Hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá theo pháp luật thương mại việt nam - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
______________________________

VŨ HỒNG NAM

HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ MUA BÁN HÀNG HOÁ
THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
______________________________

VŨ HỒNG NAM

HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ MUA BÁN HÀNG HOÁ
THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

2.5. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lý mua bán
hàng hóa ....................................................................................................................50
2.6. Chấm dứt hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa và hậu quả chấm dứt hợp đồng
đại lý mua bán hàng hóa............................................................................................60
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VỀ HĐ ĐẠI LÝ MUA BÁN HÀNG HÓA ........66
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa .....66
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thương mại về hợp đồng đại lý mua bán
hàng hóa ....................................................................................................................69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.

Bộ luật Dân sự năm 2015

: BLDS 2015

2.

Bộ luật Thương mại

: BLTM

3.

Đại lý thương mại


trung gian thương mại càng được coi trọng, vì tính ưu việt là nhanh chóng, ít rủi ro,
chi phí thấp và dễ dàng gia nhập hoặc từ bỏ thị trường nên chúng hỗ trợ đắc lực cho
thương nhân. Là một loại hình trung gian thương mại, ĐLTM nói chung, đại lý mua
bán hàng hóa ở VN nói riêng, tuy mới hiện diện trên thị trường và mới được ghi
nhận trong pháp luật thương mại, nhưng ngày càng được các thương nhân ưu tiên
chọn lựa.
Nếu như ở VN, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hoạt động
thương mại chủ yếu do các cơ sở thương nghiệp nhà nước đảm nhận và được thực
hiện chủ yếu theo phương thức giao dịch trực tiếp, phương thức giao dịch qua trung
gian không được chú trọng. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cùng với quá
trình thương mại xuyên biên giới, hoạt động trung gian thương mại ngày càng phát
triển tăng nhanh. Trong đó, hoạt động đại lý mua bán hàng hóa có mặt ở cả khu vực
quốc doanh và ngoài quốc doanh, xuất hiện trên toàn quốc từ nông thôn đến thành
thị, từ trung du đến miền núi hoặc những khu vực xa xôi hẻo lánh. Đại lý mua bán
hàng hóa đa dạng về loại hình và tăng trưởng trong hầu hết mọi lĩnh vực và ngành
nghề, cả về doanh số bán hàng và phạm vi cung cấp.
Trên thế giới, pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐLTM đã xuất hiện từ rất sớm
và hiện nay đã đạt tới sự hoàn thiện đáng kể. Tiêu biểu như BLTM Pháp điều chỉnh
từ năm 1807 và BLTM Đức từ năm 1897. Pháp luật điều chỉnh ĐLTM ở nhiều
nước đều tập trung vào một số vấn đề cơ bản để bảo vệ quyền lợi của các bên tham
gia. Tuy nhiên, quan điểm và chính sách điều chỉnh hoạt động này ở mỗi nước
không giống nhau mà phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế, chính trị xã hội và
trình độ lập pháp của từng nước. Như vậy, pháp luật về ĐLTM, mà cụ thể là đại lý
mua bán hàng hóa, trên thế giới rất đa dạng và phong phú và chúng mang đậm bản
sắc của những thể chế kinh tế khác nhau.

1


Ở VN, hoạt động ĐLTM lần đầu được ghi nhận trong LTM 1997, từ điều 111


Ngoài các sách chuyên khảo, ở phạm vi và mức độ khác nhau có một số công
trình nghiên cứu của các nhà luật học bàn về các khía cạnh pháp luật liên quan,
trong đó đề cập HĐ đại lý mua bán hàng hóa, được công bố qua các đề tài nghiên
cứu, luận án tiến sĩ, tài liệu, báo cáo và tạp chí chuyên ngành như: đề tài nghiên cứu
khoa học của Bộ Thương mại “Cơ sở khoa học cho sự lựa chọn giải pháp và bước
đi nhằm đẩy mạnh tiến trình mở cửa về dịch vụ thương mại” (mã số 2001-78-059,
do GS.TS Nguyễn Thị Mơ, Trường Đại học Ngoại thương làm Chủ nhiệm đề tài;
Luận án tiến sỹ luật học của TS Hồ Ngọc Hiển “Đại diện cho thương nhân theo
pháp luật thương mại VN hiện nay” (đã được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội
năm 2012); Luận án tiến sỹ luật học của TS Nguyễn Thị Vân Anh “Pháp luật điều
chỉnh các hoạt động trung gian thương mại ở VN” (đã được bảo vệ tại Học viện
Khoa học xã hội năm 2007); “Chế định đại diện thương mại theo quy định của
pháp luật VN, nhìn từ góc độ luật so sánh” của TS. Ngô Huy Cương – Tạp chí nhà
nước và pháp luật (2009); “Tìm hiểu khái niệm ĐLTM” của Nguyễn Thị Vân Anh
– Tạp chí Luật Học (2006)… Nhưng các công trình nghiên cứu này không nghiên
cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về HĐ đại lý mua bán hàng hóa, nhất là các
vấn đề đã phát sinh trong thực tiễn ký kết, thực hiện các loại HĐ này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp lý về HĐ đại lý mua bán
hàng hóa, luận văn đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về HĐ đại lý mua bán
hàng hóa, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật điều chỉnh HĐ đại lý mua bán hàng hóa ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của HĐ đại lý mua bán hàng
hóa và pháp luật điều chỉnh loại HĐ này.
- Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ đại lý mua
bán hàng hóa, từ đó nếu được những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật.

phương pháp bổ trợ khác… Đồng thời thực hiện việc kết hợp giữa các nhóm
phương pháp để nghiên cứu, giải quyết những yêu cầu mà đề tài đặt ra.

4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động đại lý và
HĐ đại lý mua bán hàng hóa, theo đó phân tích kỹ về khái niệm, đặc điểm pháp lý,
luận giải một cách có hệ thống và chiều sâu bản chất pháp lý của HĐ đại lý mua
bán hàng hóa, cho phép phân biệt với một số hoạt động thương mại cận kề khác
như: mua bán hàng hoá, uỷ thác mua bán hàng hóa, nhượng quyền thương mại…
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã chỉ ra những bất cập trong cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với
quan hệ HĐ đại lý mua bán hàng hóa, làm rõ nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải
pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với
HĐ đại lý mua bán hàng hóa. Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
sử dụng làm tư liệu tham khảo giúp cho việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chế
định pháp luật về HĐ đại lý mua bán hàng hóa ở VN hiện tại và trong tương lai.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động đại lý mua bán hàng hóa và
pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa
Chương 2. Thực trạng pháp luật thương mại Việt Nam về hợp đồng đại lý mua
bán hàng hóa
Chương 3. Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thương
mại về hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa



6


Đối với phương thức giao dịch trực tiếp người sở hữu hàng hóa và khách hàng
tự tìm kiếm cơ hội để giao kết và thực hiện HĐ. Chính vì thế, lợi thế của phương
thức giao dịch trực tiếp là hai bên trong quan hệ mua bán không phải không phải trả
chi phí trung gian; nắm bắt chính xác thông tin đối tác và sản phẩm. Tuy nhiên,
phương thức giao dịch trực tiếp cũng có những hạn chế, nhất là khi hoạt động mua
bán hàng hóa đã phát triển ở quy mô lớn. Theo đó, việc thương nhân và khách hàng
trực tiếp giao dịch với nhau sẽ làm phát sinh chi phí về thời gian và tiền bạc; tiếp
cận thị trường mới, thương nhân phải mất thời gian, chi phí đáng kể cho việc xây
dựng đội ngũ nhân viên và chi nhánh hoạt động.
Đối với phương thức giao dịch qua trung gian là phương thức mà ở đó, thương
nhận hoặc khách hàng thông quan một thương nhân khác, không phải là chủ sở hữu
đối với hàng hóa để giao kết, thực hiện HĐ. Thương nhân kinh doanh dịch vụ trung
gian thương mại là người có hiểu biết về thị trường, có mạng lưới khách hàng và
đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm. Bởi vậy, thông qua thương nhân trung gian, bên
sở hữu hàng hóa sẽ nhanh chóng tiếp cận thị trường mới. Xuất phát từ nhu cầu này
mà nhiều hoạt động trung gian thương mại đã ra đời như: đại diện thương mại, môi
giới, ủy thác và đại lý mua bán hàng hóa. Trong các dịch vụ trung gian thương mại
liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa thì đại lý mua bán hàng hóa là dịch vụ
phổ biến, được ưu chuộng trên thế giới cũng như ở VN.
Dưới phương diện ngôn ngữ, thuật ngữ “đại lý” là một từ Hán – Việt. Theo
đó, “đại” có nghĩa là thay thế, “lý” có nghĩa là quản lý, xử lý, làm. Đại lý là hoạt
động nhận ủy thác của người khác, thay mặt họ tiến hành hoạt động nhất định. Cũng
ghi nhận với nội dung tương tự trong tiếng Việt, thuật ngữ đại lý đa số được hiểu là
một người thay mặt người khác làm một việc [24, tr 186]. Chính vì vậy, thuật ngữ
đại lý và đại diện trong từ điển thường có chung nội hàm. Trong thực tế, có nhiều
loại hoạt động mà có một người được ủy quyền thay mặt người khác để hành động

định về ba loại hình thức ĐLTM là đại lý bao tiêu, đại lý độc quyền và tổng đại lý
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, ngoài ra, các bên tham gia quan hệ đại lý mua
bán hàng hóa được tự thỏa thuận các hình thức đại lý khác. Quy định này của LTM
2005 tạo điều kiện cho thương nhân tự do lựa chọn hình thức đại lý phù hợp với
nhu cầu kinh doanh của mình.

8


1.1.2 Phân biệt hoạt động đại lý thương mại với một số hoạt động trung
gian thương mại khác
Theo pháp luật Thương mại VN, thì ĐLTM là một trong bốn hình thức của
trung gian thương mại. Mang bản chất của trung gian thương mại nên ĐLTM với
các hình thức trung gian thương mại khác có rất nhiều điểm tương đồng mà có thể
nhận ra ngay ở khái niệm quy định tại khoản 11 điều 3 LTM 2005 “Các hoạt động
trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch
thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động
đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và
ĐLTM”.
Tuy nhiên, mỗi hình thức hoạt động trung gian thương mại đều mang những
đặc điểm riêng biệt, để phân loại các hình thức này chủ yếu dựa vào vai trò và tư
cách của bên trung gian trong quan hệ với bên thứ ba.
* Đại lý và đại diện
Trong quan hệ với bên thứ ba, bên đại diện nhân danh bên giao đại diện còn
bên đại lý nhân danh chính mình để giao kết và thực hiện HĐ với bên thứ ba. Bên
đại diện chỉ được thực hiện những hoạt động trong phạm vi được ủy quyền, đôi khi
bên thứ ba hiểu nhầm là mình trực tiếp quan hệ với bên đại diện. Còn bên đại lý là
chủ thể trực tiếp giao kết và thực hiện cũng như chịu trách nhiệm với bên thứ ba về
HĐ đã ký kết.
* Đại lý và môi giới

hơn so với quan hệ giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác.
1.1.3 Vai trò của hoạt động đại lý thương mại trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh được bảo
đảm khiến các thương nhân phải không ngừng tìm kiếm một phương thức linh hoạt
và ưu việt để tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh thu về nguồn lợi nhuận tối đa.
Tham gia vào quan hệ ĐLTM là một phương thức kinh doanh được nhiều thương
nhân ưa chuộng, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế. Vai trò của hoạt động ĐLTM trong trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở những
khía cạnh sau:
Thứ nhất, ĐLTM góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa và từ đó
thúc đẩy kinh tế phát triển nói chung và ngành thương mại dịch vụ nói riêng.

10


Hoạt động ĐLTM phát triển, làm cho khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị
trường tăng lên, giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước cũng như các nước trong
khu vực và trên thế giới được đẩy mạnh. Thông qua các nhà ĐLTM mà nhà sản
xuất có thể thiết lập một hệ thống phân phối hàng hóa đa dạng và rộng lớn. Các nhà
đại lý giúp thương nhân nắm bắt những thông tin cần thiết về thị trường một cách
kịp thời. Từ đó, phân tích nhu cầu thị trường và hàng hóa để tiến hành các hoạt
động sản xuất sản phẩm, phân khúc thị trường, phân bổ sản phẩm một cách hiệu quả
cho thị trường cần thiết. Trên cơ sở đó, mà mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản
phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hơn nữa, hoạt động ĐLTM thúc đẩy kinh tế phát triển nói chung và ngành
thương mại dịch vụ nói riêng. Thành tựu mà ĐLTM góp phần tăng các chỉ số của
ngành dịch vụ khẳng định vai trò vĩ mô này. Trong cả thời kỳ 1991 - 2009, có thể
nói dịch vụ là ngành có tốc độ tăng trưởng biến động khá lớn theo chu kì kinh tế.
Giá trị sản xuất của ngành tăng bình quân 12%/năm (1991 - 1995) và ổn định từ

rất nhiều do bên ĐLTM là thương nhân đã có cơ sở vật chất lẫn lao động trên thị
trường. Nếu hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ do thương nhân cung
cấp không đạt hiệu quả như mong muốn, thương nhân cũng có thể nhanh chóng
thanh lý ĐLTM và rút khỏi thị trường mà không mất thời gian, chi phí cho việc
thanh lý tài sản, giải quyết quyền lợi cho người lao động…
- Nếu thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá qua ĐLTM, thay vì phải xây
dựng mạng lưới phân phối, thương nhân có điều kiện tập trung thực hiện sản xuất,
kinh doanh. Nhờ đó sẽ tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín của thương nhân
trên thị trường.
- Hạn chế rủi ro cho thương nhân khi gia nhập thị trường nước ngoài. Trong
xu thế toàn cầu hoá hiện nay, việc mua bán hàng hoá quốc tế đang ngày càng phát
triển nhưng việc thâm nhập thị trường của một quốc gia khác của thương nhân gặp
rất nhiều khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật và các yếu tố văn hoá.
ĐLTM rất được các thương nhân ưa chuộng khi gia nhập thị trường nước ngoài vì
sự am hiểu thị trường và pháp luật nước sở tại của bên ĐLTM giúp cho các thương

12


nhân hạn chế được nhiều rủi ro và giúp hàng hoá của họ dễ dàng tiếp cận, thích ứng
với khách hàng địa phương.
Trong xu thế toàn cầu hóa thương mại, hoạt động thương mại dịch vụ phát
triển theo hệ thống trên toàn thế giới. Các thương nhân luôn tìm kiếm thị trường bên
ngoài lãnh thổ, việc mở rộng sản xuất kinh doanh, khẳng định thương hiệu của mình
không những chỉ ở thị trường trong nước mà vươn cả thị trường quốc tế. Khi xuất
khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, khi xây dựng thị trường ngoài lãnh thổ, các
thương nhân ngoại quốc sẽ gặp nhiều khó khăn và luôn phải đối mặt với những rủi
ro về các vấn đề lựa chọn đối tác, về thị trường, về tín dụng, về pháp luật nước sở
tại. Để khắc phục các rủi ro, khó khăn này, biệm pháp tối ưu mà các thương nhân
ngoại quốc lựa chọn đó là hợp tác với các trung gian thương mại của nước sở tại,

quy định khái niệm ĐLTM nói chung tại Điều 166: “ĐLTM là hoạt động thương
mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh
chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên
giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”. Theo quy định tại Điều 385 BLDS
2015 thì HĐ là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự. Từ các định nghĩa trên có thể đưa ra khái niệm HĐ đại lý
mua bán hàng hóa như sau:
“HĐ đại lý mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một
bên (bên đại lý) nhân danh chính mình để thực hiện việc mua, bán hàng hóa cho
bên kia (bên giao đại lý) để hưởng thù lao”
HĐ đại lý mua bán hàng hóa có các đặc điểm pháp lý sau:
Thứ nhất, Chủ thể của HĐ đại lý mua bán hàng hóa phải là các thương nhân.
Điều 167, LTM 2005 quy định: “Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng
hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua. Bên đại lý là thương
nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua”.
Như vậy, trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý và bên giao đại lý đều
phải là thương nhân. Bên giao đại lý là thương nhân chuyên kinh doanh hoạt động
mua, bán hàng hóa, giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý
mua. Bên đại lý cũng phải là thương nhân có ngành nghề kinh doanh phù hợp với
loại hàng hóa nhận đại lý

14


Thứ hai, bên đại lý phải dùng chính danh nghĩa của mình để thực hiện việc
mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý. Đây là một đặc điểm quan trọng của HĐ đại
lý, cho phép phân biệt HĐ đại lý với HĐ đại diện cho thương nhân.
Bên đại lý tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có
quyền tự do lựa chọn bên thứ ba để giao kết HĐ nhưng không vì lợi ích bản thân
mình mà vì lợi ích của bên giao đại lý. Mục đích mà họ nhằm tới là khoản thù lao

lý được hưởng chính là thù lao đại lý mà xét dưới khía cạnh pháp lý thì khoản tiền
này chính là thù lao dịch vụ mà bên giao đại lý phải thanh toán cho bên đại lý do sử
dụng dịch vụ mua bán hàng hóa của bên đại lý.
Những đặc điểm pháp lý được đề cập ở trên có thể cho phép phân biệt HĐ đại
lý mua bán hàng hóa với những HĐ có nội dung tiệm cận, đơn cử HĐ phân phối
hàng hóa. Trong thực tiễn kinh doanh, HĐ đại lý mua bán hàng hóa thường bị nhầm
lẫn với HĐ phân phối hàng hóa (distribution agreements). Rất nhiều trường hợp,
các bên ký kết HĐ với tên gọi là HĐ đại lý mua bán hàng hóa và tự nhận mình là
bên giao đại lý, bên đại lý trong quan hệ với khách hàng, nhưng toàn bộ nội dung lại
là một HĐ phân phối hàng hóa với các quyền và nghĩa vụ của bên giao hàng, bên
phân phối khác hẳn với quyền và nghĩa vụ của bên đại lý và bên giao đại lý. Sự
nhầm lẫn giữa HĐ đại lý mua bán hàng hóa với HĐ phân phối hàng hóa dẫn đến
nhiều vấn đề phức tạp xung quanh việc bảo vệ quyền lợi của chính các bên tham gia
giao kết HĐ. Ví dụ: Vụ việc các Nhà phân phối (Head) của Honda bán sản phẩm
của Honda với giá cao hơn giá công bố của Honda. Khi sản phẩm xe máy của
Honda được các Nhà phân phối đưa ra thị trường với mức giá cao hơn mức giá
Honda khuyến nghị, người tiêu dùng đã có phản ứng gay gắt. Vì người tiêu dùng tin
chắc các Head của Honda chính là các đại lý và họ có trách nhiệm phải bán theo
đúng giá mà hãng Honda công bố. Tuy nhiên, trong HĐ giữa Honda và Head, mặc
dù Honda có đưa ra mức giá nhưng họ quy định đó chỉ là mức giá khuyến nghị - các
Head có thể áp dụng hoặc không áp dụng. Điều đó dẫn tới, khi giải quyết đảm bảo
quyền lợi người tiêu dùng, các cơ quan chức năng đã khó khăn do HĐ giữa Head và
Honda không rõ ràng là HĐ đại lý mua bán hàng hóa hay HĐ phân phối [45]
Nhìn chung, HĐ phân phối hàng hóa được pháp luật rất nhiều quốc gia quy
định với ý nghĩa là một dạng HĐ mua sỉ, bán lẻ nhưng không được đề cập đến trong

16


LTM 2005. HĐ phân phối được hiểu là sự thỏa thuận giữa nhà sản xuất hoặc nhà



đúng giá mà bên giao đại lý đã ấn định. Nhưng trong quan hệ HĐ phân phối hàng
hóa, thì nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa không được quyền ấn định giá bán. Nhà
phân phối là chủ sở hữu hàng hóa, có quyền bán lại hàng hóa cho khách hàng với
mức giá không thuộc ý chí của nhà sản xuất.
Thứ ba, quan hệ phân phối hàng hóa với tính chất là một quan hệ “mua đứt,
bán đoạn”, nhà phân phối không có trách nhiệm phải tuân thủ những chỉ dẫn của
nhà cung cấp liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa cho khách hàng của mình.
Nhưng trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý có trách nhiệm phải tuân
thủ những chỉ dẫn của bên giao đại lý khi thực hiện hoạt động đại lý.
1.2.2 Một số nguyên tắc cơ bản của hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa
HĐ đại lý mua bán hàng hóa về bản chất cũng là một HĐ dân sự, chính vì vậy,
những nguyên tắc của HĐ dân sự cũng mang tính chỉ đạo đối với HĐ đại lý mua
bán hàng hóa.
Thứ nhất, Nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng, không vi phạm điều cấm
của luật, không vi phạm trật tự công cộng, không trái đạo đức xã hội
Nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng mà đặc biệt là nguyên tắc tự do HĐ
được coi là những tư tưởng chủ đạo có tính bắt buộc chung đối với các chủ thể tham
gia quan hệ HĐ. Mỗi nguyên tắc đều có giá trị riêng song chúng có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Ví dụ để xem xét, nhận định quan hệ HĐ có tuân thủ nguyên tắc
tự do HĐ hay không thì trước hết ta phải nhận biết trong quan hệ đó các chủ thể có
sự phân biệt đối xử, có sử dụng hành vi đe dọa khi giao kết HĐ hay không (nguyên
tắc bình đẳng). Hay khi tiến hành giao kết HĐ, các bên có thông báo cho nhau biết
về thực trạng của đối tượng giao kết hay không (nguyên tắc thiện chí, trung thực).
Ngược lại, để xác định nguyên tắc thiện chí trung thực thì ta phải xem xét khi tiến
hành giao kết HĐ, các bên có hoàn toàn tự do về ý chí và bày tỏ ý chí hay không.
Có thể nói nguyên tắc tự do HĐ là tiền đề cho việc thực hiện các nguyên tắc khác.
Nội dung của nhóm nguyên tắc đầu tiên này thể hiện ở HĐ đại lý mua bán hàng hóa
là sự tự do ý chí trong đàm phán HĐ, tự do trong lựa chọn đôi tác, tự do trong việc

Thứ tư, Nguyên tắc không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác
Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các lợi ích công cộng khi các bên
giao kết và thực hiện HĐ. HĐ là kết quả cuối cùng của tự do ý chí, tuy nhiên trong
mối liên hệ xã hội, không có hoạt động nào mà không có ảnh hưởng nhất định tới

19


các mối quan hệ xã hội khác theo các trực tiếp hoặc gián tiếp. Do đó, việc giao kết
HĐ và thực hiện HĐ của các bên không được xâm phạm đến lợi ích của cá nhân, lợi
ích của xã hội và lợi ích Nhà nước.
Thứ tư, Nguyên tắc tôn trọng tập quán trong lĩnh vực đại lý mua bán hàng hóa.
Tập quán là một loại quy phạm xã hội tồn tại song hành cùng nhiều loại quy
phạm xã hội khác như pháp luật, đạo đức, tín điều tôn giáo… nhằm điều chỉnh hành
vi ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội. Với tư cách là một loại quy phạm
xã hội, tập quán luôn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân
sự nói chung và quan hệ thương mại nói riêng. Trong LTM 2005 cũng đã ghi nhận
khái niệm về Tập quán thương mại. Theo đó, tập quán thương mại là thói quen
được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một
lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Như vậy, khi tham gia quan
hệ đại lý mua bán hàng hóa, là một hoạt động thương mại, các thương nhân không
chỉ dựa vào nguồn pháp luật thành văn, mà còn phải chú trọng đến các tập quán
thương mại để hoạt động đại lý mua bán hàng hóa phù hợp với yêu cầu ở từng khu
vực địa lý khác nhau.
1.2.3 Phân loại hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa
HĐ đại lý mua bán hàng hóa rất phong phú, đa dạng trong thực tế. Về mặt
khoa học, người ta có thể chia HĐ đại lý thành những loại khác nhau, dựa trên
những tiêu chí khác nhau như:
 Căn cứ vào nội dung HĐ mà bên giao đại lý giao cho bên đại lý thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status