Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM PHƯƠNG THẢO

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN
TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN
THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM PHƯƠNG THẢO

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN
TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN
THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Tập đoàn kinh tế

................................................
Tập đoàn
TCT
................................................
Tổng công ty



DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán so với vốn chủ sở hữu và
tổng tài sản........................................................................................Trang 31
Bảng 2.2. Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm so với vốn chủ sở hữu và tổng
tài sản.................................................................................................Trang 31
Bảng 2.3. Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực bất động sản so với vốn chủ sở hữu và
tổng tài sản........................................................................................Trang 32
Bảng 2.4. Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng so với vốn chủ sở hữu và tổng
tài sản.................................................................................................Trang 32
Bảng 2..5 Tỷ lệ % vốn Nhà nước nắm giữ tại 10 doanh nghiệp được SCIC
thoái vốn............................................................................................Trang 42


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, doanh nghiệp có vốn nhà nước trong đó có Công
ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu đã thực sự là một trong những
lực lượng đi đầu trong xây dựng và phát triển kinh tế, là công cụ quan trọng để
Nhà nước điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đảm
bảo an sinh xã hội.

tài sản nhà nước tại một số TĐKT nhà nước, Luận văn Thạc sĩ kinh doanh và
quản lý, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Trần Ngọc Dung (2011), Pháp luật Việt Nam về TĐ kinh tế nhà nước,
Luận văn Thạc sĩ Luật, Khoa Luật.
- Một số luận văn thạc sĩ luật học, khóa luận tốt nghiệp của Trường Đại
học Luật Hà nội và của các cơ sở khác.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình và
các tài liệu khác có liên quan đến pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công
ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài
ngành để từ đó rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý, sử
dụng vốn tại các DNNN nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát: Làm rõ được những vấn đề lý luận về quản lý, sử
dụng vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu và bản chất
của đầu tư vốn ngoài ngành cũng như vấn đề lý luận về thoái vốn ngoài ngành
của công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu. Thực trạng pháp luật
về quản lý, sử dụng vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở
hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành có những thuận lợi hay khó khăn, bất

2


cập nào. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng
vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn
thoái vốn ngoài ngành.
Để thực hiện mục tiêu tổng quát nói trên, luận văn có nhưng mục tiêu cụ
thể sau đây:
- Hiểu được ý nghĩa của thoái vốn ngoài ngành đối với công tác bảo toàn,
quản lý, sử dụng vốn Nhà nước ở Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ
sở hữu.

cáo, bài báo mà chưa thực sự chuyên sâu chi tiết ở một quy mô công trình luận
văn nghiên cứu. Chính vì thế học viên xin được lựa chọn đề tài này để nghiên
cứu ở cấp thạc sĩ luật học, hy vọng sau khi hoàn thành xong luận văn sẽ là tài
liệu tham khảo có tính mới và đóng góp một phần nhỏ trong lĩnh vực pháp lý.
8. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý, sử dụng vốn trong
công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu và thoái vốn ngoài ngành.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công ty
TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài
ngành.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong
Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua hoạt động thoái vốn
ngoài ngành.

4


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU VÀ
THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH
1.1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý, sử dụng vốn trong
Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
1.1.1.Khái niệm Quản lý, sử dụng vốn và Pháp luật về quản lý, sử
dụng vốn trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
Quản lý vốn, sử dụng vốn là những hoạt động rất quan trọng đối với bất
kỳ đơn vị kinh doanh nào bởi liên quan trực tiếp đến doanh thu, chi phí, lợi
nhuận của doanh nghiệp đặc biệt đối với các doanh nghiệp Nhà nước sử dụng

đánh giá chính xác về hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của dự án sản xuất, kinh
doanh.
Thứ ba, duy trì cơ cấu vốn hợp lý: cơ cấu vốn phù hợp là quyết định
quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được
mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh
nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc
đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp. Góp phần hỗ trợ xử lý kịp
thời giá trị tài sản tổn thất, các khoản nợ không có khả năng thu hồi và trích
lập, sử dụng các khoản dự phòng rủi ro theo quy định.
Thứ tư, đảm bảo đúng quy định của pháp luật: Việc quản lý, sử dụng vốn
trong doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật là trách nhiệm của
bất kỳ doanh nghiệp nào, đó có thể là pháp luật về kinh doanh, xây dựng, đấu
thầu, xử lý tài sản… và bản thân quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp,

6


chế độ quản lý sử dụng vốn, tài sản, phân phối lợi nhuận, chế độ quản lý tài
chính khác và chế độ kế toán theo quy định của pháp luật. Pháp luật quản lý,
sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận quan
trọng trong chính sách pháp luật tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệ
thống các chính sách tài chính nói chung. Chính sách quản lý vốn đúng đắn sẽ
kích thích sự chuyển dịch các luồng giá trị trong nền kinh tế quốc dân theo
hướng duy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng
tích tụ và tập trung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát
triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Nguồn thu
vào ngân sách nhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính
để tăng quy mô đầu tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh
nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế,

- Quản lý của doanh nghiệp đối với công ty con do doanh nghiệp nắm giữ
100% vốn điều lệ và phần vốn góp của doanh nghiệp tại công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn. Bao gồm: Quyết định thành lập; ban hành quy chế tài
chính; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các thành viên trong công ty con; phê
duyệt chiến lược, phương án kinh doanh, huy động vốn.
- Phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Bao gồm: Trích một
phần vào mục đích đầu tư phát triển ngành, nghề kinh doanh chính; trích lập bổ
sung vào các quỹ; phần còn lại do Nhà nước thu hồi để bảo đảm lợi ích Nhà
nước từ việc đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
Bất kỳ doanh nghiệp nào đều tồn tại và phát triển dựa trên nguồn lực của
doanh nghiệp đó. Trong khi nguồn lực luôn luôn hữu hạn đối với ngay cả một
quốc gia, vì vậy quản lý, sử dụng vốn ở công ty TNHH MTV chủ sở hữu Nhà

8


nước thực sự có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết phải được điều chỉnh bởi
một hệ thống các quy phạm pháp luật hết sức chắc chắn.
1.2. Đầu tư ngoài ngành và thoái vốn đầu tư ngoài ngành của Công ty
TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
1.2.1. Khái niệm và nguyên nhân đầu tư ngoài ngành
•Khái niệm
Ở hầu hết các quốc gia, để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, Nhà nước cần nắm
giữ và chi phối các lực lượng kinh tế chủ đạo ở một số ngành, lĩnh vực mũi
nhọn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh. Việt Nam cũng
không phải là ngoại lệ, với chiến lược nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với
các nước phát triển, Chính phủ đã xây dựng các TCT, TĐ làm trụ cột cho nền
kinh tế đất nước, mỗi một TCT hay TĐ Nhà nước sẽ đảm nhiệm vai trò phát
triển một lĩnh vực nhất định mà những lĩnh vực ấy là những ngành nghề kinh tế

- Pháp luật cũng thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
đối với các khoản đầu tư để xảy ra thua lỗ. chưa quy định rõ ai là người chịu
trách nhiệm với dự án đổ vỡ. Cụ thể là trách nhiệm của từng chủ thể như cơ
quan Nhà nước, Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, người đại diện chủ sở hữu, Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội
đồng thành viên, Giám đốc, Tổng Giám đốc, người đại diện chủ sở hữu. Tương
ứng với từng mức độ thiệt hại đầu tư ngoài ngành thì trách nhiệm đến đâu, hình
thức trách nhiệm pháp lý là gì, trách nhiệm hình sự, hành chính, kỷ luật nào áp
dụng trong trường hợp nào. Khi quy rõ trách nhiệm như vậy thì sẽ ngăn chặn
các trường hợp làm thất thoát vốn của Nhà nước, hạn chế những hành vi tiêu
cực.
- Pháp luật cũng trao quyền còn khá lớn cho Hội đồng thành viên trong
việc quyết định phương án huy động vốn, quyết định các dự án đầu tư, xây

10


dựng, mua, bán tài sản cố định và đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp với tỷ lệ
lên tới 50% vốn chủ sở hữu. Đây là một tỷ lệ còn tương đối cao chưa đảm bảo
an toàn vốn, lại không hạn chế số lượng dự án đầu tư có quy mô tương tự trong
một năm.
- Chậm xây dựng một hệ thống tiêu chí an toàn về mặt tài chính trong hoạt
động sản xuất- kinh doanh, đầu tư. Trước khi ban hành Nghị định số
09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009, không có văn bản pháp luật nào quy định về
hệ số an toàn vốn, tỷ lệ vốn và điều kiện được đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro
như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, quỹ đầu tư. Hệ quả là nhiều TĐ,
TCT đi vay hoặc chiếm dụng vốn quá lớn so với vốn chủ sở hữu để đầu tư quá
nhiều vào các lĩnh vực rủi ro, trong khi đang rất thiếu vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh chính, vừa làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước
vừa làm giảm năng lực thực hiện nhiệm vụ chính được Nhà nước giao.

 Nguyên nhân thứ ba là do nhu cầu huy động vốn của các công ty TNHH
MTV do NN làm chủ sở hữu. Năm 2005 là năm phát triển mạnh mẽ của các
lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm, đây là
những nơi huy động vốn rất hiệu quả vào thời kỳ đó nhất là đối với những
DNNN đang rất cần vốn để thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội
ở những lĩnh vực mũi nhọn của đất nước. Chẳng hạn, việc tham gia vào lĩnh
vực ngân hàng giúp các DNNN giải quyết những khó khăn về huy động vốn
đầu tư cho ngành nghề kinh doanh chính. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân là
các DNNN vì muốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, hướng tới mục đích
dần dần chi phối, chiếm lĩnh những lĩnh vực này đã tiến hành đẩy mạnh đầu tư
ngoài ngành.

12


1.2.2. Những vấn đề lý luận về thoái vốn ngoài ngành của Công ty
TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
Khi công ty đầu tư ngoài ngành, ít nhiều bản thân doanh nghiệp đánh mất
đi lợi thế cạnh tranh do sự phân tán các nguồn lực và thiếu kinh nghiệm của bộ
máy quản lý. Bên cạnh đó, việc kiểm soát vốn vào hoạt động đa lĩnh vực là rất
phức tạp, nếu làm không tốt thì sự thất thoát, lãng phí và khả năng đổ vỡ tài
chính là những nguy cơ có thực. Đặc biệt, cần thấy rằng, với khả năng tài chính
có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc doanh nghiệp phải tìm đến
nguồn vốn mới với những điều khoản thương mại không có lợi, dễ phát sinh nợ
và lãng phí nguồn vốn ngân sách Nhà nước và tín dụng đầu tư. Tỷ lệ vốn bị
chiếm dụng cao, nợ quá hạn và khó đòi phát sinh lớn. Đầu tư ngoài ngành
chệch hướng không hiệu quả làm xấu đi hình ảnh của doanh nghiệp, thậm chí
đánh mất thương hiệu và gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho doanh
nghiệp. Do vậy về nguyên tắc không được đầu tư ra ngoài ngành. Nhưng thực
tế các công ty đã đầu tư ngoài ngành nên cần phải tiến hành thoái vốn.

ngành nghề chính.
- Thứ ba, thoái vốn đầu tư ngoài ngành để hạn chế độ rủi ro tài chính,
ngăn chặn sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống kinh tế, tài chính, ngân hàng,
chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản. Một số TĐ, TCT đã tham gia đầu tư vào
ngân hàng thương mại cổ phần, Công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng
khoán, Công ty bảo hiểm, bất động sản. Đây là những lĩnh vực nhạy cảm chứa
nhiều rủi ro. Do vậy, rút những phần vốn đầu tư ở những nơi thua lỗ càng sớm
càng hạn chế khả năng rủi ro tài chính.
- Thứ tư, thoái vốn góp phần làm tăng hiệu quả trong quản lý, sử dụng
vốn đầu tư của các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu. Thông
qua thoái vốn ngoài ngành, những thông tin, thông số về chất lượng dự án đầu

14


tư, nợ phải trả, nợ phải thu, nợ phải thu khó đòi sẽ được công khai minh bạch,
tình hình kinh doanh lợi nhuận sẽ được đánh giá, nhờ đó mới nắm được tình sử
dụng vốn đầu tư để có những biện pháp quản lý, sử dụng vốn sao cho phù hợp.
Các văn bản pháp luật, quy định hành chính liên quan đến quản lý sử dụng vốn
đầu tư của Nhà nước ở các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
cũng được rà soát, phân loại lại: Những quy định nào không phù hợp thì loại
bỏ, thay thế, những quy định nào cần phải sửa đổi, bổ sung. Tất cả sẽ được
nhìn nhận một cách tổng quát, khách quan thông qua thoái vốn ngoài ngành.
- Thứ năm, thoái vốn để tiến tới cổ phần hóa DNNN, thu hẹp những
ngành, lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc các lĩnh
vực mà các thành phần kinh tế khác không thể tham gia. Từ đó, đa dạng hóa
các hình thức sở hữu, , tiến tới chuyển dịch các nguồn lực kinh tế từ khu vực
công cho khu vực tư nhân, thu gọn lại khu vực kinh tế Nhà nước, buộc các cơ
quan Nhà nước, cán bộ Nhà nước rút lui dần ra khỏi lĩnh vực kinh doanh để tập
trung cho chức năng điều tiết chính sách. Thực tế chứng minh khu vực kinh tế

thẩm quyền, đầu tư không đúng với yêu cầu của chủ sở hữu Nhà nước, đầu tư
không vì lợi ích chung của công ty mà do xuất phát từ lợi ích cá nhân.
- Thứ hai, trong trường hợp đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro như ngân
hàng, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán đã khiến thất thoát, lãng
phí vốn, tài sản Nhà nước thì phải thoái vốn.
- Thứ ba, trong trường hợp thực hiện theo Đề án tái cơ cấu, cổ phần hóa
đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chí, danh mục phân loại
DNNN theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
• Các hình thức thoái vốn ngoài ngành
- Thứ nhất, thoái vốn đầu tư dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách kế
toán của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi khoản dự phòng tổn thất các khoản đầu

16


tư tài chính theo quy định và trên cơ sở phương án thoái vốn đã được chủ sở
hữu xem xét, quyết định.
Điều 4 Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg quy định về thoái vốn dưới mệnh
giá:
1. Tại các Công ty cổ phần đã niêm yết tại sở giao dịch chứng
khoán hoặc đăng ký giao dịch trên sàn giao dịch Upcom, nếu giá cổ phiếu niêm
yết thấp hơn mệnh giá thì:
a) Việc chuyển nhượng cổ phần thực hiện theo phương thức
giao dịch khớp lệnh hoặc thỏa thuận theo quy định của pháp luật về chứng
khoán. Trường hợp thực hiện giao dịch thỏa thuận qua sở giao dịch chứng
khoán hoặc sàn giao dịch Upcom thì giá thỏa thuận phải nằm trong biên độ giá
giao dịch của mã chứng khoán tại ngày chuyển nhượng.
b) Sau khi tổ chức bán theo quy định tại Điểm a Khoản này mà
không bán hết số cổ phần chào bán trong thời gian 03 tháng kể từ ngày đầu tiên
thực hiện giao dịch khớp lệnh hoặc thỏa thuận thì đại diện chủ sở hữu vốn nhà

- Đối với Công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu, Hội
đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty quyết định thực hiện bán thỏa thuận sau
khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh.
- Giá bán thỏa thuận không thấp hơn giá đấu thành công thấp
nhất trong trường hợp không bán hết số cổ phần chào bán hoặc theo giá không
thấp hơn giá khởi điểm bán đấu giá lần đầu trong trường hợp bán đấu giá
không thành công. Trường hợp các nhà đầu tư tham gia đấu giá lần đầu nhưng
bỏ cọc toàn bộ thì mức giá thỏa thuận không thấp hơn giá đấu giá thấp nhất.
Trường hợp các nhà đầu tư cam kết mua cùng khối lượng cổ phần và trả mức
giá thỏa thuận bằng nhau thì thực hiện chào bán cạnh tranh theo hình thức bỏ

18


phiếu kín giữa các nhà đầu tư với giá khởi điểm là mức giá trả bằng nhau và
nhà đầu tư trả giá cao hơn là nhà đầu tư được mua thỏa thuận.
- Thời gian hoàn tất việc bán thỏa thuận tối đa là 60 ngày kể từ
ngày kết thúc thời hạn nộp tiền mua cổ phần của cuộc đấu giá lần đầu.
c) Trường hợp bán thỏa thuận theo quy định tại Điểm b Khoản
này nhưng không thành công hoặc không bán hết số cổ phần chào bán thì đại
diện chủ sở hữu vốn nhà nước xem xét, quyết định điều chỉnh giá để bán đấu
giá tiếp lần 2. Mức giá khởi điểm để bán đấu giá lần 2 được thực hiện như sau:
- Trường hợp không có nhà đầu tư mua thỏa thuận theo quy
định tại Điểm b Khoản này thì:
+ Giảm tối đa không quá 10% so với giá khởi điểm của cuộc
đấu giá lần đầu đối với trường hợp đấu giá không thành công;
+ Giảm tối đa không quá 10% so với giá đấu thành công thấp
nhất của cuộc đấu giá lần đầu đối với trường hợp không bán hết số cổ phần
chào bán qua đấu giá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status