GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP hợp ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN sử DỤNG đất THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY từ THỰC TIỄN xét xử tại tòa án NHÂN dân HUYỆN ỨNG hòa, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TƯỞNG THỊ THANH THẢO

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGA

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TƯỞNG THỊ THANH THẢO


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

CNQSDĐ

: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất

HĐTP

: Hội đồng Thẩm phán

LĐĐ

: Luật Đất đai

QSDĐ

: Quyền sử dụng đất

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao


pháp luật đất đai, đặc biệt là giải quyết những tranh chấp về hợp đồng
CNQSDĐ cơ bản chưa được thống nhất, hiệu quả, thậm chí để lại nhiều hệ lụy,
bất ổn trong xã hội.
Thực tiễn cho thấy, cần nhiều hơn vai trò của TAND trong giải quyết các
tranh chấp về hợp đồng CNQSDĐ trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và
hoàn thiện thể chế của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng đặc biệt là các chủ trương về đổi mới công tác tư
pháp, hoạt động xét xử nói chung và hoạt động giải quyết các vụ án tranh chấp
dân sự trong đó có các vụ án về tranh chấp đất đai đã đạt được nhiều thành tựu.
Những kết quả trong hoạt động xét xử về tranh chấp đất đai của TAND đã góp
phần bảo đảm quyền tự do, dân chủ và quyền sở hữu về tài sản của công dân; giữ
vững trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được thời gian qua, việc xét xử các tranh chấp
hợp đồng CNQSDĐ vẫn còn xảy ra sai sót, xét xử thiếu thống nhất hoặc lúng
túng khi vận dụng pháp luật nên dẫn đến giải quyết các vụ án gặp nhiều khó
khăn, kéo dài, tình hình khởi kiện đối với tranh chấp về đất đai mà đặc biệt là
1


tranh chấp về hợp đồng CNQSDĐ ngày càng gia tăng với tính chất và mức độ
khá phức tạp. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ tại TAND
huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội đối với các dạng tranh chấp này ngày càng
gia tăng và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các dạng tranh chấp đất đai. Tổng kết đánh
giá công tác xét xử cho thấy, dù rằng công tác xét xử đã đạt được một số thành
tựu nhất định, song cũng còn những hạn chế: số lượng án bị hủy, sửa vẫn còn
xảy ra. Xảy ra tình trạng nêu trên, bởi việc thực thi công tác còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án bởi những
nguyên nhân như: Quy định pháp luật vẫn còn bộc lộ nhiều vấn bất cập, các quy
định có sự chồng chéo, trái ngược nhau, gây nhiều lúng túng trong việc áp dụng

năm 2005”, Tạp chí Tòa án nhân dân (23), tr. 29-37 và (24), tr. 16-27.
- Tưởng Duy Lượng (2007),“Hòa giải ở cơ sở khi có tranh chấp quyền sử
dụng đất”, Tạp chí Tòa án nhân dân (4), tr. 23-26.
- Luận án tiến sĩ luật học của Mai Thị Tú Oanh (2013), Viện Nhà nước và
pháp luật “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng toà án ở
nước ta”
Ngoài ra, trên các tạp chí khác như: Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật cũng có những bài viết nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật trong giải
quyết tranh chấp đất đai. Chính vì lẽ đó, nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam từ
thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội” có ý
nghĩa lý luận và mang tính thiết thực. Việc lựa chọn đề tài nêu trên để làm luận
văn thạc s luật học không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công
bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Phân tích, đánh giá pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, đồng
thời nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này trên cơ sở
đánh giá thực trạng thi hành. Trên cơ sở đó sẽ đề xuất định hướng và một số giải
pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
thông qua hoạt động xét xử tại TAND huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:


- Làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận về tranh chấp hợp đồng

CNQSDĐ và pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ thông qua
hoạt động xét xử tại Tòa án.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng



xét xử nói chung và trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai tại Toà án nhân
dân huyện Ứng Hoà nói riêng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Kết
quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác
nghiên cứu giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh tư pháp
nói riêng.
- Luận văn đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà; đề xuất giải pháp
phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật của Toà
án nhân dân huyện Ứng Hoà trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm 3 chương chính và phần Mở đầu, Kết luận, Danh
mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tranh chấp chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết
tranh chấp tại Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội;
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp tại huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN
NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN
NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ

chung và hợp đồng về QSDĐ nói riêng. Theo đó, sự tuân thủ các quy định của
BLDS 2015 chủ yếu ở các nội dung cơ bản như: hình thức pháp lý của giao dịch
CNQSDĐ; nội dung và các điều khoản cơ bản trong hợp đồng CNQSDĐ; các
nguyên tắc và yêu cầu đối với các chủ thể khi ký kết hợp đồng CNQSDĐ. Sự
tuân thủ các quy định của LĐĐ 2013 chủ yếu ở các nội dung cơ bản như điều
kiện về chủ thể chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng; đối tượng (QSDĐ) được
phép chuyển nhượng; điều kiện có hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng và các
yêu cầu cụ thể về quy trình, thủ tục và quyền, nghĩa vụ của các bên khi ký kết và
thực hiện giao dịch CNQSDĐ. Mọi trường hợp ký kết hợp đồng CNQSDĐ
không thực hiện theo tôn chỉ mục đích nêu trên đều có nguy cơ dẫn đến các
tranh chấp, bất đồng giữa các bên; hơn thế nữa, hợp đồng có thể bị tuyên là vô
hiệu hoặc bị hủy bỏ bởi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Với những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm hợp đồng CNQSDĐ như
sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng là sự thỏa thuận giữa các bên
tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai; theo đó, bên chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có nghĩa vụ chuyển giao đất và quyền sử dụng của
mình cho bên nhận chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả
cho người chuyển nhượng một khoản tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng
đất.
sau:

Với khái niệm này, có thể rút ra một số đặc điểm về hợp đồng CNQSDĐ
như
Thứ nhất, đối với từng loại đất khác nhau thì điều kiện chuyển nhượng là

khác nhau.
Thứ hai, trong quan hệ hợp đồng chuyển nhượng, bên CNQSDĐ chấm dứt


quan hệ QSDĐ, vì vậy phải được đặt ra trong một số hoàn cảnh, lý do nhất định

về quyền quản lý, khai thác, sử dụng và định đoạt đối với một QSDĐ hợp pháp
của mình cho bên nhận chuyển nhượng và nhận lại một khoản lợi ích vật chất
nhất định mà mình mong muốn để đáp ứng nhu cầu của mình, còn bên nhận
chuyển nhượng sẽ được xác lập QSDĐ hợp pháp mảnh đất đó cho mình và được
quyền thực hiện các ý đồ đầu tư, khai thác theo mục đích đã được xác định nhằm
thu lợi nhuận.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ
Theo từ điển pháp luật Việt Pháp: “Litige” - vụ tranh chấp được giải thích
như sau: Người ta nói tới vụ tranh chấp khi mà một người không được hưởng
một quyền hay lợi ích hợp pháp của mình bằng thỏa thuận và dự định đưa vụ
việc ra Tòa án phân xử[30]. Dù không định nghĩa trực tiếp tranh chấp về hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, song với tính chất phát sinh của tranh
chấp này như đã nêu trên, cùng với định nghĩa về tranh chấp đất đai nói riêng, có
thể hiểu tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ như sau:
Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự bất đồng,
mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
* Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất: Các chủ thể tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý và sử dụng đất,
không có quyền sở hữu đối với đất đai. QSDĐ của các chủ thể được xác lập dựa
trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước công
nhận QSDĐ. Trên cơ sở quyền sử dụng đất được Nhà nước trao cho, người sử
dụng đất bên cạnh quyền được tiến hành khai thác các giá trị và khả năng sinh
lời của đất, họ còn được thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ, trong đó có
quyền CNQSDĐ. Vì vậy, khi tranh chấp về hợp đồng CNQSDĐ xảy ra thì chủ
thể tranh chấp trong trường hợp này chỉ là chủ thể có QSDĐ chứ không phải là
chủ thể có quyền sở hữu đất đai.
Thứ hai: Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng
và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất đai theo quy định của pháp




chiếm, chiếm dụng trái phép….Ở đây chỉ đề cập phân loại tranh chấp hợp đồng
CNQSDĐ, bao gồm các loại sau đây:
- Tranh chấp dạng hợp đồng vô hiệu do giấy tờ chuyển nhượng không
thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất mà có giá trị quan trọng tạo lập nơi ở
cho các hộ gia đình, trong quá trình phát triển của xã hội đất này ngày càng có
giá và được mọi người đặc biệt quan tâm. Cũng chính vì vậy, các giao dịch
chuyển nhượng cũng được coi trọng. Ít thấy trường hợp hai bên chuyển nhượng
chỉ đưa cho nhau giấy tờ đất mà hầu hết đều bằng văn bản viết, trước đây thông
thường viết tay giao kèo gọi là văn tự chuyển nhượng đất, sau khi thanh toán
nhận đất việc đó coi là xong, sẽ không xảy ra tranh chấp gì nếu hai hoặc một bên
không lật lọng. Sau này, do đất đai là tài sản quý giá, là tài sản rất lớn của cá
nhân, hộ gia đình. Mặt khác, nhận thức xã hội được nâng lên thì hai bên chuyển
nhượng cho nhau thông qua một hợp đồng. Người ta rất ngại đến cơ quan công
chứng, chứng thực vì vừa mất tiền lệ phí, vừa mất thời gian chưa kể đến việc cơ
quan công chứng đòi hỏi đủ các loại giấy tờ. Người thừa kế, nhân chứng….và “
Người mua - người bán” trong cùng làng nước cũng không muốn để mọi người
biết mang tiếng là bán đất của ông cha để làm ăn, chơi. Ngoài ra còn có động cơ
khác là giấu diếm những người được hưởng thừa kế, hoặc có quyền lợi liên
quan. Rõ ràng là một khi hợp đồng CNQSDĐ có sự công chứng, chứng thực của
cơ quan, văn phòng có thẩm quyền sẽ hạn chế phát sinh tranh chấp. Cá biệt hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp, có công chứng hoặc chứng
thực nhưng sau đó phát sinh tranh chấp vì bên chuyển nhượng và bên nhận
chuyển nhượng không thực hiện đúng hoặc chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ được
nêu trong hợp đồng như không giao đất, không nhận đất vì khi giao dịch giá đất
thấp hoặc cao do biến động của thị trường hai bên đều thấy mình bị “hớ” hoặc
đến hạn không thanh toán, chây ì, giao không đầy đủ diện tích vị trí như đã nêu
trong hợp đồng.

đến tranh chấp rất phức tạp.


- Tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ giả tạo nhằm che dấu một quan hệ hợp
đồng khác như hợp đồng cho vay nặng lãi. Sau đó khi không thực hiện được hợp
đồng cho vay nặng lãi họ khởi kiện hợp đồng CNQSDĐ.
- Hợp đồng CNQSDĐ do một hoặc hai cá nhân trong hộ gia đình tự ý giao
dịch mà không được sự đồng ý của các thành viên khác trong hộ gia đình, người
mua không biết, hợp đồng vẫn được công chứng, chứng thực vì vậy cũng xảy ra
tranh chấp và dẫn đến hợp đồng vô hiệu.
1.1.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ
Trong những năm gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa
không ít những cán bộ sai phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đến lĩnh
vực quản lý đất đai, thậm chí có kẻ phạt đi tù vì chiếm “đất” gây thiệt hại cho
Nhà nước rất lớn.
Đất đai đang nóng lên không chỉ do sự biến đổi khí hậu mà chính con người
đã tạo nên không khí ấy.
Thật khó tách bạch nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp đất đai nói chung
với tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ ở bối cảnh như hiện nay. Vì vậy, nguyên
nhân phát sinh tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ nằm chung trong tổng thể nguyên
nhân tranh chấp đất đai. Có thể nhận diện ở một số biểu hiện cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các văn bản pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan
thiếu tính thống nhất, chưa hợp lý và nhiều quy định còn xa rời thực tế.
Do vậy để quản lý tốt đất đai Nhà nước phải ban hành Luật, Nghị quyết và
các văn bản hướng dẫn”.
Đạo luật gốc quy định như vậy song thật đáng tiếc bên cạnh những ưu điểm
đã đạt được thì còn nhiều tồn tại. Việc ban hành pháp luật, các Nghị quyết, các
văn bản hướng dẫn về đất đai chưa kịp thời, chưa phù hợp với thực tế xã hội, ít
mang tính ổn định, thay đổi nhiều, tính thống nhất chưa cao. Đường lối chính
sách về quản lý đất đai còn có nhiều điểm bất cập, chung chung, không rõ ràng,

mua hết ao, đất canh tác…bán dần cho người có nhu cầu sử dụng, không có giấy
tờ hợp pháp cũng dẫn đến tranh chấp. Phải nói nghiêm túc là tình trạng phổ biến
trên cả nước, ở đâu đó dân êm không khiếu kiện thì cũng qua, nơi nào khiếu kiện
cơ quan có thẩm quyền làm ra thì cũng không được.


Ở mức độ cao hơn, cũng không ít cơ quan cấp trên như UBND, huyện uỷ
cũng thống nhất chủ trương (vì đây là tập thể) tự ý có Nghị quyết rõ ràng, đàng
hoàng thu hồi đất chia chác cho các các cán bộ không hề báo cáo và chưa
được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền. Đối với cấp cao hơn hiện tượng
tham nhũng vẫn xảy ra và chính tham nhũng này mới nghiêm trọng và gây
thiệt hại lớn cho Nhà nước. Lợi dụng chủ trương kêu gọi đầu tư kể cả các doanh
nghiệp nước ngoài có đất đai đẹp người ta gọi là bờ xôi, ruộng mật bị chuyển
nhượng đã đành cả công viên, nhà triển lãm, nhà văn hoá, sân vận
động….đều có thể chuyển nhượng được.
- Do lịch sử để lại.
Đất đai có từ ngàn đời nay, do chiến tranh…..nên có sự biến động, xáo trộn
rất lớn về đất đai. Đây là trở ngại lớn lại thêm việc quản lý đất đai của Nhà nước
chưa đáp ứng được yêu cầu nên thực sự việc giải quyết tranh chấp đất đai đã là
khó khăn càng khó khăn hơn (công tác quy hoạch, công tác lưu trữ hồ sơ….).
Mặt khác, đất đai có hạn thậm chí còn mất đi do thiên nhiên xói mòn,
sụt lở….dân số ngày càng tăng do nhu cầu về chỗ ở, sản xuất ngày càng lớn.
Trình độ dân trí ngày càng nâng cao nên xuất hiện nhiều chuyển nhượng
QSDĐ và cũng vì thế mà việc kiện tranh chấp đất đai phát sinh nhiều hơn so với
trước đây.
- Thị trường tín dụng hoạt động còn nhiều dấu hiệu sai phạm.
Một nguyên nhân ảnh hưởng đến nợ xấu của nhiều ngân hàng là do cá
nhân buôn bán bất động sản để có tền họ phải thế chấp tài sản chủ yếu là
nhà cửa, một số cán bộ có trách nhiệm của ngân hàng định giá nhà được thế
chấp rất cao để tạo điều kiện cho người vay được vay vì vay càng nhiều thì phần

đảm bảo trật tự chính trị - xã hội, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo được
lòng tin trong nhân dân với chính sách của Đảng và Nhà nước.
Như vậy, rõ ràng việc giải quyết tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ là sự cần
thiết khách quan.
Thứ ba, xuất phát từ chính vai trò của tòa án trong hoạt động giải quyết
tranh chấp.
Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định:


“1) TAND là cơ quan xét xử của Nước Cộng hoà Xã hội CNVN, thực hiện


quyền
pháp.



2) TAND gồm TAND Tối cao và các Toà án khác do luật định.
3) TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân”.
Về thẩm quyền giải quyết của Toà án
Điều 136 Luật Đất đai 2003 quy định các tranh chấp về đất đai trước khi
đưa đến Toà án phải qua UBND cấp xã hoà giải. Toà án chỉ thụ lý những tranh
chấp về đất đai thuộc thẩm quyền của TAND mà một bên không nhất trí với sự
hoà giải của UBND cấp xã, phường. Theo công văn số: 116/2004/KHXX ngày
22/07/2004 của TANDTC thì các tranh chấp về đất đai chưa qua UBND cấp xã
hoà giải nếu đương sự khởi kiện tại Toà án thì Toà án trả lại đơn và hướng dẫn
cho đương sự thực hiện theo quy định tài Điều 135, 136 Luật Đất đai 2003.
Tranh chấp Hợp đồng CNQSDĐ là vụ án dân sự, là tranh chấp về quyền và

CNQSDĐ mà các quan hệ hợp đồng được điều chỉnh phù hợp với lợi ích của
Nhà nước, lợi ích xã hội và của người sử dụng đất, mang lại sự ổn định trong nội
bộ nhân dân, làm cho những quy định của pháp luật đất đai được thực hiện
trong cuộc sống.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ thực chất là cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền dùng những cách thức phù hợp trên cơ sở pháp luật nhằm giải
quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, phục hồi các quyền
và lợi ích hợp pháp cho bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải
gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra, góp phần tăng cường pháp
chế trong lĩnh vực chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hay nói cách khác,
Giải quyết tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ là việc vận dụng đúng đắn các quy
định của pháp luật vào giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật hợp đồng CNQSDĐ nhằm bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng.
Trong quan hệ pháp luật hợp đồng CNQSDĐ, việc giải quyết các tranh chấp
là một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai
trò trong đời sống xã hội. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết tranh
chấp hợp đồng CNQSDĐ, góp phần thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư
pháp, phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status