VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
______________________________
VŨ HỒNG NAM
HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ MUA BÁN HÀNG HOÁ
THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
______________________________
VŨ HỒNG NAM
HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ MUA BÁN HÀNG HOÁ
THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa ..................................24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
VỀ
HỢP
ĐỒNG
ĐẠI
LÝ
MUA
BÁN
HÀNG
HÓA ...................................................35 2.1. Các quy định về chủ thể tham gia quan
hệ hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa 35 2.2. Giao kết hợp đồng đại lý mua bán
hàng hóa......................................................38 2.3. Hình thức và nội dung của hợp
đồng đại lý mua bán hàng hóa.........................44 2.4. Hiệu lực pháp lý của hợp đồng
đại lý mua bán hàng hóa ..................................47 2.5. Quyền và nghĩa vụ của các
chủ
thể
tham gia
quan
bán
hàng
....................................................................................................................69
LUẬN ..............................................................................................................79
hóa
KẾT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.
Bộ luật Dân sự năm 2015
: BLDS 2015
2.
Bộ luật Thương mại
: BLTM
3.
Đại lý thương mại
trung gian thương mại càng được coi trọng, vì tính ưu việt là nhanh chóng, ít rủi
ro, chi phí thấp và dễ dàng gia nhập hoặc từ bỏ thị trường nên chúng hỗ trợ đắc lực
cho thương nhân. Là một loại hình trung gian thương mại, ĐLTM nói chung, đại lý
mua bán hàng hóa ở VN nói riêng, tuy mới hiện diện trên thị trường và mới
được ghi nhận trong pháp luật thương mại, nhưng ngày càng được các thương
nhân ưu tiên chọn lựa.
Nếu như ở VN, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hoạt động
thương mại chủ yếu do các cơ sở thương nghiệp nhà nước đảm nhận và được
thực hiện chủ yếu theo phương thức giao dịch trực tiếp, phương thức giao dịch qua
trung gian không được chú trọng. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cùng
với quá trình thương mại xuyên biên giới, hoạt động trung gian thương mại ngày
càng phát triển tăng nhanh. Trong đó, hoạt động đại lý mua bán hàng hóa có mặt ở
cả khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh, xuất hiện trên toàn quốc từ nông
thôn đến thành thị, từ trung du đến miền núi hoặc những khu vực xa xôi hẻo lánh.
Đại lý mua bán hàng hóa đa dạng về loại hình và tăng trưởng trong hầu hết mọi
lĩnh vực và ngành nghề, cả về doanh số bán hàng và phạm vi cung cấp.
Trên thế giới, pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐLTM đã xuất hiện từ rất sớm
và hiện nay đã đạt tới sự hoàn thiện đáng kể. Tiêu biểu như BLTM Pháp điều chỉnh
từ năm 1807 và BLTM Đức từ năm 1897. Pháp luật điều chỉnh ĐLTM ở nhiều
nước đều tập trung vào một số vấn đề cơ bản để bảo vệ quyền lợi của các bên tham
gia. Tuy nhiên, quan điểm và chính sách điều chỉnh hoạt động này ở mỗi nước
không giống nhau mà phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế, chính trị xã hội và
trình độ lập pháp của từng nước. Như vậy, pháp luật về ĐLTM, mà cụ thể là đại lý
mua bán hàng hóa, trên thế giới rất đa dạng và phong phú và chúng mang đậm bản
sắc của những thể chế kinh tế khác nhau.
1
Ở VN, hoạt động ĐLTM lần đầu được ghi nhận trong LTM 1997, từ điều 111
Ngoài các sách chuyên khảo, ở phạm vi và mức độ khác nhau có một số công
trình nghiên cứu của các nhà luật học bàn về các khía cạnh pháp luật liên quan,
trong đó đề cập HĐ đại lý mua bán hàng hóa, được công bố qua các đề tài nghiên
cứu, luận án tiến sĩ, tài liệu, báo cáo và tạp chí chuyên ngành như: đề tài nghiên cứu
khoa học của Bộ Thương mại “Cơ sở khoa học cho sự lựa chọn giải pháp và
bước đi nhằm đẩy mạnh tiến trình mở cửa về dịch vụ thương mại” (mã số 200178-059, do GS.TS Nguyễn Thị Mơ, Trường Đại học Ngoại thương làm Chủ
nhiệm đề tài; Luận án tiến sỹ luật học của TS Hồ Ngọc Hiển “Đại diện cho
thương nhân theo pháp luật thương mại VN hiện nay” (đã được bảo vệ tại Học
viện Khoa học xã hội năm 2012); Luận án tiến sỹ luật học của TS Nguyễn Thị
Vân Anh “Pháp luật điều chỉnh các hoạt động trung gian thương mại ở VN” (đã
được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2007); “Chế định đại diện
thương mại theo quy định của pháp luật VN, nhìn từ góc độ luật so sánh” của
TS. Ngô Huy Cương – Tạp chí nhà nước và pháp luật (2009); “Tìm hiểu khái
niệm ĐLTM” của Nguyễn Thị Vân Anh – Tạp chí Luật Học (2006)… Nhưng các
công trình nghiên cứu này không nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về
HĐ đại lý mua bán hàng hóa, nhất là các vấn đề đã phát sinh trong thực tiễn ký
kết, thực hiện các loại HĐ này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp lý về HĐ đại lý mua bán
hàng hóa, luận văn đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về HĐ đại lý mua bán
hàng hóa, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật điều chỉnh HĐ đại lý mua bán hàng hóa ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của HĐ đại lý mua bán hàng
hóa và pháp luật điều chỉnh loại HĐ này.
- Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ đại lý mua
bán hàng hóa, từ đó nếu được những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật.
tổng hợp, so sánh, đối chiếu; khảo sát thực tiễn; thống kê; hệ thống và một số
phương pháp bổ trợ khác… Đồng thời thực hiện việc kết hợp giữa các nhóm
phương pháp để nghiên cứu, giải quyết những yêu cầu mà đề tài đặt ra.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động đại lý và
HĐ đại lý mua bán hàng hóa, theo đó phân tích kỹ về khái niệm, đặc điểm pháp
lý, luận giải một cách có hệ thống và chiều sâu bản chất pháp lý của HĐ đại lý
mua bán hàng hóa, cho phép phân biệt với một số hoạt động thương mại cận kề
khác như: mua bán hàng hoá, uỷ thác mua bán hàng hóa, nhượng quyền thương
mại…
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã chỉ ra những bất cập trong cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với
quan hệ HĐ đại lý mua bán hàng hóa, làm rõ nguyên nhân, từ đó đề xuất các
giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật
đối với HĐ đại lý mua bán hàng hóa. Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận
văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo giúp cho việc sửa đổi, bổ sung và
hoàn thiện chế định pháp luật về HĐ đại lý mua bán hàng hóa ở VN hiện tại và
trong tương lai.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động đại lý mua bán hàng hóa và
pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa
Chương 2. Thực trạng pháp luật thương mại Việt Nam về hợp đồng đại lý mua
bán hàng hóa
nghiệp cần tìm cho mình sự trợ giúp của các nhà trung gian chuyên nghiệp. Vì vậy
thương nhân sử dụng nhiều phương thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đa
dạng, trong đó, phương thức giao dịch qua những nhà trung gian chuyên nghiệp
đang dần bộc lộ nhiều ưu điểm hơn so với phương thức giao dịch trực tiếp.
6
Đối với phương thức giao dịch trực tiếp người sở hữu hàng hóa và khách hàng
tự tìm kiếm cơ hội để giao kết và thực hiện HĐ. Chính vì thế, lợi thế của phương
thức giao dịch trực tiếp là hai bên trong quan hệ mua bán không phải không phải trả
chi phí trung gian; nắm bắt chính xác thông tin đối tác và sản phẩm. Tuy nhiên,
phương thức giao dịch trực tiếp cũng có những hạn chế, nhất là khi hoạt động mua
bán hàng hóa đã phát triển ở quy mô lớn. Theo đó, việc thương nhân và khách hàng
trực tiếp giao dịch với nhau sẽ làm phát sinh chi phí về thời gian và tiền bạc;
tiếp cận thị trường mới, thương nhân phải mất thời gian, chi phí đáng kể cho việc
xây dựng đội ngũ nhân viên và chi nhánh hoạt động.
Đối với phương thức giao dịch qua trung gian là phương thức mà ở đó, thương
nhận hoặc khách hàng thông quan một thương nhân khác, không phải là chủ sở hữu
đối với hàng hóa để giao kết, thực hiện HĐ. Thương nhân kinh doanh dịch vụ trung
gian thương mại là người có hiểu biết về thị trường, có mạng lưới khách hàng và
đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm. Bởi vậy, thông qua thương nhân trung gian, bên
sở hữu hàng hóa sẽ nhanh chóng tiếp cận thị trường mới. Xuất phát từ nhu cầu này
mà nhiều hoạt động trung gian thương mại đã ra đời như: đại diện thương mại, môi
giới, ủy thác và đại lý mua bán hàng hóa. Trong các dịch vụ trung gian thương mại
liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa thì đại lý mua bán hàng hóa là dịch vụ
phổ biến, được ưu chuộng trên thế giới cũng như ở VN.
Dưới phương diện ngôn ngữ, thuật ngữ “đại lý” là một từ Hán – Việt. Theo
đó, “đại” có nghĩa là thay thế, “lý” có nghĩa là quản lý, xử lý, làm. Đại lý là hoạt
động nhận ủy thác của người khác, thay mặt họ tiến hành hoạt động nhất định. Cũng
cầu hội nhập kinh tế quốc tế, với sự kế thừa và khắc phục những hạn chế của LTM
1997, Quốc hội khóa XI đã thông qua LTM 2005. Theo đó, LTM 2005 tạo điều kiện
thuận lợi cho các thương nhân thực hiện hoạt động kinh doanh. Các hoạt động
thương mại nói chung, trong đó có hoạt động đại lý mua bán hàng hóa được điều
chỉnh một các linh hoạt bởi một hành lang pháp lý mềm dẻo. LTM 2005 chỉ quy
định về ba loại hình thức ĐLTM là đại lý bao tiêu, đại lý độc quyền và tổng đại lý
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, ngoài ra, các bên tham gia quan hệ đại lý mua
bán hàng hóa được tự thỏa thuận các hình thức đại lý khác. Quy định này của LTM
2005 tạo điều kiện cho thương nhân tự do lựa chọn hình thức đại lý phù hợp với
nhu cầu kinh doanh của mình.
8
1.1.2 Phân biệt hoạt động đại lý thương mại với một số hoạt động trung
gian thương mại khác
Theo pháp luật Thương mại VN, thì ĐLTM là một trong bốn hình thức của
trung gian thương mại. Mang bản chất của trung gian thương mại nên ĐLTM với
các hình thức trung gian thương mại khác có rất nhiều điểm tương đồng mà có thể
nhận ra ngay ở khái niệm quy định tại khoản 11 điều 3 LTM 2005 “Các hoạt động
trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao
dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt
động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng
hoá và ĐLTM”.
Tuy nhiên, mỗi hình thức hoạt động trung gian thương mại đều mang những
đặc điểm riêng biệt, để phân loại các hình thức này chủ yếu dựa vào vai trò và tư
cách của bên trung gian trong quan hệ với bên thứ ba.
* Đại lý và đại diện
Trong quan hệ với bên thứ ba, bên đại diện nhân danh bên giao đại diện còn
ba để giao kết và thực hiện HĐ. Bên nhận ủy thác phải thực hiện theo chỉ dẫn của
bên ủy thác về đối tượng giao kết để phù hợp với những thỏa thuận trong HĐ.
Bốn là, quan hệ ủy thác thường mang tính vụ việc, đơn lẻ còn quan hệ đại
lý thường là quá trình hợp tác lâu dài giữa bên giao đại lý và bên đại lý. Cho
nên, trong quá trình giao kết bên đại lý có sự gắn bó phụ thuộc vào bên giao đại
lý, còn bên giao đại lý có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của
bên đại lý hơn so với quan hệ giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác.
1.1.3 Vai trò của hoạt động đại lý thương mại trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh được bảo
đảm khiến các thương nhân phải không ngừng tìm kiếm một phương thức linh
hoạt và ưu việt để tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh thu về nguồn lợi nhuận
tối đa. Tham gia vào quan hệ ĐLTM là một phương thức kinh doanh được nhiều
thương nhân ưa chuộng, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh
tế quốc tế. Vai trò của hoạt động ĐLTM trong trong nền kinh tế thị trường thể hiện
ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, ĐLTM góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa và từ đó
thúc đẩy kinh tế phát triển nói chung và ngành thương mại dịch vụ nói riêng.
10
Hoạt động ĐLTM phát triển, làm cho khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị
trường tăng lên, giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước cũng như các nước trong
khu vực và trên thế giới được đẩy mạnh. Thông qua các nhà ĐLTM mà nhà sản
xuất có thể thiết lập một hệ thống phân phối hàng hóa đa dạng và rộng lớn. Các nhà
đại lý giúp thương nhân nắm bắt những thông tin cần thiết về thị trường một cách
kịp thời. Từ đó, phân tích nhu cầu thị trường và hàng hóa để tiến hành các hoạt
động sản xuất sản phẩm, phân khúc thị trường, phân bổ sản phẩm một cách hiệu quả
cho thị trường cần thiết. Trên cơ sở đó, mà mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản
phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
- Bên ĐLTM thường có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp với nhiều kinh
nghiệm, am hiểu thị trường nên dễ dàng nắm được điểm mạnh, điểm yếu của sản
phẩm mà thương nhân giao đại lý cung cấp để giúp thương nhân nâng cao chất
lượng sản phẩm, phù hợp nhu cầu thị trường. Nhờ đó, tăng khả năng thu hút khách
hàng, đảm bảo lợi nhuận kinh doanh cho thương nhân giao đại lý.
- Thông qua bên ĐLTM, thương nhân tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc
cho việc tìm hiểu thị trường mới. Khi gia nhập thị trường mới, thương nhân thường
mất rất nhiều chi phí cho việc xây dựng cơ sở vật chất, thuê mướn lao động, quảng
cáo, tiếp thị sản phẩm…Nhờ có ĐLTM, chi phí mà thương nhân phải bỏ ra sẽ giảm
rất nhiều do bên ĐLTM là thương nhân đã có cơ sở vật chất lẫn lao động trên thị
trường. Nếu hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ do thương nhân cung
cấp không đạt hiệu quả như mong muốn, thương nhân cũng có thể nhanh chóng
thanh lý ĐLTM và rút khỏi thị trường mà không mất thời gian, chi phí cho việc
thanh lý tài sản, giải quyết quyền lợi cho người lao động…
- Nếu thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá qua ĐLTM, thay vì phải xây
dựng mạng lưới phân phối, thương nhân có điều kiện tập trung thực hiện sản xuất,
kinh doanh. Nhờ đó sẽ tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín của thương nhân
trên thị trường.
- Hạn chế rủi ro cho thương nhân khi gia nhập thị trường nước ngoài. Trong
xu thế toàn cầu hoá hiện nay, việc mua bán hàng hoá quốc tế đang ngày càng phát
triển nhưng việc thâm nhập thị trường của một quốc gia khác của thương nhân gặp
rất nhiều khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật và các yếu tố văn hoá.
ĐLTM rất được các thương nhân ưa chuộng khi gia nhập thị trường nước ngoài vì
sự am hiểu thị trường và pháp luật nước sở tại của bên ĐLTM giúp cho các thương
12
nhân hạn chế được nhiều rủi ro và giúp hàng hoá của họ dễ dàng tiếp cận, thích ứng
với khách hàng địa phương.
13
được sử dụng hàng hoá, dịch vụ chất lượng chính hãng với giá cả và hậu mãi tốt từ
các đại lý.
1.2. Bản chất pháp lí của hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa
Hoạt động đại lý mua bán hàng hóa được thực hiện trên cơ sở HĐ đại lý mua
bán hàng hóa, hay nói cách khác, HĐ đại lý mua bán hàng hóa là công cụ pháp lý để
thực hiện hoạt động đại lý mua bán hàng hóa. LTM 2005 không đưa ra khái niệm
đại lý mua bán hàng hóa, cũng như khái niệm HĐ đại lý mua bán hàng hóa mà chỉ
quy định khái niệm ĐLTM nói chung tại Điều 166: “ĐLTM là hoạt động thương
mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh
chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên
giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”. Theo quy định tại Điều 385 BLDS
2015 thì HĐ là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự. Từ các định nghĩa trên có thể đưa ra khái niệm HĐ đại lý
mua bán hàng hóa như sau:
“HĐ đại lý mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một
bên (bên đại lý) nhân danh chính mình để thực hiện việc mua, bán hàng hóa cho
bên kia (bên giao đại lý) để hưởng thù lao”
HĐ đại lý mua bán hàng hóa có các đặc điểm pháp lý sau:
Thứ nhất, Chủ thể của HĐ đại lý mua bán hàng hóa phải là các thương nhân.
Điều 167, LTM 2005 quy định: “Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng
hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua. Bên đại lý là
thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại
lý mua”. Như vậy, trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý và bên giao
đại lý đều phải là thương nhân. Bên giao đại lý là thương nhân chuyên kinh doanh
hoạt động mua, bán hàng hóa, giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua
nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng; nhận hàng từ khách hàng
để giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua bàng). Đặc điểm này giúp phân
biệt HĐ đại lý với HĐ ủy thác mua bán hàng hóa, trong đó, bên được ủy thác chủ
yếu thực hiện các hành vi pháp lý (bên được ủy thác chỉ sử dụng danh nghĩa của
15