Hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa - Pdf 27

Nội dung
Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005) không đưa ra khái niệm đại lý mua bán hàng
hóa, cũng như khái niệm Hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa mà chỉ quy định khái niệm đại lý
thương mại nói chung tại điều 166. Đồng thời theo quy định tại điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005
về hợp đồng thì có thể đưa ra khái niệm hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa : « Hợp đồng đại lý
mua bán hàng hóa (HĐ ĐLMBHH) là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một bên (bên đại lý)
nhân danh chính mình để thực hiện việc mua, bán hàng hóa cho bên kia (bên giao đại lý) để
hưởng thù lao ».
1. Thứ nhất, chủ thể của HĐ ĐLMBHH phải là các thương nhân.
Quan hệ đại lý mua bán hàng hóa được xây dựng trên cơ sở hợp đồng, giữa bên giao đại lý
và bên đại lý. Theo điều 167 LTM 2005, chủ thể hợp đồng đại lý, tức là bên giao đại lý và bên đại
lý phải là thương nhân. Có nghĩa, họ phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt
động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh
Bên giao đại lý là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài giao hàng hóa cho đại lý
bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua. Đối với hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa xuất
nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lý sau khi được Bộ Công
Thương cho phép. Luật quy định chủ thể của hợp đồng đại lý là thương nhân nhưng không quy
định cụ thể các thương nhân trên có đăng ký kinh doanh ngành nghề như thế nào. Để hợp đồng đại
lý mua bán hàng hóa có hiệu lực pháp luật thì các bên phải có năng lực chủ thể thực hiện các nghĩa
vụ phát sinh từ hợp đồng. Xuất phát từ đó, bên giao đại lý là nhà sản xuất hàng hóa có nghĩa vụ
giao hàng, tiền cho bên đại lý thì phải là thương nhân được sản xuất hàng hóa đó hoặc được kinh
doanh hàng hóa đó. Điều này ghi nhận trong GCN ĐKKD của thương nhân. Đây là một điều kiện
để hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Mặc dù bên giao đại lý không trực tiếp thực hiện việc mua, bán
hàng hóa. Nhưng họ chính là người sản xuất ra hàng hóa, hoặc bỏ tiền ra để mua hàng hóa hay nói
cách khác họ là người trực tiếp có nhu cầu, có lợi từ việc mua, bán hàng hóa này. Bên đại lý là
thương nhân nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua. Ngoài
thương nhân Việt Nam với nhau, thì thương nhân Việt Nam có thể ký hợp đồng đại lý với thương
nhân nước ngoài. Thương nhân nước ngoài có thể được thương nhân Việt Nam thuê làm đại lý bán
hàng tại nước ngoài các loại hàng hóa, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng
xuất khẩu. Đối với hàng hóa thuộc danh mục xuất khẩu, theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký
hợp đồng thuê đại lý bán hàng tại nước ngoài sau khi được Bộ Công Thương cho phép. Cũng

được chuyển giao từ người bán sang cho người mua, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trong quan hệ ĐLMBHH, bên đại lý chỉ giao hàng hóa cho bên đại lý bán hàng mà không chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên đại lý (bên giao đại lý chỉ chuyển quyền chiếm hữu hàng hóa cho
bên đại lý). Khi bên đại lý giao kết, thực hiện hợp đồng với khách hàng, quyền sở hữu hàng hóa sẽ
được chuyển từ bên giao đại lý sang cho khách hàng. Bên đại lý chỉ có vai trò của một người làm
dịch vụ trung gian nối liền sự liên kết của bên giao đại lý với khách hàng. Với tư cách là chủ sở
hữu của hàng hóa, bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt đối với hàng hóa của mình cũng như
phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng như gánh chịu mọi trách nhiệm với khách hàng về chất
lượng của hàng hóa (trừ trường hợp hàng hóa hư hỏng do lỗi của bên đại lý). Đồng thời bên giao
đại lý có quyền ấn định giá bán hàng hóa và bên đại lý bán hàng hóa có nghĩa vụ phải bán hàng
theo đúng giá mà bên giao đại lý đã ấn định.
4. Thứ tư, để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý phải thực hiện các hành vi thực tế
Bên đại lý nhận hàng hóa từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong trường hợp đại lý
bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng; nhận hàng từ khách hàng để
giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua hàng. Đặc điểm này giúp phân biệt hợp đồng đại
lý với hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, trong đó bên được ủy thác chủ yếu thực hiện các hành
vi pháp lý (bên được ủy thác chỉ sử dụng danh nghĩa của mình ký hợp đồng với khách hàng; còn
việc giao hàng, thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp giữa bên ủy thác với khác hàng). Bên
ĐLMBHH được tự do hơn bên nhận ủy thác trong việc lựa chọn bên thứ ba để giao kết và thực
hiện hợp đồng. Theo quy định tại điều 165 LTM 2005, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên
nhận ủy thác có nghĩa vụ: thực hiện mua bán hàng hóa theo thỏa thuận; thực hiện các chỉ dẫn của
bên ủy thác phù hợp với thỏa thuận. Việc bên nhận ủy thác thực hiện mua bán hàng hóa cho bên
ủy thác phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn của bên ủy thác. Nhưng bên đại lý trong quan hệ
ĐLMBHH được tự do trong việc tìm kiếm, giao kết hợp đồng với các bên thứ ba mà không chịu
sự tác động của bên giao đại lý. Quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa thường mang tính vụ việc, đơn
2
lẻ còn quan hệ ĐLMBHH thường là quá trình hợp tác lâu dài giữa bên đại lý và bên giao đại lý. Vì
vậy, bên đại lý có sự gắn bó với bên giao đại lý hơn so với quan hệ của bên ủy thác và bên nhận ủy
thác.
5. Thứ năm, hợp đồng đại lý là một dạng của hợp đồng dịch vụ

c. Chấm dứt hợp đồng
LTM 2005 không quy định một cách tổng quát về các trường hợp chấm dứt hợp đồng đại
lý mua bán hàng hóa. Song căn cứ vào quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự tại
BLDS 2005 thì hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa chấm dứt trong trường hợp các bên thỏa thuận
và trong những trường hợp: hợp đồng đã thực hiện xong, hết thời hạn hiệu lực; một trong các bên
tham gia hợp đồng chết, mất tích hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; mất tư cách thương
nhân; hợp đồng đại lý bị hủy bo, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
3
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status