Luận văn tội MUA bán NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM – từ THỰC TIỄN tại TỈNH QUẢNG NINH - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG DUY LONG

TỘI MUA BÁN NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM – TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG DUY LONG

TỘI MUA BÁN NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM – TỪ THỰC TIỄN
TẠI TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI, 2019




DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL

: Áp dụng pháp luật.

BLHS

: Bộ luật Hình sự.

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự.

LHQ

: Liên Hợp Quốc.

QĐHP

: Quyết định hình phạt.

TNHS

: Trách nhiệm hình sự.

TMBN


Quốc 116 nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc.
Thực tiễn trong những năm qua trên địa bàn toàn quốc nói chung, các tỉnh
biên giới nói riêng trong đó có Quảng Ninh, tội phạm mua bán người ngày càng
gia tăng, diễn biến tội phạm ngày càng phức tạp, thủ đoạn tội phạm ngày càng
tinh vi. Các quy định của pháp luật cũng chưa bao quát được hết những hành vi
phạm tội của loại tội phạm này dẫn đến công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét
xử tội phạm này trên thực tế còn phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được ban hành
đã hoàn thiện hơn khung pháp lý quan trọng cho việc xử lý người phạm tội
mua bán người, giúp cho việc áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử đối với loại tội phạm này được thống nhất trên phạm vi cả nước nói
1


chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng kể từ
khi BLHS 2015 có hiệu lực, các quy định của BLHS 2015 về tội mua bán
người cũng còn có những vướng mắc, bất cập, dẫn đến việc định tội danh và
quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Quảng Ninh đối với
tội mua bán người gặp những khó khăn, thậm chí là sai phạm. Do vậy, việc
nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội
mua bán người luôn là vấn đề cấp thiết.
Với lý do nêu trên, học viên quyết định chọn đề tài: “Tội buôn bán
người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm
luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hình sự - Tố tụng hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tính thời điểm hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề
liên quan đến tội mua bán người, phòng ngừa tội mua bán người. Cụ thể:
- GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (2011): “Luật Phòng, chống mua bán
người - Cơ sở pháp lý đấu tranh chống tội phạm mua bán người trong thời
gian tới”, Tạp chí CAND số chuyên đề tháng 8 năm 2011

- Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người
theo quy định của pháp luật hình sự.
- Phân tích các quy định của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
về tội mua bán người.
- Khái quát lý luận và phân tích thực trạng định tội danh và quyết
định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh trong giai
đoạn 2014-2018;
- Phân tích các yêu cầu và đề xuất các giải pháp đảm bảo định tội danh
và quyết định hình phạt đúng đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn lấy các quan điểm
khoa học, các quy định của pháp luật hình sự hiện hành, thực trạng định tội
danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh
để nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
3


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật hình
sự và tố tụng hình sự ngoài những vấn đề lý luận, luận văn nghiên cứu quy
định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).Trong quá
trình nghiên cứu, tác giả có khảo cứu các quy định, nghị quyết, văn bản
hướng dẫn của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về tội mua bán người.
Các tài liệu, số liệu, vụ án điển hình phục vụ nghiên cứu được tác giả luận
văn thu thập từ nguồn thống kê xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân
các cấp tại tỉnh Quảng Ninh trong thời gian 5 năm từ năm 2014 - 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa duy vật biện

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để các cán
bộ, công chức, các tổ chức, cá nhân có thể khảo cứu trong quá trình áp dụng
pháp luật, cụ thể là trong định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua
bán người. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu có giá trị
tham khảo phục vụ quá trình, học tập và nghiên cứu trong giảng dạy tại các cơ
sở đào tạo luật tại Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về tội mua
bán người.
Chương 2: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội
mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo định tội danh và quyết định
hình phạt đúng đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI
1.1. Những vấn đề lý luận về tội mua bán người
1.1.1. Khái niệm tội mua bán người
Mua bán người là hành vi xâm phạm trực tiếp đến nhân phẩm, danh dự
của con người, coi con người như hàng hóa để mua bán, trao đổi lấy tiền hoặc
lợi ích vật chất khác. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng như trong
pháp luật hình sự Việt Nam thuật ngữ “buôn bán người” không được sử dụng
mà thay vào đó là thuật ngữ “mua bán người”. Theo Giáo trình Luật hình sự
của Đại học Luật Hà Nội do nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm
2005 thì hành vi mua bán người được hiểu là: “Hành vi dùng tiền hoặc phương
tiện thanh toán khác như tiền, ngoại tệ… để trao đổi, mua bán người như một

Theo Điều 150 BLHS 2015 tội mua bán người có thể hiểu đó là việc
đem người và nhóm người này sang một người hoặc một nhóm người khác để
đổi lấy tiền, hàng hóa hoặc lợi ích vật chất khác. Đối tượng bị xâm hại : là con
người từ đủ 16 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính. Trường hợp đối tượng
là người bị mua bán người dưới 16 tuổi, người phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS
về tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại điều 151 BLHS năm 2015.
Nếu như vậy, ý chí chủ quan của người bị mua bán ( người đó có đồng ý hay
không về việc mình bị mua bán) không có ý nghĩa trong cấu thành tội mua
bán người [23,tr.436].
Từ quy định tại Điều 150 BLHS 2015, để hướng dẫn áp dụng pháp luật
được thống nhất trong việc xử lý tội mua bán người. Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2019 ngày 11/01/2019.
Hướng dẫn áp dụng áp dụng Điều 150 về tội mua bán người của BLHS năm
2015. Tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP đã đưa ra định
nghĩa về “tội mua bán người” là : “Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe
7


dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thưc hiện một trong các hành vi
sau đây: a) Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất
khác; b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; c)
Chuyển giao người khác để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận
trên cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; d) Tiếp nhận
người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể của
nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa
chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại
điểm a và điểm c của khoản này”.
Tác giả đồng ý với định nghĩa trên vì đã bao quát tương đối đầy đủ các
hành vi của tội mua bán người và phù hợp với các tình tiết định tội được quy
định tại Điều 150 BLHS 2015 và khắc phục được những hạn chế, bất cập theo

Hành vi mua bán người xâm hại đến khách thể chung của tội phạm
được ghi nhận tại Điều 8 BLHS năm 2015 đó là xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế xã hội, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, xâm phạm đến những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật mà theo quy định của BLHS này thì phải bị xử lý hính sự.
Hành vi mua bán người xâm hại khách thể loại đó là những quan hệ xã
hội được ghi nhân tại chương XIV BLHS năm 2015, gây thiệt hại hoặc đe dọa
gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó, tính nguy hiểm cao của hành vi
mua bán người trước hết thể hiện ở chỗ, người phạm tội có ý thức coi con
người như hàng hóa để trao đổi và mua bán. Trường hợp nạn nhân có thể biết
hoặc không biết về việc mua bán này, thậm chí nạn nhân đồng ý để cho người
khác mua bán thì người đó vẫn bị truy cứu TNHS về tội này.[23,tr.436]. Ý chí
có đồng ý hay không của nạn nhân trong việc bị mua bán, vì vậy không phải
là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này. Như vậy, có thể
khẳng định rằng, đối tượng bị xâm hại của tội mua bán người là từ đủ 16 tuổi trở
9


lên, không phân biệt giới tính là đối tượng của tội mua bán người. Trường hợp
đối tượng là người dưới 16 tuổi sẽ xét xử theo tội mua bán người dưới 16 mới
quy định tại Điều 151 BLHS năm 2015
Điều 150 BLHS năm 2015 quy định về tội mua bán người “1. Người
nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt, hoăc bằng các thủ đoạn khác
thực hiện các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, a) chuyển
giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất
khác; b) chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao
động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; c )
tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định

lao động trở thành nạn nhân của các công ty lừa đảo, xuất nhập khẩu lao
động. Một số công ty xuất nhập khẩu lao động Việt Nam áp dụng mức phí
cao hơn mức phí mà luật pháp quy định, đôi khi người lao động phải trả cho
công ty mức phí lên đến 10.000USD để sang nước ngoài làm việc. Vì vậy,
người lao động họ phải gánh trên mình những khoản để được làm việc tại
nước ngoài, khiến họ dễ rơi vào tình trạng lao động làm công để trừ nợ và bị
cưỡng bức lao động.
Khi sang đến nước ngoài, người lao động đã bị bắt buộc phải làm
những công việc trong điều kiện khắc nghiệt, họ làm việc quá số giờ quy định
(thậm chí là làm thêm giờ) một ngày nhưng được trả một mức lương rất ít
hoặc thậm trí không được trả lương và không được tiếp cận với thông tin đại
chúng và nạn nhân cũng không được trợ giúp pháp lý đáng tin cậy nào.
Lợi dụng sự phát triển của internet, điện thoại di động như facebook,
zalo chúng đã liên kết với các tổ chức và thiết lập các đường dây phạm tội, lợi
dụng sơ hở trong quy định của pháp luật, nhất là trong tư vấn môi giới hôn
nhân với người nước ngoài, cho nhận con nuôi, tham quan du lịch, thăm thân,
đi hợp tác lao động, xuất nhập cảnh cũng là thủ đoạn mà người phạm tội mua
bán người sử dụng để lừa gạt đưa nạn nhân ra nước ngoài để thực hiện hành
vi phạm tội mua bán người.
11


Tội mua bán người là tội cấu thành hình thức. Bởi vậy tội phạm hoàn
thành ngay khi người phạm tội thực hiện một trong những hành vi liệt kê tại
khoản 1 Điều 150 BLHS năm 2015. Tất nhiên, khi dùng vũ lực hoặc đe dọa
dùng vũ lực thì tỷ lệ tổn thương cơ thể phải dưới 31% trong trường hợp tỷ lệ
phần tram tổn thương cơ thể trên 31% trở lên sẽ cấu thành tội phạm tang nặng
tương ứng của tội mua bán người.
-Chủ thể của tội mua bán người: theo quy định của luật hình sự Việt
Nam, chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân có thể là pháp nhân thương mại

có ý thức của con người, bao giờ cũng là hoạt động thống nhất bên trong và
bên ngoài. Hai mặt chủ quan của hoạt động luôn thống nhất với nhau. Mặt
bên trong của tội phạm mua bán người không thể thấy được nếu nó không thể
hiện ra bên ngoài bằng các dấu hiệu, tính chất, thực hiện hành vi phạm tội gây
nguy hiểm cho xã hội, bằng hậu quả tác hại, bằng phương pháp thời gian, địa
điểm, phương tiện, công cụ phương thức thực hiện tội phạm. Mặt chủ quan
bên trong của tội phạm mua bán người là diễn biến tâm lý của tội phạm nên
diễn biến này gồm các dấu hiệu : lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm
[28,tr.198].
Như vậy mặt chủ quan của tội phạm bao gồm : lỗi, động cơ, mục đích
phạm tội, trong đó, lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi cấu thành tội phạm
vì tội phạm nào cũng được thực hiện bởi lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Lỗi là thái độ
diễn biến tâm lý của con người đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của
mình và hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra cho xã hội được biểu hiện dưới
hình thức cố ý hoặc vô ý. [28,tr.199].
Mặt chủ quan của tội mua bán người là lỗi cố ý thực hiện hành vi phạm
tội ( có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp). Bởi tội mua bán người có cấu thành
hình thức phức tạp nên vấn đề thấy trước hay không thấy trước hậu quả không
được đặt ra. Lỗi cố ý trực tiếp là khi thực hiện hành vi người phạm tội mua
bán hoặc trao đổi người, nhận thức rõ việc của mình là mua bán hoặc trao đổi
người nhưng vẫn mong muốn thực hiện, mong muốn việc mua bán, trao đổi
13


diễn ra. Lỗi cố ý gián tiếp là khi thực hiện hành vi người phạm tội mua bán
hoặc trao đổi người, nhận thức rõ việc làm của mình là mua bán hoặc trao đổi
người và để mặc nó diễn ra. Trên thực tế, người phạm tội mua bán người
không chỉ được lợi từ khoản tiền thu được về từ việc mua bán người mà còn
hưởng lợi từ việc bắt nạn nhân bán dâm, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận
cơ thể của nạn nhân. Tuy nhiên, theo Nghị định thư về phòng, chống buôn

chuyên nghiệp; b) Để đưa ra nước ngoài; c) Bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo
nhiều trẻ em hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; d) Tái phạm nguy hiểm”.
Mặc dù được sửa đổi, bổ sung bốn lần lần lượt vào các năm 1989,
1991, 1992 và năm 1999. Tuy nhiên, với phương thức thủ đoạn phạm tội ngày
càng tinh vi về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội những quy định của
BLHS năm 1985 không đáp ứng được tính răn đe trong công tác đấu tranh
phòng, chống tội mua bán phụ nữ, trẻ em. Bởi vậy, trong BLHS năm 1999,
nhà làm luật quy định hai điều liên quan trực tiếp liên quan đến việc mua bán
người đó là: Điều 119 quy định tội mua bán người và Điều 120 quy định về
tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Thực tiễn áp dụng BLHS năm
1999 cho thấy có những hạn chế ở chỗ chưa có quy định chế tài đối với hành
vi mua bán nam giới, mua bán người để lấy nội tạng. Trong lần sửa đổi, bổ
sung năm 2009, Bộ luật hình sự năm 1999 mới bổ sung thêm một số tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy, so với BLHS năm 1985 thì BLHS
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã quy định tương đối cụ thể các tội
phạm thường xảy ra liên quan đến tội phạm mua bán người, đặc biệt là phụ
nữ, trẻ em. Cụ thể là theo khoản 1 Điều 119 BLHS 1999 “ tội mua bán người”
thì người nào mua bán người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Tại khoản
2 điều 119 BLHS 1999 quy định về tội mua bán người: phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:a)
Vì mục đích mại dâm; b) Có tổ chức; c) Có tính chất chuyên nghiệp; d) Để

15


lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; đ) Để đưa ra nước ngoài; e) Đối với nhiều
người; e) Phạm tội nhiều lần. Theo khoản 3 nhà làm luật quy định người
phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến
50.000.000 (năm mươi triệu đồng), phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một
năm đến năm năm.

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có
hiệu lực pháp luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 quy định về tội mua bán
người tại Điều 150 BLHS với nhiều sửa đổi, bổ sung, vì vậy hoàn thiện hơn
theo hướng nhân đạo hóa, phân hóa và quốc tế hóa. Cụ thể, Điều 150 BLHS
năm 2015 quy định về tội mua bán người :
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ
đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 10 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi
ích vật chất khác;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao
động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi
quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08
năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Vì động cơ đê hèn;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm b
khoản 3 Điều này;
17


đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
e) Đối với từ 02 đến 05 người;
g) Phạm tội 02 lần trở lên;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12

bán họ nhằm mục đích phạm tội của mình.
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm
thần và hành vi của của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%,
trừ trường hợp đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân.
+ Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam người phạm tội được coi là hành vi phạm tội rất nghiêm trọng.
Thực tiễn xét xử hình sự tại tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua cho thấy
hầu hết các vụ mua bán người để đưa nạn nhân sang bên kia biên giới Trung
Quốc. Tại khoản 3 Điều 3 NQ số 02/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC
có hướng dẫn: Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCN Việt Nam là
trường hợp người phạm tội đã hoặc đang đưa nạn nhân ra khỏi biên giới quốc
gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước CHXHCN
Việt Nam. Cũng được coi là Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCN
Việt Nam nếu đã thực hiện thủ thục xuất cảnh đối với nạn nhân.
+ Đối với từ 02 đến 05 người đây là trường hợp mua bán người từ 02
đến 05 người, trong đó nạn nhân có thể có người bị đưa ra nước ngoài, có
người không bị đưa ra nước ngoài. Nếu có người bị đưa ra nước ngoài thì
người phạm tội bị coi là vừa đưa nhiều người ra nước ngoài vừa mua bán
nhiều người (hai tình tiết định khung).
+ Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã nhiều lần
thực hiện hành vi mua bán người và mỗi lần phạm tội hành vi mua bán đã cấu
thành tội mua bán người

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status