VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
---------------------
NGUYỄN TẤN CHINH
XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
---------------------
NGUYỄN TẤN CHINH
XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN TẤT VIỄN
Tôi cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn
Tất Viễn. Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa được
sử dụng trong bất cứ một nghiên cứu nào khác.
Tôi cam đoan mọi tham khảo trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn
gốc, trích dẫn rõ ràng. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy định viết luận
văn, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày
tháng
năm 2019
Học viên
Nguyễn Tấn Chinh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÉT HỎI TẠI
PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM.........................................................................6
1.1. Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự và tính chất của việc xét hỏi ............6
1.1.1.Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự ....................................................6
1.1.2. Tính chất của việc xét hỏi ...........................................................................8
1.1.3. Vai trò của Tòa án trong việc xét hỏi .......................................................10
1.1.4. Các nguyên tắc của việc xét hỏi ...............................................................12
1.2. Mối tương quan giữa xét hỏi và các thủ tục tố tụng khác trong phiên tòa hình
sự sơ thẩm. .............................................................................................................17
1.2.1. Xét hỏi và thủ tục bắt đầu phiên tòa.........................................................17
ĐỊNH VỀ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM ..........................59
3.1. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về xét hỏi.......60
3.2. Tăng cường hướng dẫn thực hiện các quy định của BLTTHS về xét hỏi ......63
3.3. Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng xét hỏi của Thẩm
phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm tại phiên tòa. ........................................................66
3.4. Đề cao trách nhiệm và đảm bảo quyền của người bào chữa trong xét hỏi .....73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
HĐXX
Hội đồng xét xử
HTND
Hội thẩm nhân dân
KSV
Kiểm sát viên
TAND
còn chiếm tỷ lệ khá cao; Phương pháp điều tra, xét hỏi vẫn là phương pháp chủ yếu
được áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng v.v… Những vướng mắc, bất cập nêu
trên đã ảnh hưởng đến kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự là thủ tục trọng tâm, quan trọng của giai
đoạn xét xử vụ án hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có những thay đổi về quy
1
định thủ tục xét hỏi so với các Bộ luật tố tụng hình sự được ban hành trước đó,
nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề về pháp luật thực định và cả việc áp dụng pháp
luật trên thực tế. Đổi mới và hoàn thiện thủ tục xét hỏi không phải là vấn đề mới
được đặt ra, nhưng những gì đạt được hiện nay chưa đáp ứng được cao nhất yêu cầu
cải cách tư pháp, vẫn còn tồn tại nhiều tranh luận khi áp dụng các quy định của Bộ
luật TTHS trong xét xử. Do đó, trên cơ sở phân tích những mặt ưu điểm, tiến bộ của
quy định thủ tục xét hỏi hiện hành, bên cạnh đó cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập
cần bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng xét hỏi cũng là
một trong những giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, học viên chọn đề tài: “Xét hỏi tại phiên tòa sơ
thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa án nhân dân Quận
10, Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xét hỏi tại phiên tòa hình sự được một số tác giả đề cập trong các bài
viết đăng trên tạp chí chuyên ngành, các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, cụ thể
là:
- Luận văn thạc sỹ Luật học của Nguyễn Trương Tín (2007), Tranh tụng tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam,
bảo vệ tại Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
- Luận văn thạc sỹ Luật học của Võ Hồng Phúc (2016), Hoàn thiện thủ tục
xét hỏi tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp, bảo vệ tại trường Đại
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận và các quy định pháp luật TTHS về xét hỏi tại phiên tòa
sơ thẩm, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này từ thực tiễn TAND Quận 10,
TP. Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định pháp
luật về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
3
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật của thủ tục xét hỏi tại phiên
tòa sơ thẩm hình sự.
- Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định về xét hỏi trong hoạt động xét xử
sơ thẩm từ thực tiễn TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm thi hành đúng các quy định pháp luật về thủ
tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo pháp luật TTHS Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tòa án nhân dân Quận 10, TP Hồ Chí Minh
- Phạm vi thời gian: từ năm 2014 đến năm 2019
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được
vận dụng để nghiên cứu tính thống nhất của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, tính
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÉT HỎI TẠI PHIÊN
TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
1.1. Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự và tính chất của việc xét hỏi
1.1.1.Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự
Xét xử sơ thẩm được xem là việc xét xử lần thứ nhất do Tòa án có thẩm
quyền thực hiện theo quy định pháp luật. Đây là một giai đoạn của tố tụng hình sự,
sau khi đã kết thúc giai đoạn điều tra, truy tố. Xét xử được thực hiện bằng một
phiên tòa mà tại đó, các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày, tranh luận và cả các tình
tiết, nội dung chưa từng công bố hay thu thập trước đó được xem xét, đánh giá công
khai ngay tại phiên tòa để đi đến việc xác định tội phạm và hành vi phạm tội. Xét
xử sơ thẩm được xem là giai đoạn quan trọng nhất của việc thực hiện quyền tư
pháp, vì là xem xét vụ án về nội dung. Giai đoạn này có vai trò đặc biệt quan trọng,
tác động đến toàn bộ hệ thống tư pháp. Nếu xét xử tốt, khách quan, đúng pháp luật,
công lý được thực hiện ngay ở cấp sơ thẩm, quyền lợi của người dân sẽ được thực
hiện nhanh chóng, thuận lợi, hạn chế việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm. Việc nâng cao chất lượng xét xử ở cấp cơ sở là yêu cầu hàng đầu của cải cách
tư pháp, là khâu đột phá của cải cách tư pháp, có ý nghĩa quyết định đến các nội
dung khác của cải cách, bắt buộc phải thực hiện tại phiên tòa sơ thẩm có thể đánh
giá được sự công bằng, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội mà trong đó, Tòa
án ở giữa có quyền “cầm cân nảy mực”, những quyền và lợi ích hợp pháp mà bên
yếu thế hơn nhận được, quyền con người có được đề cao hay không, khả năng của
cơ quan tiến hành tố tụng và của những người tham gia tố tụng đến đâu trong việc
tìm ra sự thật khách quan để không bỏ lọt tội phạm và cũng không làm oan người
vô tội. Phiên tòa sơ thẩm không chỉ xem xét chứng cứ mà còn đòi hỏi các chủ thể
tham gia tố tụng phải đưa ra các lý lẽ thuyết phục, sắc bén, nhanh chóng phù hợp
bị can, bị cáo về một phía yếu hơn.
Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, theo quy định của Hiến pháp và Bộ luật tố tụng
hình sự, Hội đồng tham gia xét xử phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân và
Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử biểu
quyết theo đa số. Tuy nhiên, trên thực tế Hội thẩm chưa phát huy hết vai trò chủ
7
động, tích cực của mình trong quá trình xét xử, đặc biệt ở việc xét hỏi gần như phụ
thuộc hoàn toàn vào Thẩm phán, hỏi không làm rõ được nội dung vụ án, hỏi không
đúng trọng tâm hoặc không tham gia xét hỏi. Do đó trong công tác chuẩn bị xét xử
và điều hành diễn biến tại phiên tòa, trách nhiệm của Chủ tọa phiên tòa rất nặng nề.
Kết thúc phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng là lúc ban hành các phán quyết liên quan
đến hành vi phạm tội, tội phạm và hình phạt bị cáo phải chịu hay giải phóng bị can,
bị cáo khỏi sự trừng phạt của pháp luật.
Những yếu tố trên cho thấy, xét xử sơ thẩm hình sự có vị trí quan trọng trong
suốt quá trình tố tụng, khi lần đầu tiên các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ được
kiểm chứng công khai tại phiên tòa, các quan điểm chính thức của Viện kiểm sát
được đưa ra, những lập luận để bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo được trình bày.
Tòa án với tư cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp giữ vị trí trung tâm trong
việc điều hành và kiểm soát diễn biến phiên tòa, xem xét các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ, xem xét tội danh và điều khoản áp dụng, đồng thời giải quyết quyền lợi
của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị hại…trong cùng một vụ án. Quan
trọng nhất là kết thúc phiên tòa hình sự sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đưa ra quyết
định bị cáo có tội hay không có tội, tội phạm và hình phạt cụ thể dành cho bị cáo.
Cũng tại giai đoạn này, quyền kháng cáo của bị cáo được đặt ra. Trong khi ở cấp
phúc thẩm, bị cáo đã không còn quyền kháng cáo. Đề cao tính chất đặc biệt của xét
xử sơ thẩm hình sự, qua đó cho thấy việc xét hỏi theo đúng trình tự thủ tục, xét hỏi
có khoa học và bám sát nội dung vụ án là tiền đề chuẩn bị cho việc nghị án, tuyên
án chính xác, khách quan, đúng người đúng tội, hạn chế tối đa oan sai cũng như hạn
tiếp cho bị cáo và những người tham gia tố tụng; xem xét chứng cứ, kết luận điều
tra, bản cáo trạng; xem xét hiện trường xảy ra vụ án nhằm kiểm tra công khai tất cả
tình tiết liên quan đến vụ án tại phiên tòa” [16, tr.7]. Định nghĩa về xét hỏi mà tác
giả Võ Hồng Phúc đưa ra là tương đối toàn diện. Qua các ý kiến trên đây, có thể
thấy xét hỏi tại phiên tòa hình sự là một hoạt động tố tụng được thực hiện bởi những
chủ thể khác nhau như Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Người bào chữa,
Người giám định…việc xét hỏi phải theo một trình tự tố tụng chặt chẽ được quy
định tại BLTTHS. Mục đích của việc xét hỏi nhằm xem xét lại các chứng cứ được
thu thập tại giai đoạn điều tra, các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên tòa. Thông
9
qua việc xét hỏi, xác định được sự thật khách quan của vụ án, đi đến mục đích
chứng minh có hay không tội phạm và hành vi phạm tội.
Việc hỏi và trả lời phải được tiến hành công khai, trực tiếp bằng lời nói tại
phiên tòa và thủ tục hỏi phải diễn ra liên tục bắt đầu từ sau khi Kiểm sát viên đọc
bản cáo trạng và chấm dứt tại thời điểm Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần
hỏi và chuyển sang phần Kiểm sát viên trình bày luận tội và các chủ thể khác thực
hiện quyền bào chữa tại phiên tòa. Có thể nói, tại phiên tòa, thủ tục xét hỏi đóng vai
trò vô cùng quan trọng, là bước quyết định để làm sáng tỏ vụ án, xác định lại những
người, những tình tiết có liên quan hoặc không liên quan, qua đó có thể quyết định
có cần thu thập thêm chứng cứ hay không? Giai đoạn này làm tiền đề cho phần
tranh luận và tuyên án. Khi đã tuyên án, Chủ tọa phiên tòa không được quyền trở lại
phần xét hỏi. Do đó, toàn bộ hoạt động chứng minh tội phạm tại phiên tòa và xem
xét toàn diện các vật chứng, lời nói, lời bào chữa.... được diễn ra chủ yếu trong giai
đoạn xét hỏi.
Tại giai đoạn xét hỏi, các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện quyền hỏi theo
những mục đích khác nhau tùy vào vai trò của mình. Chủ tọa, Hội thẩm thực hiện
việc hỏi để tìm ra sự thật của vụ án, Kiểm sát viên hỏi để bảo vệ cho quan điểm
trong cáo trạng truy tố của mình, người bào chữa hỏi để bảo vệ quyền lợi cho thân
cứ, tài liệu tại phiên tòa để đi đến kết luận cuối cùng về tội phạm và hình phạt.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án tuy có chức năng, nhiệm vụ khác
nhau nhưng trong tố tụng hình sự, các nhiệm vụ chức năng của ba cơ quan được
quy định cũng đều nhằm mục đích đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động chứng
minh sự thật vụ án. Các cơ quan này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau
mà trong đó, Tòa án giữ vị trí trung tâm và là cơ quan sau cùng có thẩm quyền
quyết định, kết luận lại tất cả các hoạt động thu thập được ở giai đoạn trước đó,
quyết định tính hợp pháp và thuyết phục của chứng cứ do các cơ quan đưa ra và
tuyên án để khép lại vụ án hình sự.
Tố tụng hình sự nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam phân biệt các
chức năng của TTHS bao gồm: buộc tội, xét xử và bào chữa, trong đó Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm chứng minh bị can phạm tội, Tòa án là cơ quan
xét xử và người bào chữa cho bị can, bị cáo thực hiện chức năng bào chữa. Việc
11
phân định rõ chức năng nhằm mục đích tạo ra bình đẳng giữa các chủ thể tham gia
tố tụng, chủ yếu là bên buộc tội và bên gỡ tội. Sự bình đẳng ở đây không chỉ là địa
vị pháp lý, về quyền và nghĩa vụ của các bên mà thừa nhận khả năng ngang bằng
nhau của các bên trong hoạt động chứng minh, đưa ra yêu cầu và giải quyết yêu
cầu. Trong phạm vi xét hỏi, nếu bên buộc tội được sử dụng những quyền gì khi
tham gia tố tụng thì bên buộc tội cũng được áp dụng những quyền đó, ví dụ quyền
đặt câu hỏi, quyền xem xét chứng cứ. Còn về Tòa án, việc phân định chức năng
phải xác định Tòa án là cơ quan độc lập và khách quan trong xét xử.
Xét hỏi là thủ tục trọng tâm tại phiên tòa sơ thẩm, vì tính chất đặc biệt quan
trọng của nó nên BLTTHS năm 2015 đã hướng dẫn thủ tục này khá đầy đủ bằng
Mục V - Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cần vận dụng linh hoạt
các quy định trong quá trình xét hỏi để đạt được mục đích chứng minh tội phạm, đổi
mới việc xét hỏi kết hợp với tranh tụng theo xu hướng tiếp cận gần hơn với các nền
lập pháp tiên tiến trên thế giới, kết hợp giữa mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn và
đưa ra kết luận cuối cùng, tất cả phải được diễn ra tại phiên tòa, có sự tham gia của
các cơ quan khác ngoài Tòa án, của những người tham gia phiên tòa, tham gia tố
tụng như Luật sư, người làm chứng, bị hại, người nhà bị cáo và cả những người
tham dự phiên tòa mà không có bất kỳ sự liên quan nào đến vụ án. Nguyên tắc này
dần trở nên quan trọng trong thời điểm hiện nay khi nhu cầu bảo vệ cao hơn nữa
quyền con người, quyền và lợi ích cơ bản, hợp pháp của công dân đang được đặt ra
trong xã hội hiện đại.
Nguyên tắc xét hỏi công khai không được quy định thành điều luật cụ thể
nhưng trong các quy định về thủ tục tại phiên tòa thì được thể hiện ở nhiều nội dung
khác nhau như Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng, công bố lời khai trong giai
đoạn điều tra, truy tố. Những vấn đề khác như xem xét hiện trường, tài liệu đồ vật
không thể đưa đến phiên tòa, cả việc phải công khai các băng ghi âm, ghi hình khi
bị cáo cho rằng bị bức cung, nhục hình, các báo cáo tài liệu của cơ quan, tổ chức về
những tình tiết của vụ án trong trường hợp không có đại diện của cơ quan, tổ chức
tham dự thì Hội đồng xét xử công bố tài liệu, báo cáo đó tại phiên tòa cũng cho thấy
việc xét xử, xét hỏi công khai gần như được tiến hành và tuân thủ suốt quá trình tố
tụng của một vụ án hình sự. Nguyên tắc công khai phải được thực hiện nghiêm túc
13
theo trình tự pháp luật quy định là nền tảng cho tính thuyết phục của bản án, quyết
định của Tòa án và đi đến mục đích cuối cùng là chứng minh sự thật khách quan
của vụ án.
- Việc xét hỏi phải tiến hành trực tiếp, bằng lời nói: Cũng như nguyên tắc xét
hỏi công khai, nguyên tắc xét hỏi trực tiếp, bằng lời nói và liên tục không được quy
định bằng điều luật cụ thể mà xuất phát từ quy định tại Điều 250 BLTTHS 2015:
“Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục”. Nguyên tắc xét hỏi trực tiếp đặt ra yêu
cầu những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải có mặt tại
phiên tòa, trừ những trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép vắng mặt tại
phiên tòa mà không ảnh hưởng đến việc xét xử. Trên cơ sở đó, chủ thể thực hiện
Nam chỉ chính thức ghi nhận khi BLTTHS 2015 có hiệu lực thi hành. Tuy nhà lập
pháp không quy định cụ thể thành “Quyền im lặng của bị can, bị cáo” nhưng tinh
thần của quy định này được thể hiện gián tiếp tại Điều 60 – Điểm d, BLTTHS 2015
và Điều 61 – Điểm h: “… Không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình
hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Theo đó, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên
tòa, bị can, bị cáo có thể không khai báo hoặc không bắt buộc trả lời các câu hỏi của
Hội đồng xét xử và những người khác nếu nhận thấy có thể bất lợi cho mình. Trước
tình huống này, Hội đồng xét xử sẽ tiếp tục hỏi những người khác và xem xét
những vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án theo quy định tại Khoản 3 - Điều
309 BLTTHS 2015.
Hội đồng xét xử bắt buộc phải dùng lời nói trong toàn bộ quá trình xét xử,
nhưng bị can, bị cáo có quyền không trả lời là một quy định tiến bộ của pháp luật tố
tụng hình sự, đưa tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân tiến gần hơn
đến các nền pháp luật tiến bộ trên thế giới. Trước những cơ quan đại diện cho quyền
lực nhà nước, bị can, bị cáo là bên yếu thế hơn được bảo vệ, không phải đặt mình
vào tình thế bất lợi khi phải đưa ra câu trả lời để chống lại mình.
Nguyên tắc xét hỏi bằng lời nói được pháp luật dự liệu cả trong trường hợp
bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng không biết tiếng Việt, là người câm,
người điếc. Khi đó cần phải có người phiên dịch để dịch cho họ nghe, hiểu lời trình
bày, các câu hỏi, câu trả lời tại phiên tòa, nội dung quyết định của Hội đồng xét xử
và các vấn đề khác có liên quan đến họ.
15
Có thể nói xét xử bằng lời nói là cách thức, phương pháp của nguyên tắc xét
xử trực tiếp. Phiên tòa nơi thể hiện đầy đủ nhất ba chức năng cơ bản của Tố tụng
hình sự là chức năng xét xử, chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội. Và cả ba chức
năng này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, để có thể hiểu, lắng nghe ý kiến của các
bên, trình bày quan điểm đối đáp thì cả ba chức năng được các bên truyền đạt, thể
hiện ý chí bằng lời nói. Qua đó, tính công khai minh bạch của một phiên tòa được
ngay tại phiên tòa.
1.2. Mối tương quan giữa xét hỏi và các thủ tục tố tụng khác trong phiên
tòa hình sự sơ thẩm.
1.2.1. Xét hỏi và thủ tục bắt đầu phiên tòa
Thủ tục bắt đầu phiên tòa là thủ tục bắt buộc phải có đối với bất kỳ phiên tòa
sơ thẩm hình sự nào được mở. Thủ tục xét hỏi và thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy
định trong Mục V. Hai thủ tục này độc lập với nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ,
được tiến hành theo trình tự liên tiếp. Xét hỏi vừa tiếp nối thủ tục bắt đầu phiên tòa
nhưng cũng là tiền đề cho thủ tục nghị án và tuyên án. Trước khi tiến hành thủ tục
xét hỏi, phải đảm bảo đúng thành phần những người tham gia tố tụng và những
người tiến hành tố tụng, đây là yếu tố đảm bảo việc xét xử trước hết phải đúng
người, xác định những người có liên quan đến vụ án như nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người làm chứng… Tại thủ tục khai mạc phiên tòa, Thẩm phán – chủ tọa
phiên tòa phải đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, nội dung của Quyết định này ghi
nhận gần như đầy đủ thành phần tham gia xét xử và những người được triệu tập đến
phiên tòa, xét xử vụ án gì và tư cách tham gia tố tụng của từng người. Những người
có mặt, vắng mặt tại phiên tòa đều có những quyền, nghĩa vụ riêng biệt tùy thuộc
vào tư cách tham gia tố tụng. Thẩm phán phải phổ biến quyền và nghĩa vụ cho họ
biết. Thủ tục bắt đầu phiên tòa sẽ là cơ sở để Tòa án xét hỏi và nghe ý kiến trình bày
của những người có mặt tại phiên tòa ở các phần thủ tục tiếp theo.
Tại giai đoạn này, có thể phiên tòa sẽ được tiếp tục hoặc Hội đồng xét xử
quyết định hoãn nếu xét thấy không đảm bảo về thủ tục tố tụng và việc xét xử sẽ
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người vắng mặt và có mặt. Do
đó, khi phiên tòa phải hoãn thì cũng không thể tiến hành thủ tục xét hỏi. Thủ tục bắt
đầu phiên tòa có thể cung cấp thêm những người làm chứng hoặc những tài liệu, đồ
17
vật mới…mà trước đó không được đề cập trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Những người được kiểm tra căn cước trong giai đoạn này sẽ được xét hỏi hoặc được