VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
__________________
ĐỖ THỊ THU HIỀN
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH.
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________
ĐỖ THỊ THU HIỀN
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH.
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
hiệu, các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ và các giảng viên Học viện khoa học
xã hội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả
theo học tại Học viện. Cảm ơn toàn thể cán bộ, nhân viên Học viện khoa học
xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập và
nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học.
Sau cùng, tác giả xin được cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ
và kính mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô để tác giả
có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn nhằm đạt được
tính hiệu quả, hữu ích khi áp dụng vào trong thực tiễn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ VÀ TRÌNH
TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP .................................... 7
1.1.Khái niệm về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp ............................... 7
1.2. Những điều kiện đăng ký doanh nghiệp .................................................. 11
1.3 Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp .................................................... 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ
TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH ................................................ 30
2.1. Thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp ............. 30
2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký doanh
nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh. .................................................................... 42
Chương 3: HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
quyền cơ bản của công dân, được thể hiện trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Trong đó, quyền này trước hết thể hiện ở
quyền thành lập doanh nghiệp. Vì vậy, thủ tục đăng ký thành lập doanh
nghiệp (trước đây gọi là đăng ký kinh doanh) là một nội dung, là một chế định
quan trọng trong pháp luật doanh nghiệp. Đây là thủ tục hành chính cho sự ra
1
đời của một doanh nghiệp và có vai trò pháp lý và thông tin quan trọng đối
với các chủ thể trong nền kinh tế thị trường.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của đăng ký thành lập doanh nghiệp,
Đảng và Nhà nước đã và đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Điều đó
được thể hiện rõ nét ở việc ban hành các luật doanh nghiệp như Luật Công ty,
Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21/12/1990, Luật doanh nghiệp ngày
12/6/1990, Luật doanh nghiệp 2005 và mới nhất là Luật doanh nghiệp 2014.
Sự ra đời của Luật doanh nghiệp 2014 với nhiều quy định mới tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ trong thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt
Nam được kỳ vọng sẽ đem lại tác động tích cực trong việc đơn giản hóa thủ
tục đăng ký thành lập doanh nghiệp và rút ngắn thời gian ra nhập thị trường
của doanh nghiệp. Ở đây, cần thiết nghiên cứu cụ thể, sâu sắc các quy định về
đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2014, đặc biệt những
quy định liên quan đến “khuôn khổ pháp luật” để doanh nghiệp tự do thực
hiện quyền đăng ký thành lập doanh nghiệp của mình.
Trên thực tế, Luật Doanh nghiệp 2014 nói chung và những quy định về
thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật này nói riêng được áp dụng
trong phạm vi cả nước, trong đó có tỉnh Quảng Ninh.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khởi nghiệp, Quảng
Ninh đã đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 phải có 25.000 doanh nghiệp.
Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã có gần 18.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt
động, như vậy để hoàn thành mục tiêu, trong thời gian tới phải thành lập thêm
3
dụng các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ Luật “Đăng ký doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp
Việt Nam – thực trạng và một vài kiến nghị”. Người thực hiện: Lê Thế Phúc.
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan Hương. Khoa Luật năm 2006. Luận
văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động đăng ký kinh doanh.
- Luận văn thạc sĩ Luật “Đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”. Người thực hiện: Đinh Thị Kiều Oanh.
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Như Phát. Học viện Khoa học xã hội
2018.
Những công trình nghiên cứu trên đây đã nêu và giải quyết những vấn
đề pháp lý về đăng ký doanh nghiệp nói chung trên toàn quốc và ở địa
phương cụ thể. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, tiếp cận từ
thực tiễn của Tỉnh Quảng Ninh. Do đó, đề tài nghiên cứu này hoàn toàn độc
lập và không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu đã được công bố trước đó.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xác định và làm rõ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt
Nam. Bên cạnh đó đánh giá thực trạng pháp luật, kiến nghị hoàn thiện quy
định pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt
Nam ở một địa phương cụ thể là tỉnh Quảng Ninh.
Đối tượng nghiên cứu là quy định pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký
thành lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể là Luật
4
thực tiễn tỉnh Quảng Ninh và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp
luật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
6. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phần kết luận thì kết cấu của luận văn
này gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đăng ký và trình tự, thủ tục
đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành
lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam từ thực tiễn áp
dụng tại Quảng Ninh.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo pháp
luật doanh nghiệp Việt Nam từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế, nội dung luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
1.1.Khái niệm về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đầu tư thành lập doanh nghiệp
đang là xu thế chung của các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Điều này xuất phát
từ tầm quan trọng của các doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ: doanh nghiệp là
đơn vị sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu chủ yếu của toàn xã hội.
Do vây, để hiểu được khái niệm doanh nghiệp một cách toàn diện và sâu sắc
chức kinh doanh. Người thành lập doanh nghiệp trước hết phải chuẩn bị trụ
sở, trang thiết bị phục vụ kinh doanh, đội ngũ nhân công, người quản lý…
Tại Việt Nam, khái niệm đăng ký doanh nghiệp được ghi nhận đầu tiên
trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 và tiếp tục được ghi nhận
trong Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, khái niệm đăng ký doanh
nghiệp cũng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Ở góc độ quản lý nhà nước, một trong những biện pháp quản lý nhà
nước về kinh tế đó là đăng ký thành lập doanh nghiệp. Đăng ký thành lập
doanh nghiệp là một trong những hoạt động quản lý đầu tiên của nhà nước đối
với doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để nhà nước có thể thực hiện các
hoạt động quản lý tiếp theo khi doanh nghiệp đi vào hoạt động. Thông qua
việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, cơ quan nhà nước sẽ tiếp nhận được các
8
thông tin cần thiết về một doanh nghiệp, từ đó việc quản lý các doanh nghiệp
cũng sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn.
Dưới góc độ kinh tế, đăng ký doanh nghiệp là hoạt động khởi tạo doanh
nghiệp của chủ đầu tư bao gồm các hoạt động đầu tiên tạo cơ sở vật chất cần
thiết để doanh nghiệp có thể tiến hành được hoạt động kinh doanh của mình
và các thủ tục pháp lý cần thiết để khai sinh hợp pháp ra doanh nghiệp đó.
Ở dưới góc độ pháp lý, đăng ký thành lập doanh nghiệp là một trong
những thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, mức độ cải cách hành chính và thái độ
của Nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh, mà thủ tục pháp lý này có tính
đơn giản hay phức tạp khác nhau. Nói cách khác, đăng ký thành lập doanh
nghiệp là thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định để thành lập hợp pháp
doanh nghiệp. Với tư cách là một chế định pháp lý, đăng ký thành lập doanh
nghiệp là tổng hợp các quy định do nhà nước ban hành, quản lý sự xuất hiện
thời điểm làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
Đối với chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp: sau khi được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp được thừa nhận về
mặt pháp lý, tức doanh nghiệp đã được xác lập tư cách chủ thể. Do đó, doanh
nghiệp có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh như đã đăng ký dưới sự
bảo hộ của pháp luật. Đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng chính là cơ sở
pháp lý chắc chắn nhất để một doanh nghiệp yêu cầu cơ quan Nhà nước bảo
vệ các quyền và lợi ích cũng như tài sản hợp pháp của mình, đồng thời bảo
đảm tính pháp lý đối với các hoạt động của mình trong quá trình tiến hành
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi hiện nay phần lớn các doanh
10
nghiệp không muốn thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan Nhà nước. Nhưng
khi các chủ doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp theo yêu cầu
của Nhà nước đồng nghĩa với việc giúp cho những dự án kinh doanh mà
doanh nghiệp đã hoạch định sẽ có tính khả thi cao hơn.
Về mặt xã hội: đăng ký thành lập doanh nghiệp còn giúp chủ thể doanh
nghiệp thể hiện sự công khai hóa trước công chúng, khẳng định được việc
thành lập của họ là có thực, tránh tình trạng lừa đảo, gây tổn hại tới lợi ích của
bên thứ ba. Thông qua việc giám sát quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của chủ thể từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc phá sản của nhà nước cũng
góp phần ngăn ngừa hoạt động kinh doanh trái pháp luật, bảo vệ quyền và lợi
ích cho các chủ thể khác trong trường hợp phá sản hoặc giải thể.
Đăng ký thành lập doanh nghiệp còn có ý nghĩa kinh tế, khi bước vào
hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vừa có tư cách là một thành viên trong
cơ cấu các thành phần kinh tế, các hoạt động của doanh nghiệp còn góp phần
tác động vào sự phát triển kinh tế của toàn xã hội.
Như vậy, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan
trọng không chỉ bảo đảm quyền lợi của bản thân các doanh nghiệp mà còn có
không được thành lập doanh nghiệp, đó là:
(1) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà
nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
mình. Thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là việc sử dụng thu nhập dưới
Điều 5 NĐ 78/2015/NĐ-CP, Điều 18 LDN 2014.
Khoản 1 điều 13 LDN 2005
3
Khoản 3 điều 13 LDN 2005
1
2
12
mọi hình thức có từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần vào ít
nhất một trong các mục đích sau đây: Chia dưới mọi hình thức cho một số
hoặc tất cả cán bộ, nhân viên của cơ quan, đơn vị; Bổ sung vào ngân sách
hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách
nhà nước; Lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan,
đơn vị 4. Việc pháp luật quy định các chủ thể này không được tham gia thành
lập và quản lý doanh nghiệp là nhằm đảm bảo công khai, minh bạch trong huy
động, sử dụng ngân sách nhà nước. Đồng thời cũng góp phần ngăn chặn các
hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước,
gây thiệt hại cho nguồn ngân sách nhà nước.
(2) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán
bộ, công chức, viên chức. Theo điều 20 Luật Cán bộ công chức năm 2008 có
quy định: “Ngoài những việc không được làm quy định tại Điều 18 và Điều
19 của Luật này, cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan
đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống
xã hội của quốc gia, được hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước. Do vậy,
việc tham gia thành lập doanh nghiệp có thể ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến
tư tưởng, hiệu quả công việc được giao nên pháp luật đã quy định cấm những
chủ thể này không được thành lập doanh nghiệp.
(4) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà
nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần
vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác. Đây là những người được Nhà
nước giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp nhà nước, những
doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Pháp luật quy định
cấm những chủ thể này nhằm tạo điều kiện để họ tập trung vào công việc
quản lý nhằm mang lại hiệu quả công việc cũng như để tránh sự tham nhũng,
quan liêu của những cán bộ lãnh đạo trong việc sử dụng nguồn vốn nhà nước.
14
(5) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân.
Nói đến tư cách chủ thể là nói đến khả năng mà chủ thể có thể tham gia vào
quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể độc lập, có khả năng tự mình
thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đã tham
gia.Một cá nhân có tư cách chủ thể đầy đủ, độc lập và hoàn thiện khi họ đã có
đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Năng lực pháp luật dân sự
là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự 5. Năng lực hành
vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện
quyền, nghĩa vụ dân sự 6. Năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực
tự chịu trách nhiệm hành vi dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự. Người chưa
thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì khả năng
thực hiện các nghĩa vụ dân sự của họ cũng sẽ bị hạn chế.
Tương tự, tổ chức không có tư cách pháp nhân, tức tổ chức không được
trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham
nhũng”.
Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những quy định về điều kiện chủ thể
được đăng ký doanh nghiệp rõ ràng hơn, cụ thể hơn, phạm vi những chủ thể
bị cấm đăng ký thành lập doanh nghiệp mở rộng hơn, giúp nâng cao chất
lượng doanh nghiệp ngay từ khâu thành lập ban đầu, giúp các nhà đầu tư tiến
hành thành lập doanh nghiệp một các đúng pháp luật.
1.2.2. Điều kiện về khách thể.
Một là, điều kiện về đặt tên doanh nghiệp
Đặt tên doanh nghiệp là vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt động kinh doanh sau này của doanh nghiệp. Tên doanh nghiệp là hình
ảnh thu hút khách hàng và là đặc trưng để nhận diện với các doanh nghiệp
khác. Tên doanh nghiệp còn được hiểu đó là tên gọi của Doanh nghiệp được
ghi trong Giấy phép đăng ký kinh doanh, nhằm chủ yếu để phân biệt các
16
doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Việc đặt tên doanh nghiệp phải
được thực hiện, tuân thủ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị
định số 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết vấn đề này.
Căn cứ theo quy định pháp luật, tên Tiếng Việt của doanh nghiệp bao
gồm hai thành tố 7, đó là:
(i) Tên loại hình doanh nghiệp. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn
phải viết là “công ty trách nhiệm hữu hạn” hoặc “công ty TNHH”; đối với
công ty cổ phần viết là “công ty cổ phần” hoặc “công ty CP”; công ty hợp
danh viết là “công ty hợp danh” hoặc “công ty HD”; doanh nghiệp tư nhân
viết là “doanh nghiệp TN” hoặc “DNTN”.
(ii) Tên riêng của doanh nghiệp. Tên riêng của Doanh nghiệp được viết
bằng các chữ cái trong bản chữ cái tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và
ký hiệu 8. Ngoài ra, chủ thể đăng ký doanh nghiệp còn có thể đặt tên doanh
được bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừ những trường hợp
được sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý
đó.
Hai là, điều kiện về trụ sở doanh nghiệp.
Trụ sở doanh nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp.
Trụ sở chính của doanh nghiệp phải được đặt trên lãnh thổ Việt Nam và có
địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố hoặc tên xã, phường, thị trấn,
huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử 11. So với Luật doanh nghiệp
2005, thì doanh nghiệp không phải thực hiện việc thông báo mở cửa tại trụ sở
chính với cơ quan đăng ký kinh doanh và quy định về trụ sở chính của doanh
nghiệp cũng thông thoáng hơn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh
nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
10
11
Điều 39, điều 42 LDN 2014.
Điều 43 LDN 2014.
18
Việc quy định rõ ràng như vậy sẽ giúp cơ quan đăng ký kinh doanh
quản lý được doanh nghiệp, tránh tình trạng doanh nghiệp đăng ký thành lập
ở địa chỉ đó nhưng không hoạt động hoặc hoạt động không đúng địa chỉ đăng
ký.
Ba là, điều kiện về vốn góp
Vốn của doanh nghiệp là cơ sở vật chất, tài chính quan trọng nhất, là
công cụ để chủ doanh nghiệp triển khai các hoạt động kinh doanh cụ thể của
doanh nghiệp. Vốn có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc các tài sản khác.
Luật chuyên ngành mà cụ thể là Luật Công chứng 2014. Theo đó, đối với văn
phòng Công chứng được sử dụng con dấu không có hình quốc huy, văn phòng
được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định thành lập, thủ tục, hồ sơ
xin khắc dấu, việc quản lý con dấu được thực hiện theo pháp luật về con
dấu15. Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp hiện nay quy định doanh nghiệp có
toàn quyền quyết định về nội dung, số lượng và hình thức con dấu. Đối chiếu
với Luật Công chứng, trường hợp văn phòng Công chứng được thành lập theo
hình thức công ty hợp danh thì rõ ràng phải chịu sự điều chỉnh của Luật
Doanh nghiệp nhưng quy định trên hoàn toàn không có sự thống nhất với
Luật Doanh nghiệp và dẫn chiếu tới Luật Doanh nghiệp.
1.2.3 Điều kiện liên quan đến giới hạn quyền tự do kinh doanh
Hiến pháp 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh
trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Để thực hiện và thể chế
hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh này, theo quy định tại khoản 1 điều 7 Luật
doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp có quyền “Tự do kinh doanh trong
những ngành, nghề mà pháp luật không cấm”. Các chủ thể kinh doanh hoàn
toàn có thể loại trừ các ngành, nghề pháp luật cấm để thực hiện quyền tự do
kinh doanh của mình đối với các ngành, nghề còn lại. Ngành, nghề kinh
doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi và mã hóa theo
14
15
Điều 44 LDN 2014
Khoản 5 điều 22 Luật Công chứng 2014
20