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
21
1.3.3 Một số cách bài trí cây xanh trong thiết kế nhà ở xanh
Nhà ở của người Việt thường gắn liền và hòa hợp với thiên nhiên. Một không
gian xanh trong nhà không chỉ là mang ý nghĩa đó mà còn có ý nghĩa về mặt tâm
linh. Chọn lựa cây xanh trong nhà ở không những đem lại vẻ tươi mát mà còn đem
lại sinh khí cho nơi ở. Việc đưa cây xanh vào nội thất nhà phố rất quan trọng để
hình thành nên các cảnh quan thiên nhiên thu nhỏ, cải thiện môi trường ở và điều
chỉnh luồng khí. Cây xanh cho nội thất nên là những loại cây xanh tốt, có nhiều
mầm lộc phù hợp với môi trường sống ít ánh sáng trực tiếp và chịu bóng râm. Nên
tránh các loại cây thô nhám, xù xì, gai góc.
Bước chân vào nhà cũng như đang dạo chơi trong vườn cùng với chuối cảnh, cọ
và dương xỉ. Tùy theo kiến trúc của ngôi nhà và sở thích của bản thân mà sẽ có
những vị trí đặt cây xanh nhất định, xu hướng chung nên đặt cây xanh vào những vị
trí nhiều ánh sáng, vị trí trống của ngôi nhà, những vị trí muốn che khuất tầm nhìn,
điểm nhấn trong ngôi nhà cần làm nổi bật… Hình 1.6: Trang trí cây cảnh trên tường
Với người Việt, khi mang cây xanh vào nhà đều có sự cân nhắc về ý mặt nghĩa
của chúng. Ở những không gian đối ngoại như tiền sảnh, phòng ăn vào dịp lễ tiệc
thường chọn đặt các cây có dáng cân đối, bề thế. Ví dụ chậu mai thế hay quất, đào
Trong khu vực phòng ăn và bếp nên bố trí các loại cây gọn, tán nhỏ và có chức
năng khử mùi như: dương xỉ, ngũ gia bì,… Trong khu vực đặt bàn ăn nên có những
chậu hoa màu sắc tươi sáng, kích thích sự tiêu hóa như: tía tô cảnh, đỗ quyên…
Với những không gian chuyển tiếp phía ngoài nhà thì việc bố trí cây xanh tùy
theo ý thích vì khu vực này là nơi cây có thể tiếp xúc với điều kiện tự nhiên nên dễ
sinh sống phát triển bình thường.
Nếu bố trí cây xanh trong nhà ở vị trí ít ánh sáng thì có thể dùng đèn chiếu sáng
cho cây. Loại đèn này phát ra ánh sáng giống ánh sáng mặt trời giúp cây sinh
trưởng và quang hợp một cách bình thường.
1.3.4 Lợi ích của việc sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở xanh
Cây xanh không chỉ làm đẹp ngôi nhà mà còn mang đến nhiều tác động có lợi
khác. Theo nhiều nghiên cứu khoa học, thực vật rất có ích nếu biết cách trồng chúng
trong nhà. Sau đây là những lợi ích của việc trồng cây trong nhà mang lại:
1- Cải thiện chất lượng không khí
Nhiều nghiên cứu trước đây chứng minh chất lượng không khí trong nhà tăng
lên khi có cây xanh. Một số người cho rằng chúng làm tăng lượng O
2
trong nhà,
nhưng thực tế không hoàn toàn đúng như vậy. Thực vật còn có thể hấp thụ những
độc tố như carbon monoxide (CO), một số hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và thậm chí
các nhóm xyanua và chuyển hóa chúng. Cây cối cũng có thể hấp thụ các phân tử
kim loại nặng và giữ chúng bên trong thân. Trước khi sơn tường, bạn nên trồng một
số cây trong nhà để chúng "hút" các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi thoát ra từ sơn, nhờ
đó mọi người sẽ không hít phải chúng. Theo nghiên cứu của NASA cây cau có khả
năng loại bỏ các tạm chất có trong không khí; cây tre có khả năng loại bỏ benzen,
trichloroethylene và formaldehyde; cây dương xỉ có khả năng loại bỏ các chất độc là tác
nhân của bệnh hen suyển, các bện về đường hô hấp; cây lan ý có khả năng loại bỏ như cồn,
acetone, formandehyde và trichloroethylene; cây cọ có khả năng hút hút tolurne, xylene,
và formaldehyde…
1.3.5 Những loài thực vật có khả năng gây độc trong nhà
Thực vật trồng trong nhà ngoài việc đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thì cũng
có nhiều loại cây có khả năng gây độc nếu không hiểu rõ về đặc điểm sinh trưởng
phát triển của từng loài. Bảng 1.3 là một số loài thực vật có khả năng gây độc được
trồng phổ biến hiện nay:
Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, TP.HCM
25
Bảng 1.3: Những loài thực vật có khả năng gây độc Môn kiểng: Tên khoa học là Caladium hortulanum. Tất cả
các bộ phận của cây đều có chất độc Calcium oxalate và
Asparagine. Khi ăn phải sẽ dẫn đến nguy cơ bị bỏng, ngứa
rát vùng miệng, niêm mạc ruột. Xương rồng bát tiên: Tên khoa học là Euphorbia milii
splendens. Nhựa cây gây bỏng rát da khi tiếp xúc.
Cà độc dược, một số loại cà kiểng, hoa Lưu ly: Tên khoa
học là Datura metel, thuộc họ cà Solanaceae. Tiếp xúc
qua da với bất kì vị trí nào trên cây đều có thể gây nổi
mẩn đỏ, ngứa, chóng mặt, nhức đầu, thấy ảo giác, hôn mê
và có thể gây mù mắt hoặc tử vong.